PDA

View Full Version : Hình ảnh và tiểu sử của tướng lĩnh Quân Đội Nhân Dân Việt Nam


huy thanh
28-06-2009, 08:51 PM
Thiếu tướng Nguyễn Sơn, lưỡng quốc tướng quân

http://img372.imageshack.us/img372/9019/hongthuy2gx6.th.jpg

Thiếu tướng Nguyễn Sơn (01/10/1908 – 21/10/1956), nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu IV Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Giám đốc Toà soạn “Tạp chí Huấn luyện Chiến đấu” Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Huân Chương Quân công hạng Nhì của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Huân chương Bát nhất hạng Nhất, Huân chương Giải phóng hạng Nhất của Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Có tượng đồng đặt tại Bảo tàng Quân đội Nhân dân Việt Nam (Hà Nội) và Bảo tàng Giải phóng quân Trung Quốc (Bắc Kinh). Tại Thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có 2 con đường mang tên ông - Nguyễn Sơn - viên tướng duy nhất trên thế giới làm tướng của 2 quốc gia.

“Tướng quân Hồng Thủy đã có cống hiến rất lớn cho cách mạng Trung Quốc..., nhân dân Trung Hoa mãi mãi nhớ ơn” (Nguyên Soái Bành Đức Hoài, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc)

“- Không chính xác! Đồng chí ấy tham gia quân đội từ thời kỳ Hoàng Phố, liệu xem có thể sửa thành tướng cấp quân đoàn chính quy được không?...” (Chủ tịch Mao Trạch Đông)

“Hồng Thủy quả là một con ngựa bất kham đấy, điều khiển không tốt, không cẩn thận, đồng chí ấy sẽ... đá người khác đấy!” (Chủ tịch Mao Trạch Đông)

‘’Nguyễn Sơn là một chiến sĩ cộng sản kiên định, một con người có khí phách, có chút ngang tàng, có khả năng về chính trị, về tuyên truyền, về văn nghệ. Anh lại có phong cách rất riêng - rất là Nguyễn Sơn. Anh coi trọng bạn bè, coi trọng con người, coi trọng bồi dưỡng đội ngũ kế cận.

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam cũng như trong lòng mỗi người chúng ta, anh vẫn còn sống mãi với hình ảnh một người cộng sản kiên định, một người bạn, người đồng chí, một người chiến hữu thân thiết và rất mực chân thành, suốt đời phục vụ sự nghiệp cách mạng của nước ta và nước bạn.’’ (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)
Thiếu tướng Nguyễn Sơn tên thật là Vũ Nguyên Bác, bí danh Lý Anh Tự, Hồng Thủy, quê tại làng Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

Nguyễn Sơn rời quê hương sang Pháp năm 1923. Năm 1925, ông tham gia Việt Nam thanh niên cách mạng ông hội, được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu sang Trung Quốc học Trường Võ bị Hoàng Phố.

Tháng 8/1927, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 12 năm 1927, ông tham gia khởi nghĩa ở Quảng Châu.

Năm 1929, ông tham gia Hồng quân Công nông Trung Quốc, lần lượt giữ các chức vụ; Chính trị viên Đại đội, Chính uỷ Trung đoàn, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 34, Quân đoàn 12.

Tháng 1/1934, ông là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản nước Cộng hoà Xô viết Trung Hoa, Uỷ viên Chính phủ Dân chủ Công nông Xô Viết Trung ương.

Từ năm 1934 - 1936, ông tham gia “Vạn lý trường chinh”. Sau đó là Tổng Biên tập báo “Kháng địch” của Biên khu Tấn Sát Ký.

Trong cuộc Vạn lý trường chinh của Hồng quân Trung Quốc nhằm rút lui, bảo toàn lực lượng, lập căn cứ mới thuận lợi kéo dài hơn một năm, trải dài hai vạn năm ngàn dặm. Lúc đi 72 vạn người, đến nơi còn 7 vạn 2, phải vượt qua núi tuyết, vượt qua đồng cỏ mênh mông hoang vắng. Vậy mà Nguyễn Sơn đi tới 3 lần trên con đường ấy để tiền trạm và giải quyết thương bệnh binh. Gần 2 năm trời hành quân có lúc đi môt mình, lạc đường đến vùng dân tộc thiểu số ông phải giả câm xin chăn dê để có cơm ăn, dưỡng sức tìm đường. Về tới Diên An gầy ốm như một bộ xương, quần áo rách không ai nhận ra.

Trong khoảng thời gian ấy ông bị khai trừ Đảng 3 lần vì đấu tranh với những điều sai trái và bị vu cáo là phản động, là gián điệp quốc tế, có lúc suýt bị chặt đầu. Nhưng cấp trên nhận ra sai trái lại khôi phục Đảng tịch cho ông.

Năm 1938, ông là giáo viên chính trị Trường Cán bộ quân chính kháng Nhật, Biên khu Tấn Sát Ký.

Tháng 8/1945, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông về nước tham gia lực lượng vũ trang. Tháng 10-1945, Chính phủ quyết định thành lập Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam. Trên thực tế lúc này Uỷ ban kháng chiến Miền Nam mới chỉ đạo được ở các tỉnh Nam Trung Bộ, Nam Bộ vẫn còn do xứ uỷ Nam Bộ lãnh đạo. Uỷ ban kháng chiến miền Nam do Tướng Nguyễn Sơn được Trung ương phân công làm chủ tịch. Vào cuối tháng 11-1945, trước khi vào Nam công tác, ông đã cùng Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái bàn bạc việc thực hiện Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng hai trường quân sự (Một trường ở miền Bắc và một trường ở miền Nam). UBKC miền Nam Việt Nam lúc ấy được Trung ương chỉ định ông Hoàng Quốc Việt uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng làm chính trị uỷ viên; tướng Nguyễn Sơn làm chủ tịch kiêm Hiệu trưởng trường Trung học lục quân Quảng Ngãi; tướng Nguyễn Chánh làm uỷ viên UBKC miền Nam Việt Nam đồng thời là uỷ viên Trưởng quốc phòng Trung bộ (chủ yếu là các tỉnh phía Nam Trung Bộ), sau này gọi là Liên khu 5.

Tháng 12/1945, thực dân Pháp từ phía Đông Nam Bộ đã đánh lấn lần lượt chiếm các vùng Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai thượng, Daklak, rồi đến Nha Trang, Khánh Hoà và cả Tây Nguyên. Quân đội ta còn non trẻ lại phải đương đầu với một lực lượng mạnh của quân lê dương Pháp, cộng với hàng nghìn quân Nhật thiện chiến. Tuy vậy quân ta vẫn cương quyết chống cự, không cho chúng lấn ra Phú Yên và ở Tây Nguyên, chúng chỉ có thể lập căn cứ An Khê, phía ngoài Pleiku.

Tướng Nguyễn Sơn đã cùng với UBKCMN chủ trương tập trung lực lượng đánh sâu vào vùng địch hậu ở Khánh Hoà, đồng thời tăng cường cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cho các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận... tăng cường đánh địch. Thế trận ta hoàn toàn chủ động, nhất là sau khi giặc Pháp phản bội hiệp định sơ bộ 6/3/1946. Tháng 4/1946, Nguyễn Sơn cho mở lớp bổ túc cán bộ Trung đoàn, đồng thời xúc tiến chiêu sinh, mở trường Trung học Quân sự tại Quảng Ngãi do ông làm hiệu trưởng khai giảng vào ngày 19/5/1946.

Tháng 1/1947, ông được bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng Tham mưu.

Tháng 7/1947, ông là Khu trưởng kiêm Chính uỷ Liên khu 4. Ngày 19/ 1/ 1948, ông được Chủ tịch Chính phủ phong quân hàm thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam trong đợt phong tướng đầu tiên của Quân đội theo sắc lệnh số 111/SL.

Tháng 10 năm 1950, ông trở lại Trung Quốc, phụ trách khoa Việt Nam bán Mặt trận thống nhất Trung ương và học tại Học viện Quân sự Nam Ninh. Năm 1954, ông tốt nghiệp loại xuất sắc, được cử đến Bộ Tổng Giám Huấn luyện Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc giữ chức Phó cục trưởng Cục Điều lệnh. Sau đó được bổ nhiệm Giám đốc Toà soạn “Tạp chí Huấn luyện Chiến đấu”.

Ngày 27/9/1955, ông được Nhà nước Trung Quốc phong quân hàm thiếu tướng. Ông là vị tướng duy nhất của Trung Quốc là người nước ngoài.

Năm 1956, do bệnh tình trầm trọng, ông xin về nước và đã từ trần ngày 21/10/1956. Lễ tang được Nhà nước Việt Nam tổ chức trọng thể và an táng tại nghĩa trang Mai Dịch.

Ông là tác giả của nhiều tác phẩm và bài viết về quân sự và văn học bằng tiếng Việt và tiếng Trung Quốc.

