Phan Châu Trinh (tên gọi này còn được viết là Phan Chu Trinh trong một số tài liệu và tên đường, hiệu Tây Hồ) sinh năm 1872 tại làng Tây Lộc, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Ông đỗ Phó bảng năm 1901 và từng ra làm quan trong một thời gian ngắn, nhưng sớm nhận thấy con đường khoa cử và quan trường cũ không còn phù hợp để cứu nước trước bối cảnh Việt Nam đã trở thành thuộc địa của Pháp, nên đã từ quan để chuyên tâm hoạt động duy tân, cải cách xã hội.
Khác với Phan Bội Châu, người chủ trương bạo động vũ trang và cầu viện ngoại bang, Phan Châu Trinh đi theo một hướng đấu tranh ôn hòa hơn, đề cao cải cách nội tại và tự lực tự cường của dân tộc. Ông đúc kết chủ trương của mình thành phương châm nổi tiếng "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh", nhấn mạnh việc trước hết phải mở mang tri thức cho dân chúng, khơi dậy ý chí, tinh thần tự chủ của người dân, rồi từng bước cải thiện đời sống kinh tế làm nền tảng lâu dài cho công cuộc giành lại độc lập.
Tư tưởng đó được thể hiện rõ trong phong trào Duy Tân mà ông là một trong những người khởi xướng chủ chốt tại Trung Kỳ, khuyến khích việc học chữ Quốc ngữ, mở mang thực nghiệp, buôn bán, cải cách phong tục và lối sống theo hướng văn minh, tiến bộ. Năm 1907, ông cùng các sĩ phu duy tân khác tham gia sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục tại Hà Nội, một ngôi trường tồn tại trong thời gian ngắn nhưng có ảnh hưởng lớn đến việc truyền bá tư tưởng duy tân, chữ Quốc ngữ và kiến thức mới cho tầng lớp trí thức, thanh niên đương thời.
Năm 1908, phong trào chống sưu thuế nổ ra rầm rộ ở nhiều tỉnh Trung Kỳ, chịu ảnh hưởng gián tiếp từ tinh thần duy tân mà ông cổ xúy. Chính quyền thực dân Pháp quy kết ông có liên can đến các cuộc biến động này và bắt giam, sau đó đày ông ra Côn Đảo (Poulo Condore) trong một thời gian.
Sau khi được trả tự do vào khoảng năm 1911, Phan Châu Trinh sang Pháp và sinh sống tại đó trong nhiều năm, tiếp tục theo đuổi con đường vận động cải cách ôn hòa, đồng thời có dịp tiếp xúc, trao đổi với một số nhà yêu nước Việt Nam khác đang hoạt động tại Pháp thời kỳ này. Đến năm 1925, ông trở về nước sau nhiều năm xa xứ.
Phan Châu Trinh qua đời tại Sài Gòn năm 1926, không lâu sau khi về nước. Đám tang của ông đã trở thành một sự kiện đặc biệt, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân từ Nam chí Bắc tham gia để tang, được xem như một cuộc biểu dương tinh thần yêu nước rộng khắp cả nước vào thời điểm đó. Tên tuổi ông gắn liền với khuynh hướng duy tân, cải cách ôn hòa trong lịch sử cận đại Việt Nam, và đã được đặt cho nhiều đường phố lớn trên cả nước, trong đó có một tuyến phố quan trọng tại Hà Nội.