Trần Hưng Đạo, tên thật là Trần Quốc Tuấn, là danh tướng kiệt xuất nhất trong lịch sử quân sự Việt Nam, người đã ba lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh bại các cuộc xâm lược của đế quốc Nguyên Mông vào các năm 1258, 1285 và 1288. Ông sinh khoảng năm 1228, là con trai của An Sinh vương Trần Liễu, gọi vua Trần Thái Tông bằng chú ruột, thuộc dòng dõi hoàng tộc nhà Trần.
Thuở thiếu thời, giữa gia tộc Trần Quốc Tuấn từng tồn tại mối hiềm khích sâu sắc xuất phát từ những tranh chấp trong nội bộ hoàng tộc thời kỳ đầu lập triều Trần. Tuy nhiên, vượt lên trên những ân oán riêng, Trần Quốc Tuấn đã đặt vận mệnh quốc gia lên trên hết, trở thành một bậc tôi trung, hết lòng phò vua giúp nước, được các vua Trần hết mực tin tưởng và trọng dụng.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất năm 1258, khi còn trẻ tuổi, Trần Quốc Tuấn đã tham gia chỉ huy quân đội dưới sự lãnh đạo của vua Trần Thái Tông, góp phần vào chiến thắng chung của quân dân Đại Việt trước đội quân xâm lược hùng mạnh của Mông Cổ.
Đến cuộc kháng chiến lần thứ hai năm 1285, trước nguy cơ xâm lược quy mô lớn của nhà Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy, Trần Quốc Tuấn được vua Trần Nhân Tông phong làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn bộ quân đội cả nước. Ông đã viết bài "Hịch tướng sĩ" nổi tiếng để khích lệ tinh thần chiến đấu của tướng sĩ, đồng thời tổ chức chiến lược "vườn không nhà trống", rút lui bảo toàn lực lượng rồi phản công đúng thời cơ, cùng các tướng lĩnh như Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão giành hàng loạt chiến thắng vang dội tại Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, buộc quân Nguyên phải tháo chạy khỏi Thăng Long.
Năm 1288, quân Nguyên Mông một lần nữa ồ ạt tiến đánh Đại Việt. Trần Hưng Đạo tiếp tục được giao trọng trách cầm quân, và đã lập nên chiến công lừng lẫy nhất trong sự nghiệp của mình tại trận Bạch Đằng: kế thừa và vận dụng sáng tạo kế sách đóng cọc nhọn dưới lòng sông từng được Ngô Quyền sử dụng để đánh bại quân Nam Hán năm 938, ông cho bố trí trận địa cọc ngầm lợi dụng thủy triều, nhử đoàn thuyền chiến của Ô Mã Nhi vào trận địa rồi đồng loạt phản công, tiêu diệt và bắt sống phần lớn lực lượng thủy quân Nguyên Mông, chấm dứt hoàn toàn ý đồ xâm lược của đế quốc này đối với Đại Việt.
Bên cạnh tài cầm quân, Trần Hưng Đạo còn là một nhà lý luận quân sự xuất sắc, để lại các trước tác có giá trị như "Binh thư yếu lược" và "Vạn Kiếp tông bí truyền thư" (nay phần lớn đã thất truyền), đúc kết những kinh nghiệm và tư tưởng quân sự sâu sắc. Ông mất năm 1300 tại Vạn Kiếp (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương).
Sau khi mất, Trần Hưng Đạo được nhân dân tôn kính suy tôn là "Đức Thánh Trần", được lập đền thờ ở nhiều nơi trên cả nước, tiêu biểu là đền Kiếp Bạc, trở thành một trong những vị anh hùng dân tộc được tôn sùng và ngưỡng mộ bậc nhất trong tâm thức người Việt qua nhiều thế hệ.