Tướng Nguyễn Sơn là một người có tài diễn thuyết và phát biểu trước đám đông. Lý luận của ông có tình, có lí lại không cứng nhắc rất dễ đi vào lòng người. Chính nhờ tài năng này đã giúp ông hoàn thành xuất sắc công tác dân vận suốt cuộc Vạn lý trường chinh ở Trung quốc rồi trong quãng thời gian làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam rồi Tư lệnh quân khu IV.

Tướng Nguyễn Sơn là người có lòng nhân ái, thương yêu cán bộ, chiến sĩ dưới quyền của mình; chan hoà mật thiết với đồng bào, cả những đồng bào tôn giáo luôn tỏ thái độ thân ái, đoàn kết và cởi mở. Các vị cao tăng, linh mục, tu sĩ đều tỏ lòng quý mến. Ông rất giản dị, với bộ quần áo chàm, may theo kiểu áo người dân tộc thiểu số miềm Bắc, miệng luôn ngậm tẩu thuốc, y hệt như người nông dân bình thường, không ai biết đó là vị tướng.

Tướng Nguyễn Sơn còn là một người rất yêu và am tường văn hóa – nghệ thuật, đồng thời biết trân trọng các văn nghệ sĩ. chính Nguyễn Sơn là ngưòi bênh vực, bảo vệ, cho khôi phục các hình thức sân khấu tuồng, chèo vì sau Cách mạng tháng Tám bị những người hữu khuynh toan dẹp bỏ. Ông chi tiền để nhân dân Thanh Hóa dựng lại Hội Múa dân gian cổ truyền. Ông mời Đinh Ngọc Liên - Quản Liên vốn chỉ huy đội kèn Bảo an của Bảo Đại-trao nhiệm vụ khôi phục lại đội kèn, bây giờ là đoàn quân nhạc của quân đội ta. Ông cũng rất khuyến khích phát triển các vốn cổ văn hóa nghệ thuật truyền thống: tuồng, chèo, cải lương, dân ca... Chuyện ông tướng quân sự mà giảng về kịch Lôi Vũ suốt mấy buổi liền vẫn hấp dẫn người nghe. Đến người dịch Lôi Vũ từ tiếng Trung qua Việt ngữ – Đặng Thai Mai – nghe xong cũng phải thốt lên lời khâm phục sự uyên thâm văn học của Nguyễn Sơn.

Tướng Nguyễn Sơn luôn có cái nhìn, cách nghĩ vô cùng nhân văn. Ông không thích những thứ cứng nhắc, khuôn mẫu, gò ép con người…điều này thể hiện rõ qua cái cách mà ông bảo vệ truyện Kiều. Ông phê phán những Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Ngô Đức Kế... đã đành. Ông còn làm giật thót người, tái mặt cả những Hoài Thanh, Đào Duy Anh, Trương Tửu... và cả cụ Huỳnh Thúc Kháng. Phê rằng nghiên cứu Kiều mà đứng trên lập trường chính trị, lấy quan điểm con người thời nay để chê bai Nguyễn Du là “tiêu cực”, là “định mệnh”, là “có hậu” một cách gượng gạo v.v..., thì thật là phi lịch sử... Tướng Nguyễn Sơn không thích nghe những như: “Bao chiến sĩ anh hùng lạnh lùng vung gươm ra sa trường...” hay “Không quân Việt Nam lướt bay rầm trời... bom đạn gầm réo”... bởi theo ông thì “Nó đế quốc quá!”.

Là một người tham gia Việt Nam thanh niên Cách mạng hôi từ rất sớm, lại tham gia cuộc Vạn lý trường chinh của Hồng quân Trung quốc nghĩa là ông là một người Cộng sản thực thụ. Nhưng qua những gì ông thể hiện thì ông chỉ là một người chiến đấu giành độc lập, hòa bình cho Tổ quốc, chống lại chiến tranh và xây dựng tình hữu nghị giữa các dân tộc. Với ông Tổ quốc là trên hết.


Nguồn ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

huy thanh
28-06-2009, 08:55 PM
http://img117.imageshack.us/img117/2199/trungtuonglequangdaorz4.jpg

Trung tướng Lê Quang Đạo (8/8/1921 – 24/7/1999), nguyên Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao Vàng (truy tặng 2003), Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang Nhất – Nhì – Ba, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng. Huân chương Itxala (Itxala: Nhân dân) của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

"Yêu anh từ lần gặp đầu tiên. Người ấy đã mang trong mình một sức mạnh làm tôi tin tưởng gửi gắm cả cuộc đời" (Nhà văn Nguyệt Tú, vợ Trung tướng Lê Quang Đạo).

‘’Anh Lê Quang Đạo có đức tính thật quý báu, rất hiếm có của một cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng và của quân đội mà không phải nhiều người đều có được. Đức tính quý báu ấy của anh có sức cảm hoá lòng người mà bất kỳ ai, dù chỉ được một lần gặp anh cũng đều có được cái cảm nhận sâu sắc ấy.’’ (Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên).

“Không có sự lựa chọn nào tốt hơn, un choix heureux (một sự chọn lựa thích hợp)” ( Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, nói khi Trung tướng Lê Quang Đạo được đề xuất giữ trách nhiệm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam)
Trung tướng Lê Quang Đạo tên thật là Nguyễn Đức Nguyện quê tại xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ngoài ra ông còn các bí danh sau đây : Nho Mẫn, Minh, Miện, Đăng, Trần Hoạt…


Năm 1938, ông tham gia phong trào thanh niên dân chủ ở Hà Nội. Năm 1939, ông tham gia phong trào thanh niên Phản đế Đông Dương, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1940.

Từ năm 1940-1942, ông là Bí thư chi bộ xã Đình Bảng, Uỷ viên Ban cán sự phủ Từ Sơn, Uỷ viên Ban Cán sự tỉnh Bắc Ninh, Bí thư Ban Cán sự tỉnh Bắc Ninh, Bí thư Ban Cán sự tỉnh Phúc Yên rồi làm Xứ uỷ viên Xứ uỷ Bắc kỳ.

Từ năm 1943 đến tháng 5/1945, ông là Bí thư Ban Cán sự Hà Nội, Uỷ viên Thường vụ Xứ uỷ Bắc kỳ, phụ trách tờ báo “Quyết thắng” và các lớp huấn luyện Việt minh ở Chiến khu Hoàng Hoa Thám.

Tháng 8/1945, ông là Chính trị viên Chi đội Giải phóng quân tỉnh Bắc Giang, tham gia lãnh đạo tổng khởi nghĩa ở Bắc Giang.

Từ cách mạng Tháng Tám năm 1945-1948, ông giữ các chức vụ: Bí thư thành uỷ Hải Phòng, Hà Nội, Phó Bí thư Khu uỷ đặc biệt Hà Nội Xứ uỷ viên Bắc kỳ, Bí thư Liên tỉnh uỷ Hà Nội – Hà Đông, Uỷ viên thường vụ Liên khu uỷ Liên khu III, phụ trách công tác tuyên huấn.

Năm 1949, ông là Phó trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Đảng.

Từ năm 1950-1976, ông công tác trong Quân đội nhân dân Việt Nam và được giao nhiều trọng trách: Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Phó Chủ nhiệm Chính trị Chiến dịch Điện Biên Phủ, Phó trưởng đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam trong Uỷ ban Liên hiệp đình chiến Việt Pháp, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bí thư Đảng uỷ, Chính uỷ Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào, Bí thư Đảng uỷ và Chính uỷ Mặt trận giải phóng Quảng Trị.

Năm 1960, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, ông được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Uỷ viên Quân uỷ Trung ương. Năm 1976, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, ông được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Bí thư Trung ương Đảng. Năm 1978, ông là Phó Bí thư thành uỷ Hà Nội, Chính uỷ Bộ chỉ huy quân sự thành phố Hà Nội.

Năm 1982, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, ông được bầu làm Uỷ viên Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Bí thư Trung ương Đảng, trực tiếp làm Trưởng Ban Khoa giáo Trung ương.

Từ năm 1983-1987, ông giữ các chức vụ: Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Trung ương Đảng phụ trách công tác dân vận của Đảng, Bí thư Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Từ năm 1986, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, ông tiếp tục được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Tháng 6/1987, tại kỳ họp lần thứ nhất khoá VIII, ông được bầu làm Chủ tịch Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.

Tháng 11/1988, tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ III đã bầu ông vào Đoàn Chủ tịch Uỷ Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và là Bí thư Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Từ tháng 8/1994 đến tháng 7/1999, ông làm Chủ tịch Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ( khoá IV).

Một con người ‘‘trắng trẻo, nhỏ nhắn, thư sinh, cặp kính cận to dày’’ như Trung tướng Lê Quang Đạo, nếu không nói ra, ít ai nghĩ rằng ông là một vị tướng. Một vị tướng đã từng tham gia hoạt động cách mạng từ những ngày tiền khởi nghĩa. Một vị tướng đã từng tham gia lãnh đạo Khởi nghĩa giành chính quyền tại Bắc Giang với tư cách là Chính trị viên Chi đội. Và một vị tướng đã từng tham gia chỉ huy Chiến dịch Đường 9 Khe Sanh, Chiến dịch Đường 9 Nam Lào. Là một người làm công tác Chính trị, một Chính ủy nhưng ông là một người rất uyên bác về Quân sự.

Nguồn ảnh : Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Trang thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam

huy thanh
28-06-2009, 08:58 PM
Thiếu tướng Nguyễn Thị Định (15/3/1920 – 26/8/1992), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (truy tặng 30/8/1995), nguyên Thiếu tướng Phó Tư lệnh các lực lượng vũ trang Giải phóng miền Nam Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nguyên Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, 2 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang Nhất – Nhì – Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Giải thưởng Hòa bình Lê-nin, Huân chương Plâya Giron và Huân chương Ana MariaGranajales của Nhà nước Cu-ba.

"Phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị nữ tướng quân như vậy. Thật là vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta" (Chủ tịch Hồ Chí Minh).

"Tôi cảm thấy rất vinh hạnh khi viết thư này gửi thǎm Bà - một người phụ nữ nổi tiếng và có một vai trò quan trọng trong lịch sử thế giới, một tấm gương của người phụ nữ chân chính. Tôi rất sung sướng khi sử dụng cuốn hồi ký của Bà để dạy cho sinh viên nước mình về truyền thống Cách mạng Việt Nam" (Giáo sư sử học Christine Whate trường Đại học Tổng hợp Hawai, trong một lá thư gửi Thiếu tướng Nguyễn Thị Định).

“Sự thực là có chị Ba Định ở Bộ Tư lệnh, nhiều việc cụ thể ở chiến trường đã được làm sáng tỏ. Dưới sự chỉ đạo của anh Nguyễn Chí Thanh ở cương vị Chính ủy, chúng tôi được phân công giúp chị nắm những vấn đề cơ bản về chỉ huy và công tác tham mưu quân đội, cũng như công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang, đồng thời chúng tôi cũng học tập được ở chị nhiều kinh nghiệm quý báu trong lãnh đạo đấu tranh chính trị và trong công tác xây dựng phong trào quần chúng.

Chúng tôi không khỏi ngạc nhiên về sự thông minh và hiểu biết nhanh chóng của chị về các vấn đề quân sự. Chỉ sau một thời gian không dài, chị đã có nhiều ý kiến đóng góp có giá trị trong việc chỉ huy lực lượng tổng hợp trên chiến trường.

Trong công tác, chị bộc lộ khá rõ sự năng động và tinh thần tích cực, hết mình trong mọi việc. Chị hầu như có mặt trong tất cả các cuộc hội nghị tổng kết về chiến tranh du kích, trong Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua của Miền. Chị đi thăm các sư đoàn, trung đoàn chủ lực, các đơn vị binh chủng không chỉ ở nơi đóng quân mà còn ở mặt trận. Chị quan tâm cụ thể đến việc tổ chức, huấn luyện, tác chiến và cả việc ăn ở, giải trí của chiến sĩ.

Anh em tiếp đón chị với cương vị người chỉ huy, đồng thời như người chị cả thân thương, họ thường gọi chị bằng cái tên “Chị Ba” trìu mến. Anh Nguyễn Chí Thanh có lần nói vui với chị là “Chúng tôi ghen với chị về lòng thương yêu, quý mến của cán bộ, chiến sĩ đối với chị đấy...”. (Thượng tướng Trần Văn Trà)

"Bước vào lán của chị Ba, cái đập vào mắt trước tiên là tấm bản đồ không ảnh toàn miền Nam bằng lụa treo trên vách. Kế đó là chồng sách quân sự. Trên bàn làm việc của chị lúc nào cũng có một quyển đang xem dở. Chị nghiên cứu, chị học ngày, học đêm chiến thuật chiến tranh hiện đại. Nhớ hôm địch tấn công vào căn cứ, Bộ Tư lệnh phải di chuyển đến nơi an toàn, mỗi người ở cách xa nhau trong cự ly một quả bom đìa để hạn chế bom sát thương một lúc hai người. Bên bờ suối hoang vắng, chị vẫn đọc sách...Tôi mời chị đi xem đơn vị diễn tập, chị vui vẻ nhận lời, và tôi đã tổ chức bảo vệ chị đi chu đáo. Chị tham quan diễn tập với cặp mắt và bộ óc của người chỉ huy binh chủng hợp thành. Chị chỉ ra những chỗ cần phải suy nghĩ thêm, khi chiến đấu ở đồng bằng với điều kiện địch chiếm ưu thế tuyệt đối về không quân, pháo binh, xe thiết giáp, đổ bộ trực thăng. Phải công nhận rằng, với bề dày kinh nghiệm lăn lộn đấu tranh nhiều năm qua, chị biết địch biết ta, am hiểu thời tiết, địa hình, chị tiếp thu nghệ thuật tác chiến hiện đại khá nhanh với nhiều hứa hẹn sáng tạo.." (Thiếu tướng Bùi Cát Vũ)

“Chị Ba Định ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần" (Giáo sư Trần Văn Giàu, trong lời đề tựa cuốn Nhớ chị Ba Định).

Với các chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam Thiếu tướng Nguyễn Thị Định luôn được gọi bằng cái tên trìu mến "Cô Ba Định"

Và trong lòng người dân Việt Nam: "Nǎm 1992 Nguyễn Thị Định qua đời sau một cơn đau tim đột ngột, hầu hết các tỉnh, thành Hội phụ nữ trong cả nước đều lập bàn thờ để tưởng nhớ đến Bà, theo triết lý dân gian: "Sống làm tướng chết thành thần". Nhân dân Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Tây nơi thờ Hai Bà Trưng đã rước bát hương thờ Bà Nguyễn Thị Định về thờ trong khu đền Hai Bà như một vị nhân thần mới. Nhiều địa phương đã đặt tên trường học Nguyễn Thị Định, quỹ hỗ trợ trẻ em nghèo hiếu học mang tên Nguyễn Thị Định". (Theo Phụ nữ Việt Nam)Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân có 10 người con (bà là con út cho nên thường tên thường gọi lúc nhỏ là Út) ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà sinh ra với thể chất yếu đuối, ốm nhom vì hen suyễn.

Đến tuổi đi học, do trường học xa nhà, ở trọ thì tốn kém, bà không được đi học, đành ở nhà học chữ với người anh thứ ba tên là Chẩn. “Người thầy” ấy có ảnh hưởng sâu sắc với cuộc đời cô về nghĩa khí Lục Vân Tiên, về chí hướng đánh Tây, giành độc lập cho đất nước.

Bà tận mắt chứng kiến anh trai tham gia cách mạng, bị bắt, bị đánh đập trong nhà giam ở quận. Bà đứng nhìn, căm thù mà không biết làm gì để cứu anh ra, đành khóc tức tưởi. Từ đó, những câu hỏi về thời cuộc, về cách mạng nảy nở trong đầu bà. Cô hiểu và tin làm cách mạng là việc tốt nhưng là việc rất khó, là con gái chắc không thể làm được. Có thể nói bà đến với Cách mạng trước hết là do sự dìu dắt, hướng dẫn của người anh trai.

Năm 16 tuổi, bà rất đẹp, da trắng, môi đỏ, tóc xoăn, một vẻ đẹp rất đặc biệt. Nhiều gia đình giàu có đánh tiếng dạm hỏi. Tuổi cô thời ấy con gái đã lo lấy chồng nhưng bà không quan tâm đến điều hệ trọng ấy. Bà nói “Nếu lấy chồng, phải là người cách mạng, em mới ưng”.

Đó cũng là năm phong trào dân chủ lên cao. Bà say sưa lắng nghe anh trai và các bạn của anh diễn thuyết, rồi tham gia rải truyền đơn, làm giao liên, lo cơm nước cho các anh, tham gia các hội tương tế ái hữu, cổ động báo “Dân chúng"...

Tháng 10 năm 1938, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Được tổ chức Cách mạng và người anh trai mai mối, bà kết hôn với một người Đồng chí của mình tên là Bích. Nhưng hạnh phúc đến với vợ chồng Út Định chưa bao lâu thì giông tố ập đến. Mới sinh con 3 ngày (đây là người con duy nhất của bà tên là Nguyễn Ngọc Minh, tên thường gọi là On. Sau tập kết ra Bắc học ở trường học sinh miền Nam ở Đông Triều, Quảng Ninh. On mắc bệnh nặng rồi nằm lại nghĩa trang Văn Điển), mật thám đến nhà vây bắt chồng bà rồi sau đó bị kết án 5 năm tù và 5 năm đầy đi biệt xứ. Đây là thời điểm sau Nam kỳ khởi nghĩa 1940, cũng như các tỉnh khác ở Nam Kỳ, Bến Tre đã bị giặc Pháp khủng bố, đàn áp một cách dã man. Nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ, hàng loạt đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có nhiều đồng chí trong cấp ủy tỉnh và huyện.

Ngày 19/7/1940, bà bị mật thám vây bắt và đưa về khám Lá ở Bến Tre cùng với con trai. Sau đó, Thực dân Pháp tuyên bố đưa bà đi giam giữ ở "căng" Bà Rá và buộc bà phải gửi con về nhà khi con bà mới có 7 tháng tuổi. Trước khi đưa chồng bà ra Côn Đảo và bà đi Bà Rá, Pháp đưa cả hai người đến một nhà giam ở Sài Gòn. Tuy nhiên, hai vợ chồng bà không hề biết điều này.

Tại Bà Rá bà bị xếp và nhà B, nơi dành riêng cho tù nữ chính trị, ở đây mọi người gọi bà là Ba Bích (theo tên chồng). Tại đây bà tiếp tục hoạt động và là trung tâm đoàn kết của khu nhà B, trước hết là việc đoàn kết tù nhân nữ nhằm chống lại những trò chọc ghẹo của những tên cò Tây. Bà còn bày thêm kinh nghiệm là bọn quản tù hay chụp nắm tóc phụ nữ trước khi đánh. Vì vậy, chị em nên cài ít kim may vào trong búi tóc, để khi chúng chụp vào đầu tóc chị em, tay bị kim đâm, sẽ bỏ ra ngay. Tới lúc đó, chị em có thì giờ để đối phó...

Tên quan ba nổi tiếng tàn ác, có thú tính thích nhìn thấy máu đổ, thích xui chó béc-giê cắn xé tù nhân cho ra máu lai láng, bắt bà bước ra sân, giơ cao vỏ chai đựng rượu làm đích cho hắn bắn. Hắn vừa muốn khoe tài bắn súng vừa "nắn gân" bà “chuyên xách động nữ tù đấu tranh”.

Nếu bà không chịu bước ra, không giơ cao chai rượu cho hắn nhắm bắn, hắn sẽ có dịp bêu riếu chị là hèn nhát. Còn nếu thể hiện chí khí, viên đạn của tên quan ba có thể cắm vào cơ thể bà.

Bà bình tĩnh bước ra sân rồi giơ cao vỏ chai rượu lên. “Đoàng”. Tiếng súng nổ, vỏ chai vỡ toang. Hắn khoái chí cười khanh khách. Chưa thỏa mãn thú tính, hắn bắt bà tháo chiếc vòng cẩm thạch đang đeo ở tay - kỷ vật chồng chị tặng ngày cưới mà bà rất quý yêu, làm đích cho hắn bắn tiếp.

Quá phẫn uất, bà tháo vòng, ném mạnh vào viên gạch gần đó, làm chiếc vòng vỡ tan. Trước sự bướng bỉnh, gan dạ của bà, tên quan ba hơi bất ngờ. Lúc ấy, hắn không làm gì nhưng định bụng sẽ trừng trị bà và các “nữ tù ngoan cố” vào một dịp khác.

Bệnh tim ngày càng trở nặng, bà liên tục bị ngất. Chị em nữ tù đấu tranh quyết liệt với tên sếp Tây. Cuối cùng, chúng đành chấp nhận đưa bà về điều trị tại Nhà thương Biên Hòa. Năm 1943, bà được Thực dân Pháp đưa về quản thúc tại địa phương...

Ba tháng sau, vết thương những ngày bị đọa đày trong nhà tù đế quốc chưa lành thì bà nhận được hung tin: chồng bà đã hy sinh ngoài Côn Đảo ngày 12/6/1942.

Năm 1944, phong trào Việt Minh lên mạnh, bà bắt được liên lạc với tổ chức. Bà gửi con cho mẹ, lao vào công tác và hoạt động ở huyện Châu Thành. Trong Cách mạng tháng Tám 1945, bà đã cầm cờ dẫn đầu hàng ngàn quần chúng tay dao, tay gậy, cờ, băng, biểu ngữ rầm rộ tiến chiếm thị xã Bến Tre.

Sau ngày cách mạng thành công, bà là ủy viên Ban chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh và sau đó làm Hội trưởng – lúc bấy giờ quen gọi là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh.

Tháng 3 năm 1946, bà là thành viên trong đoàn cán bộ của khu 8 vượt biển ra gặp Trung ương để báo cáo tình hình kháng chiến ở Nam Bộ và tỉnh để xin Trung ương chi viện. Đòng đi trên chiếc tàu đánh cá nghi trang, từ cửa biển Bến Tre ra Phú Yên. Rồi từ Phú Yên, họ ngồi xe lửa ra Hà Nội.Chuyến đi này không những cung cấp cho Chính phủ, Trung ương Đảng tình hình thực tế của chiến trường Nam Bộ - một chiến trường xa cách Trung ương – mà còn đặt cơ sở cho việc tổ chức chi viện miền Nam về sau này. Kết thúc chuyến đi miền Bắc, bà đi thẳng vào Quảng Ngãi - trụ sở của Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, nhận súng, tiền và tài liệu của Trung ương mang về cho Xứ ủy Nam Bộ.

Bà cũng là người duy nhất trong 4 thành viên của đoàn trở về lại Bến Tre với chiếc thuyền chở đầy vũ khí chi viện cho chiến trường, xuất phát từ bờ biển Phú Yên, lúc này đang còn là vùng tự do. bằng lòng quả cảm, trí thông minh, bà lại cùng các đồng chí của mình khéo léo vượt trùng dương đưa được 12 tấn vũ khí chi viện cho miền Nam một cách an toàn. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bà cùng với các đồng chí lãnh đạo ở địa phương bám đất, bám dân, đưa phong trào kháng chiến trong tỉnh vượt qua những khó khăn, cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm.

Chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký kết (7/1954), bà quyết định ở lại miền Nam, chỉ mình con ra Bắc. Khi đó Bến Tre là một trọng điểm đánh phá bình định ác liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bà phải giả làm nghề nuôi heo, nuôi gà vịt tại nhà một đồng bào ở giữa cánh đồng vùng giáp ranh ba xã Tân Hòa, Thạnh Phú Đông, Phước Long. Bà đã từng cải trang thành người tu hành, người chăn vịt, người đi mua bán, làm vợ bé, người ở... Đôi chân của bà hết in dấu bên Minh lại về bên Bảo, hết qua An Hóa lại về Châu Thành xây dựng cơ sở, nắm tình hình phong trào. Cái đầu của bà được địch treo giá: “Thưởng 10.000 đồng cho ai bắt được Nguyễn Thị Định".

huy thanh
28-06-2009, 09:00 PM
Nguyễn Thị Định, trong thời kỳ này, là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ Bến Tre, đã cùng với những đồng chí khác ra sức chèo chống, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, đen tối. Từ con số 2.000 đảng viên lúc đầu còn lại sau khi chuyển quân tập kết, đến khi Đồng khởi (nghĩa là trong khoảng thời gian 5 năm), Bến Tre chỉ còn lại 162 đảng viên. Hơn 80% đồng chí bị giết, bị tra tấn, tù đày, bị tàn phế. Bà là thành viên của "Bộ tham mưu cuộc Đồng khởi”, người chỉ đạo trực tiếp cuộc “khởi nghĩa điểm” của nhân dân 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (thuộc huyện Mỏ Cày) thắng lợi (17-1-1960), mở đầu cho cao trào Đồng khởi trong tỉnh và cả trong toàn miền Nam về sau. Từ sau Đồng khởi, bà được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, rồi Khu ủy viên khu 8 (5/1961), Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam. Đến khi đế quốc Mỹ chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ” ồ ạt đưa quân vào miền Nam năm 1965, cùng năm này bà nhập ngũ, thì bà nghiễm nhiên trở thành vị tướng, Phó tư lệnh các LLVT giải phóng miền Nam theo dõi chỉ đạo phong trào chiến tranh du kích, đấu tranh chính trị”. Đó là trận càn lớn nhất của Mỹ - và lính VNCH vào tháng 2/1967, huy động 7 lữ đoàn Mỹ, 2 chiến đoàn VNCH gồm 50.000 tên, 1.100 xe tăng, toàn bộ máy bay nhằm xóa sạch căn cứ Trung ương Cục miền Nam. Bộ Tư lệnh họp, quyết định bằng mọi giá phải bảo vệ vùng căn cứ; chuyển thế bị động sang chủ động tấn công địch. Bộ Tư lệnh phân công bà Nguyễn Thị Định chỉ đạo các đơn vị văn công, tuyên huấn, du kích các cơ quan, đoàn thể tham gia đánh địch. Bà họp toàn thể anh chị em nói: “Mình có ít người, ít vũ khí, phải chia thành từng tổ nhỏ, đào công sự thật chắc, đón hướng đi của địch, đánh cho chúng những đòn bất ngờ, làm chúng nghi là có quân chủ lực đánh”. Cuộc chống càn đã diễn ra đúng như kế hoạch đã chuẩn bị. Suốt 2 ngày đêm, quân ta bẻ gãy cánh quân chủ yếu của địch. Địch lại mở trận tấn công đợt 2. Dưới hầm, bà vẫn bình tĩnh chỉ huy trận đánh. Bốn giờ chiều, Bộ Tư lệnh nhận được tin du kích khối cơ quan do “chị Ba” chỉ huy đã bắn cháy một số xe tăng địch. Sau những ngày bị du kích đánh cho mệt mỏi, rã rời, địch phải co cụm lại một nơi. Lúc ấy, các đơn vị chủ lực của ta đánh thẳng vào những cụm đóng quân của địch, diệt được nhiều xe tăng, máy bay. Trận càn Johnson City địch thất bại thảm hại. Rừng Tây Ninh vang tiếng hát chiến thắng, bà Nguyễn Thị Định được cán bộ chiến sĩ rất khâm phục. Trong đợt Tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, bà được Bộ Tư lệnh phân công đi chỉ đạo tỉnh Tây Ninh. Năm 1970, khi Lonnon lật đổ Xihanúc, các căn cứ của ta ở biên giới Campuchia càng gặp nhiều khó khăn. Chăm chú theo dõi tình hình Campuchia, bà Nguyễn Thị Định trao đổi với các đồng chí ở H12 (Trường sơ cấp Quân giải phóng của Bộ tư lệnh Miền), tìm cách đối phó, bảo vệ căn cứ. Bà phân tích: Địch bên sông Vàm Cỏ chỉ cách ta một con sông nhỏ, ta phải gấp rút tập trung thành lực lượng thống nhất đủ sức đối phó, tránh tình trạng phân tán quá nhỏ, hành động rời rạc. Ta phải ngụy trang chu đáo các kho tàng, tổ chức chiến đấu ở mỗi khu vực. Cần phân tán kho lớn, những vũ khí gọn nhẹ như AK, KCK, K63, B40... chia cho các đơn vị giữ và chiến đấu. Bà kiên nghị nói: “Trong lúc chờ chủ trương của Bộ, của Trung ương Cục, tôi sẽ chịu trách nhiệm trước cấp trên và quyết định đánh. Trong lúc này, ta phải dám nghĩ dám làm, bỏ lỡ thời cơ, ta sẽ gặp khó khăn lớn!”. Rất may, Bộ kịp thời gửi điện xuống căn cứ, giao trách nhiệm cho bà Định cùng Sư đoàn 9, tỉnh Tây Ninh đánh địch bảo vệ lực lượng, bảo vệ căn cứ. Ông Huỳnh Tấn Phát - Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời đến gặp bà, trao đổi: “Ý kiến của trên muốn đưa hai cơ quan về phía Nam, chị nghĩ sao?”. Bà nói: “Nếu đưa cơ quan Chính phủ Cách mạng lâm thời về phía Nam, ta sẽ mắc mưu địch. Nó đang chờ ta để tiêu diệt. Theo tôi, anh cứ tìm chỗ cho cơ quan di chuyển. Tôi sẽ chịu trách nhiệm tổ chức phối hợp chiến đấu bảo vệ cơ quan đầu não của ta”. Ông Huỳnh Tấn Phát đồng ý. Thế là một không khí sôi nổi, khẩn trương diễn ra. Quân Mỹ cho quân đổ xuống Xóm Giữa, gần trường Lê Thị Riêng, máy bay B.52 liên tục thả bom. Dưới đất, chúng cho từng đoàn xe bao quanh căn cứ dày đặc, quyết tâm tiêu diệt cơ quan đầu não của kháng chiến. Bà Định cùng Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát nhận trách nhiệm dẫn cơ quan dân vận gồm gần 1.000 người lặng lẽ băng trong rừng, trong mưa. Cuộc hành quân đúng như dự kiến của bà Định. Trong lúc cơ quan di chuyển, các lực lượng vũ trang đã anh dũng chiến đấu, bẻ gãy được cuộc càn. Các mũi quân của địch sục vào khu căn cứ cách mạng bị đánh mìn, bị du kích đánh gây nhiều tổn thất, khiến chúng không dám sục sạo. Kho tàng của ta được bảo vệ; các bệnh viện kịp thời sơ tán, an toàn. Đặc biệt, trường H 12 trong tay chỉ có một trung đội nhưng trong 3 ngày tiêu diệt được 3 xe tăng, 2 trực thăng Mỹ. Trong thời gian địch càn, vùng căn cứ của ta đón gần hàng ngàn đồng bào và lực lượng cơ quan, cán bộ các phân khu khác dồn về. Lò Gò là một trong những căn cứ chống càn có hiệu quả nhất, thiệt hại rất ít, bảo vệ được vùng giải phóng. Đặc biệt, hai cơ quan Chính phủ Cách mạng lâm thời, cơ quan phụ nữ hầu như không bị thiệt hại gì. Sau này, những người có mặt trong cuộc hành quân dời căn cứ ngẫm lại, giật mình khi đưa ra câu hỏi: “Năm ấy, Trung ương Cục không có Phó tư lệnh Nguyễn Thị Định biết chớp thời cơ, dám chịu trách nhiệm, dám nghĩ dám làm, biết phán đoán tình hình, kiên quyết không di chuyển về phía địch đang chờ sẵn, bà cắt đặt chu đáo quân ứng chiến,... thì cơ quan Chính phủ cách mạng lâm thời sẽ ra sao?! Tài chỉ huy và óc phán đoán nhạy bén, tinh thần trách nhiệm, sự dũng cảm của bà đã góp phần xoay chuyển thế bị cô lập bao vây thành thắng, từ bị động chuyển sang phòng ngự và chủ động tấn công... Năm 1974, bà được phong quân hàm Thiếu tướng. Chiến tranh chống Mỹ kết thúc, bà chuyển về công tác ở thủ đô Hà Nội, đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau: Ủy viên Trung ương Đảng (Đại hội IV - 12/1976, Đại hội V - 3/1982, VI - 12/1986), Đại biểu Quốc hội nhiều nhiệm kỳ ( Quốc hội khó VI, VII, VIII), Thứ trưởng Thương binh – xã hội, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (1980 - 1992), Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (từ tháng 6/1987 đến 1992). Bà còn tham gia nhiều hoạt động đối ngoại: Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Cuba. Con người bà Ba Định là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm với lòng nhân ái, bao dung, giữa ý chí quyết liệt và sự mau nước mắt, giữa chất hùng của người lính xông pha trận mạc với nữ tính dịu dàng, đồng thời cũng rất rạch ròi, phân minh giữa cái đúng và cái sai, giữa yêu thương và căm giận. Gần 50 bài viết nhân dịp bà ra đi về nơi an nghỉ cuối cùng của bạn bè, đồng chí, người thân, đồng hương, chiến sĩ, tướng lĩnh, nhà doanh nghiệp, nhà văn, nhà báo, nữ tu… được tập hợp lại trong cuốn sách Nhớ chị Ba Định (Nxb Khoa học xã hội, 1993), ngoài nỗi tiếc thương, phần lớn các tác giả đều dành những trang viết ngợi ca bà về cách đối nhân xử thế. Là con đẻ của nhân dân, của phong trào, bà gắn chặt cuộc đời hoạt động của mình với số phận nhân dân, sống chân chất, mộc mạc như hạt lúa, củ khoai. Người ta yêu quý bà không vì cái chức cao, quyền trọng mà vì cái chất đằm thắm, nhân ái tỏa sáng trong hành vi đời thường cũng như trong lúc thi hành công vụ. Có cái tâm trong sáng, bà Nguyễn Thị Định thuộc trong số không nhiều người có chức, có quyền mà không bị tha hóa bởi quyền uy và địa vị. Có thể nói bà thuộc vào hàng những người "phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Vẫn sau trước thủy chung với bạn bè, đồng chí, luôn luôn nhớ ơn đối với những người cưu mang mình từ những ngày gian khổ, đen tối nhất, nhớ từng bát cháo trắng, từng con cá, cọng rau mà các bà má nghèo đã chắt chiu nuôi mình, bà sống bình đẳng, dân chủ với anh chị em được phân công phục vụ bà hằng ngày.
Nguồn ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

huy thanh
28-06-2009, 09:02 PM
http://img399.imageshack.us/img399/1380/thieutuonghoangthethienjn6.jpg

Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện (20/10/1922 – 5/9/1995), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Thứ trưởng thứ nhất Bộ Thương binh và Xã hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.


Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Nhì, 1 hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương chiến công hạng Nhất, 2 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và nhiều huân huy chương khác. Ông còn được Hội đồng Viện hàn lâm Hermann Gmeiner thuộc tổ chức Làng trẻ em SOS quốc tế trao tặng giải thưởng "Kim vàng Danh dự" do đã có những đóng góp đặc biệt cho tổ chức này.

"Đồng chí Hoàng Thế Thiện là một cán bộ cao cấp của Đảng, một vị tướng của Quân đội. Đồng chí đã từng đảm nhiệm những chức vụ quan trọng, suốt đời chiến đấu vì sự nghiệp của Đảng, của Dân tộc. Đồng chí có ưu điểm nổi bật là dù ở cương vị nào cũng là tấm gương đoàn kết và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được đồng chí, đồng đội tin yêu". (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

"Anh Thiện có nhiều kinh nghiệm về công tác chính trị và có kiến thức quân sự. Anh chiến đấu rất dũng cảm. Anh Thiện đã cùng anh Nguyễn Hữu An chỉ huy, chỉ đạo Sư đoàn 1 đánh nhiều trận hay, đặc biệt là đánh thiệt hại nặng lữ dù 173 của Mỹ trong chiến dịch Đắc Tô I trên đồi 875 ở phía tây bắc Kon Tum vào mùa Đông năm 1967 ... Điểm đặc biệt của anh Thiện: tuy là Chính ủy nhưng rất chú ý đến quân sự và nghiên cứu về tình hình địch. Một Chính ủy như thế quả là hơi hiếm". (Thượng tướng Hoàng Minh Thảo)

"Anh Hoàng Thế Thiện - Chính ủy là người toàn năng, không chỉ giỏi về chính trị mà còn là người hiểu biết về quân sự, khá sâu những vấn đề có liên quan đến cương vị của mình và rất xứng đáng là nhân vật trung tâm của Sư đoàn" (Thượng tướng Nguyễn Hữu An)

"Tuy là Chính ủy nhưng anh Hoàng Thế Thiện có trình độ cao về nghệ thuật quân sự, về cách đánh của nhiều hình thức tác chiến khác nhau. Vì vậy, anh không chỉ đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị mà anh còn thực sự là một cán bộ chỉ huy quân sự, đi sâu vào tác chiến ... Điều làm gương cho chúng tôi và cán bộ quân sự nói chung là địch tìm mọi cách chống lại ta thì anh luôn tìm cách để đánh thắng địch. Đây là một điểm rất đặc biệt ở anh Thiện, một Chính ủy mà cũng là một nhà quân sự. Địch có cách này thì ta có cách khác hay hơn nó để đánh thắng nó. Đây là điều rất cần thiết trong chiến tranh". (Thiếu tướng Hoàng Đan)Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện tên thật là Lưu Văn Thi sinh năm 1922 tại Hải Phòng trong một gia đình nghèo yêu nước. Cha ông từng tham gia phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu và tham gia phong trào mặt trận Bình dân, là sáng lập viên đồng thời là Ủy viên Ban trị sự Hội Ái hữu công nhân tư gia thành phố Hải Phòng, cụ từng bị thực dân Pháp bắt giam. Gia đình cụ cũng là cơ sở của nhà Cách mạng Nguyễn Lương Bằng.

Ngay từ khi còn là học sinh Trường Bonnal, Hoàng Thế Thiện đã tích cực tham gia vào các hoạt động yêu nước của phong trào Hướng đạo sinh thành phố Hải Phòng. Đầu năm 1940, ông tham gia Tiểu tổ bí mật do nhà cách mạng Vũ Quý phụ trách, tự động xây dựng lại cơ sở cách mạng bí mật tại thành phố Hải Phòng đã bị địch khủng bố tan rã trước đó. Ông tham gia hoạt động trong phong trào Truyền bá Quốc ngữ từ năm 1940 và được cử làm Ủy viên Ban Trị sự Hội Truyền bá quốc ngữ thành phố Hải Phòng.

Tháng 1 năm 1942, ông tham gia Đoàn Thanh niên Cứu quốc và được giao nhiệm vụ xây dựng Đoàn Thanh niên Cứu quốc của Việt Minh thành phố Hải Phòng, đồng thời phụ trách một cơ sở bí mật trong thanh niên, học sinh thành phố. Sau một đợt đấu tranh treo cờ, phân phát truyền đơn toàn thành phố Hải Phòng có kết quả vào cuối năm 1942, ông được giao nhiệm vụ chuẩn bị thành lập Đoàn Thanh niên Cứu quốc toàn thành phố và thống nhất đầu mối chỉ đạo.

Tháng 3 năm 1943, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt tại Ngân hàng Đông Dương và đưa ra xử tại tòa án binh Hà Nội. Ông bị kết án 5 năm tù khổ sai, bị giam tại nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội), rồi bị đày lên nhà tù Sơn La. Trong tù, mặc dù bị tra tấn, đày ải nhưng ông không nhụt trí đấu tranh. Ông được kết nạp vào nhóm Trung Kiên ở Hỏa Lò và Hội Lao tù Cứu quốc ở Sơn La, được nhà cách mạng Trần Đăng Ninh trực tiếp huấn luyện về công tác bí mật và vận động quần chúng.

Tháng 3 năm 1945, ông vượt ngục tập thể trong nhóm của nhà cách mạng Trần Quốc Hoàn rồi về Thái Nguyên tiếp tục hoạt động cách mạng. Tháng 4 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử làm Đội trưởng Đội Vũ trang Tuyên truyền Cứu quốc quân huyện Vũ Nhai.

Tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền tại thị xã Thái Nguyên. Tháng 10 năm 1946, ông làm Thường vụ Tỉnh ủy - Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Thái Nguyên. Tháng 10 năm 1946, ông làm Thường vụ Tỉnh ủy - Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Vĩnh Yên.

Tháng 4 năm 1947, ông được điều vào Quân đội làm Phái viên Chính trị Khu 10, rồi Trưởng phòng Chính trị Liên Khu 10 - Quân khu ủy viên. Tháng 7 năm 1948, ông được cử làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Trung đoàn Sông Lô (E209).

Tháng 9 năm 1949, ông được Bộ Quốc phòng cử làm Trưởng đoàn cán bộ quân sự vào tăng cường cho chiến trường Nam Bộ, Nam tiến lần thứ nhất. Tháng 7 năm 1950, ông làm Phái viên Kiểm tra Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Tháng 11 năm 1950, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Trung đoàn Tây Đô (Khu 9), Chỉ huy phó các chiến dịch Long Châu Hà II và chiến dịch Sóc Trăng II. Cuối năm 1951, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Trung đoàn Cửu Long (Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ). Tháng 10 năm 1952, ông làm Trưởng phòng Chính trị rồi Chủ nhiệm Chính trị Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ - Quân khu ủy viên, ủy viên Ban Tuyên huấn và ủy viên Ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam.

Năm 1955, ông tập kết ra Bắc phụ trách Ban Đại diện miền Tây Nam Bộ. Tháng 12 năm 1955, ông làm Chủ nhiệm Chính trị Liên khu 3 - Quân khu ủy viên. Tháng 7 năm 1956, Ông làm Chính ủy Ban Nghiên cứu Sân bay. Tháng 12 năm 1958, ông được phong quân hàm Thượng tá. Tháng 1 năm 1959, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy đầu tiên của Cục Không quân.

Tháng 10 năm 1964, ông trở lại chiến trường Nam Bộ trên con tàu "không số" (Đoàn 125) với bí danh là Hoàng Dân tức Tư Dân, Nam tiến lần thứ hai. Lúc này, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng có chủ trương thành lập một sư đoàn chủ lực của Quân Giải phóng miền Nam ở miền Tây Nam Bộ. Ông về thẳng miền Tây để chuẩn bị cho việc thành lập sư đoàn này và đảm nhiệm chức vụ Chính ủy sư đoàn, nhưng vì nhiều lý do khách quan nên sư đoàn này không thành lập được.

Tháng 12 năm 1964, ông làm Phó Chính ủy Quân khu 8 (Trung Nam Bộ). Tháng 7 năm 1965, ông về miền Đông tham gia thành lập Sư đoàn 9 - Sư đoàn chủ lực đầu tiên của Quân Giải phóng miền Nam, làm Phó Chính ủy - Phó Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị đầu tiên của Sư đoàn 9.

Tháng 2 năm 1966, ông được phong quân hàm Đại tá. Tháng 8 năm 1966, ông về Mặt trận Tây Nguyên (B3) làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Sư đoàn 1, Đảng ủy viên Mặt trận B3; ông đã cùng Tư lệnh sư đoàn Nguyễn Hữu An chỉ huy, chỉ đạo Sư đoàn 1 đánh nhiều trận hay, đặc biệt là đánh thiệt hại nặng Lữ dù 173 của Mỹ trong chiến dịch Đắc Tô 1 trên đồi 875 ở phía tây bắc Kon Tum vào mùa đông năm 1967. Tháng 1 năm 1969, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Sư đoàn 304.

Tháng 7 năm 1970, ông được điều vào tuyến lửa Trường Sơn, làm Phó Chính ủy - Thường vụ Đảng ủy Mặt trận 968 Nam Lào rồi tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (tháng 1 năm 1971). Tháng 6 năm 1971, ông làm Phó Chính ủy - Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn (đoàn 559) kiêm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh khu vực 470 (tương đương Sư đoàn). Tháng 5 năm 1973, ông làm Chính ủy - Phó Bí thư rồi Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn.

Ngày 16 tháng 4 năm 1974, ông được phong quân hàm Thiếu tướng theo Lệnh số 21-LCT của Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Tôn Đức Thắng.

Tháng 2 năm 1975, ông được điều vào chiến trường B2 (Nam Bộ), Nam tiến lần thứ ba, làm Chính ủy đầu tiên - Bí thư Đảng ủy Quân đoàn 4, Phó Chính ủy - Thường vụ Đảng ủy Mặt trận phía Đông thuộc Bộ Tư lệnh B2. Ông trực tiếp chỉ huy hướng tiến công Dầu Tiếng - Chơn Thành. Tháng 4 năm 1975, ông tham gia chỉ huy cánh quân hướng Đông - một trong năm cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

Tháng 12 năm 1976, ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV.

Tháng 4 năm 1977, ông được cử làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Xây dựng Kinh tế - Bí thư Đảng ủy Tổng cục.

Từ tháng 10 năm 1978 đến tháng 6 năm 1982, ông làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, trưởng Ban B.68 Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Đoàn Chuyên gia Việt Nam toàn Campuchia, Cố vấn cho Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia, Phó Tổng đoàn chuyên gia Việt Nam tại Campuchia, Phó Tư lệnh Chính trị Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia kiêm Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Campuchia (đoàn 478).

Tháng 7 năm 1982, ông được điều về nước làm Thứ trưởng thứ nhất Bộ Thương binh và Xã hội. Tháng 5 năm 1983, ông được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa II. Tháng 2 năm 1987, ông làm Thứ trưởng thứ nhất Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Tháng 7 năm 1987, ông được nghỉ hưu.

"Có thể nói rằng, chặng đường chiến đấu của Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện ở Nam Bộ gắn liền với các đơn vị chủ lực, với quá trình xây dựng, chiến đấu và công tác của lực lượng vũ trang chủ lực ở Nam Bộ, từ trung đoàn đến cấp quân đoàn. Ông có mặt ở hầu khắp các chiến trường Nam Bộ, từ miền Tây, miền Trung lên miền Đông và thành phố Sài Gòn, từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến kháng chiến chống đế quốc Mỹ và những ngày tháng sôi động sau khi đất nước hòa bình, thống nhất. Những gì ông để lại cho lực lượng vũ trang Nam Bộ là hình ảnh một cán bộ chính trị - quân sự kiên trung, tận tụy, sâu sắc, mực thước và dung hậu. Với tư cách một người lính cầm súng, trên dọc đường hành quân đánh giặc, Nam Bộ là nơi ông dừng chân nhiều nhất, cũng là nơi ông dừng lại sau cùng" (Đại tá Hồ Sơn Đài, tiến sĩ Sử học)

"Cuộc đời và sự nghiệp của Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện là một tấm gương sáng về phẩm chất của người cán bộ cách mạng, một vị tướng trưởng thành từ cơ sở, qua nhiều cương vị, là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quân đội đứng mũi chịu sào của nhiều đơn vị. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đồng chí đã được Đảng tin cậy giao nhiệm vụ vào chiến trường Nam Bộ trong những thời điểm khó khăn nhất, nhưng đồng chí đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trên 50 năm hoạt động cách mạng, gần 40 năm chiến đấu và công tác trong Quân đội, đồng chí luôn thể hiện là một cán bộ chính trị - quân sự trung kiên, dũng cảm, trung thực, liêm khiết, sống gần gũi với đồng chí, đồng bào, nghiêm khắc với mọi biểu hiện cá nhân chủ nghĩa. Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện đã có nhiều công lao trong sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Là một vị tướng có uy tín của Quân đội, công lao và thành tích xuất sắc của đồng chí đã được Đảng, Nhà nước và Quân đội ta ghi nhận. Lịch sử hai cuộc kháng chiến vĩ đại của Dân tộc ta và lịch sử quá trình xây dựng, chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng còn mãi mãi ghi đậm hình ảnh và công lao vị tướng có tài tổ chức và chỉ huy chiến đấu, một Chính ủy kiên trung, mẫu mực, một đảng viên ưu tú của Đảng" (Thiếu tướng Trịnh Vương Hồng, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)

Bài viết và nguồn ảnh: gia đình

huy thanh
28-06-2009, 09:05 PM
http://img80.imageshack.us/img80/485/thieutuongphantrongtuegh5.jpg

Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ (1917 – 1991), nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam), nguyên Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, nguyên Phó Tổng thanh tra Quân đội, nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ Tư lệnh 559 (Bộ Tư lệnh Đường Trường Sơn), nguyên Thứ trưởng Bộ Công an.

Huân chương Sao Vàng (truy tặng 15/10/2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến thắng hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất và nhiều huân, huy chương khác.

"Đồng chí Phan Trọng Tuệ, người Cộng sản kiên trung, một vị tướng, một cán bộ cao cấp của Đảng, của Nhà nước có đức độ và tài năng, hết lòng vì nước vì dân. Đồng chí sớm giác ngộ cách mạng, gia nhập Đảng từ năm 1934 lúc mới 17 tuổi, đã 2 lần bị địch bắt, tù đày, tra tấn nhưng đồng chí vẫn giữ vững khí tiết…với tôi đồng chí là người bạn chiến đấu thủy chung". (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

"Anh Phan Trọng Tuệ không chỉ đóng góp cho ngành Giao thông vận tải mà còn có nhiều cống hiến đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc XHCN, đấu tranh thống nhất nước nhà… Anh đã rất xuất sắc trên cương vị Chính ủy và Tư lệnh Đoàn 559 mở đường cơ giới cho ôtô đi sâu vào các chiến trường miền Nam. Anh huy động các lực lượng giao thông vận tải làm hậu cần cho quân đội giành thắng lợi cuối cùng ở Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sau khi thống nhất nước nhà, anh đã chỉ đạo nhanh chóng khôi phục đường sắt thống nhất Bắc - Nam vào dịp Đại hội Đảng lần thứ 4 (1976)’’ (Nguyễn Văn Trân, nguyên Bí thư Thành ủy Hà nội, nguyên Chủ tịch Ủy ban bảo vệ Hà Nội trong những ngày Toàn quốc kháng chiến)

Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ quê ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây – một vùng đất giàu truyền thống yêu nước. Dòng họ Phan ở Sài Sơn xuất phát từ Thạch Hà, Hà Tĩnh với ông tổ là Danh sĩ Phan Huy Ích. Phan Huy Ích chuyển từ Hà Tĩnh ra định cư tại xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây và sinh ra Phan Huy Chú, nhà Bác học, Sư học nổi tiếng thời Nguyễn. Tuy nhiên, ông lại sinh ra tại Viên Chăn, Lào. Cụ thân sinh ra ông là Phan Trọng Định, khoảng đầu thế kỷ 20, đã phiêu bạt sang tận Lào, Thái Lan mưu sinh.

Sau khi gây dựng được cơ ngơi tại Viên Chăn, cụ Định về quê đón cụ bà Trịnh Thị Miễn cùng 2 người con gái là Phan Thị Lạng và Phan Thị Nén sang đoàn tụ. Tại vùng đất mới 2 cụ sinh thêm ra các ông bà Phan Trọng Tuệ, Phan Trọng Quang, Phan Thị Sáng, Phan Thị Suốt.

Khoảng giữa năm 1930, Viêng Chăn trở thành nơi lưu trú của nhiều chiến sĩ cách mạng sau sự kiện Xôviết Nghệ Tĩnh bị dìm trong biển máu, phải lẩn trốn sự truy lùng của mật thám Pháp.

Cụ bà Trịnh Thị Miễn, tuy chỉ là người nội trợ, nhưng cũng là người đứng đầu tổ chức ái hữu, đã vận động bà con Việt kiều che chở, đùm bọc những chiến sĩ cách mạng. Được tiếp xúc với sách báo tiến bộ và những người cách mạng, Phan Trọng Tuệ đã tích cực tham gia các hoạt động xã hội như giúp đỡ người nghèo, chống lại sự hà hiếp, áp bức của bọn chức dịch, tay sai…

Năm 1934, Phan Trọng Tuệ trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1935, Phan Trọng Tuệ tham gia lãnh đạo cuộc mít tinh lớn phản đối thực dân Pháp, nên bị bắt giam 4 tháng. Sự việc này, cùng với ảnh hưởng và những việc làm yêu nước của gia đình họ Phan khiến chính quyền sở tại lo ngại, họ bèn trục xuất cả gia đình về quê gốc Sài Sơn để quản thúc cùng với Nguyễn Văn Thọ và Đào Văn Tiễu. Thời gian này, ông cùng các đồng chí của mình đã nhanh chóng khôi phục hoạt động, tổ chức vận động cách mạng ngay tại quê hương. Tháng 8/1936, "Tổ Cộng sản Đa Phúc" đã được thành lập tại nhà của ông với ba thành viên chủ chốt là Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Văn Thọ, Đào Văn Tiễu. Tổ được ra đời nhằm công việc Tuyên truyền, vận động cách mạng trong quần chúng nhân dân địa phương và tìm cách bắt liên lạc với Đảng Cộng sản Đông Dương.

Năm 1937 ông trực tiếp phụ trách chi bộ Ðảng ở xã Sài Sơn và liên lạc với Thành uỷ Hà Nội. Năm 1940 ông là Bí thư Tỉnh uỷ lâm thời tỉnh Sơn Tây.

Năm 1941: Bí tỉnh uỷ Hà Ðông, rồi Bí thư liên tỉnh uỷ gồm Hà Nội, Hà Ðông, Sơn Tây, Hà Nam. Cuối năm 1941, ông là Xứ uỷ viên xứ uỷ Bắc Kỳ phụ trách công tác binh vận.

Tháng 9/1943, ông bị thực dân Pháp bắt tại Hà Nam và đem giam tại Hỏa Lò, Hà Nội. Cuối năm này ông bị kết án 27 năm tù và đày đi Côn Đảo cùng với hơn mười ‘’tù chính trị nguy hiểm’’ khác trong đó có Trần Văn An, Vũ Xuân Chiêm (sau này là Trung tướng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng). Trong tù ông tiếp tục hoạt động cách mạng, là chi ủy viên khối Hà Nội-Sơn La.

Cách mạng tháng Tám thành công, ông công tác trong Ban trật tự Côn Đảo cho đến ngày 20/9. Ông được Ủy ban Khởi nghĩa Nam Bộ cho thuyền ra đón và trở về cửa Mỹ Thanh thuộc Sóc Trăng trong đêm 22/9 cùng với nhiều tù chính trị khác trong đó có Bác Tôn và Lê Duẩn.

Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, các tù chính trị Côn Đảo được phân công đi các tỉnh miền Nam và miền Trung lãnh đạo kháng chiến. Phan Trọng Tuệ được phân công ở lại miền Tây Nam Bộ trên cương vị Thanh tra kháng chiến Hậu Giang, Ủy viên liên tỉnh ủy (gồm 10 tỉnh miền Tây Nam Bộ). Ngày 23/8/1947, ông được cử giữ chức Chính trị viên Khu 9.

Từ tháng 12 năm 1948 đến năm 1950, ông làm Chính ủy Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn; Chính ủy Khu VII; Thanh tra Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Từ năm 1952 đến năm 1954, ông làm Tư lệnh, sau đó Phó Tư lệnh kiêm Chính ủy Phân liên khu miền Tây Nam Bộ.

Từ tháng 8 năm 1954, ông là Đại tá Phó Trưởng đoàn Liên hiệp đình chiến Nam Bộ rồi quyền Trưởng đoàn Đại biểu Bộ tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Ủy ban liên hiệp đình chiến Trung ương, đồng thời ông cũng giữ vai trò Phó Trưởng đoàn liên hiệp định chiến Trung ương. Năm 1955, ông được thăng quân hàm Thiếu tướng theo Sắc lệnh 243-SL ngày 3 tháng 11 năm 1955, do Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh kí.

Tháng 3 năm 1957, ông làm Phó Tổng thanh tra Quân đội.

Ngày 19/11/1958, các đơn vị bộ đội quốc phòng đang làm công tác bảo vệ nội địa, bảo vệ biên giới, bờ biển, giới tuyến và các lực lượng vũ trang khác chuyên trách công tác bảo vệ nội địa và biên phòng, giao cho ngành công an trực tiếp chỉ đạo, lấy tên là Lực lượng Cảnh vệ, ông được cử phụ trách lực lượng này kiêm Thứ trưởng Bộ Công an. Ngày 3/3/1959, Khi lực lượng Công an vũ trang (tiền thân của lực lượng Biên phòng) được thành lập, ông được cử làm Tư lệnh kiêm Chính ủy đầu tiên của Lực lượng Công an nhân dân vũ trang cho đến năm 1961.

Năm 1961 đến năm 1980, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và là Bộ trưởng lâu năm nhất của Bộ này. Thời gian ông làm Bộ trưởng kéo dài suốt cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc và thời kì khôi phục cơ sở giao thông, đường sá cầu cống Bắc Nam sau chiến tranh.

Từ năm 1965 đến năm 1968, ông được cử vào tuyến chiến lược Trường Sơn, làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Đoàn 559 thay cho Đại tá Hoàng Văn Thái đi nhận nhiệm vụ khác. Đây cũng là thời điểm bắt đầu mở đường Trường Sơn cho cơ giới nhằm đáp ứng với đòi hỏi của thực tế chiến trường là quân Mĩ ào ạt đổ bộ vào miền Nam Việt Nam.

Năm 1968, trên cương vị Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải ông vào phụ trách và chỉ đạo công tác bảo đảm giao thông trên địa bàn Quân khu IV nhằm phục vụ cho công tác chi viện cho chiến trường miền Nam, đặc biệt là trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Bởi vì, địa bàn Quân khu IV là địa bàn tập trung binh lực, vũ khí, đạn dược…chi viện của miền Bắc trước khi vượt Trường Sơn vào Nam cho nên luôn là trọng điểm đánh phá của giặc Mĩ.

Từ năm 1973 đến năm 1976, ông kiêm chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thời gian này ông cùng Phó Thủ tướng Đỗ Mười thay mặt Chính phủ chỉ đạo việc phát triển Đường Trường Sơn thành đường chuẩn Quốc gia. Đây là một vấn đề mang tính chiến lược, góp phần quan trọng tạo thế và lực cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.

Từ cuối năm 1974 đến 1975, ông làm Ủy viên Thường trực Hội đồng Chi viện giải phóng miền Nam.

Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa III và VI. Đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VI.

Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ là một vị Bộ tưởng có tài quản lý và có tầm nhìn chiến lược đối với sự phát triển của Bộ Giao thông Vận tải, nhằm đáp ứng những đòi hỏi và yêu cầu thực tế của tình hình đất nước. Năm 1961, ngay khi được cử làm Bộ trưởng, ông đã chỉ đạo các cán bộ khoa học kĩ thuật của Bộ nghiên cứu, thiết kế, đóng mới loại tàu cỡ nhỏ của Bộ Quốc phòng. Đây là một công tác bí mật mang tính chiến lược, vì đó chính là những con tàu không số huyền thoại. Ngành đóng tầu Việt Nam hiện nay là một trong những ngành cônng nghiệp trọng điểm rất phát triển, ngành mà chúng ta hoàn toàn có thể tự chủ từ khâu thiết kế đến khâu thi công. Hiếm ai biết được ngay từ năm 1970, chính Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ đã chỉ đạo cán bộ của Bộ thực hiện đề tài “Về chiến lược cần xây dựng Việt Nam thành một quốc gia hàng hải - với nền kinh tế biển phát triển - một hạm đội mạnh - một đội thương thuyền mạnh. Muốn vậy phải xây dựng một nền công nghiệp đóng tàu Việt Nam hiện đại và phát triển”, ông luôn quan tâm đến việc xây dựng lực lượng nghiên cứu thiết kết và lực lượng đăng kiểm.

Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ không những yêu khoa học, thích kỹ thuật, mà còn có tư duy khoa học, kỹ thuật rất độc đáo, một con người rất coi trọng trí tuệ và trí thức. Ông luôn luôn quan tâm động viên, khuyến khích các cán bộ khoa học kĩ thuật, tạo điều kiện cho họ hoàn thành nhiệm vụ của mình trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh và đồng thời rất biết tiếp thu những đề suất cũng như những ý tưởng của họ. Ông thường nói “Cán bộ khoa học phải cố làm những gì sản xuất và chiến đấu đang cần với cái gì đang có và sẽ tạo ra với ý chí quyết tâm học hỏi - phàm những việc người khác làm ta cố gắng rồi cũng làm được. Ta đã thắng giặc Mỹ trên mặt trận giao thông vận tải đâu chỉ bằng sức lực mà cả bằng trí tuệ nữa. Trí tuệ Việt Nam có chịu thua kém đâu”. Chính tướng Phan Trọng Tuệ là người gợi ý cho các đề tài khoa học như : ca-nô không người lái dùng để phá thủy lôi, rồi ý tưởng cho ô tô chạy trực tiếp trên dây cáp thông qua kẽ hở vành lốp ô tô – đây chính là cơ sở cho đề tài khoa học ‘’nghiên cứu các biện pháp vượt sông bằng hệ dây đàn hôi’’.

huy thanh
28-06-2009, 09:08 PM
http://img80.imageshack.us/img80/6803/tuongnguyenbinhcq1.jpg

Trung tướng Nguyễn Bình (1908 – 29/9/1951), Anh hùng Lực lượng Vũt rang Nhân dân (truy tặng) nguyên Khu trưởng Khu VII, nguyên Chỉ huy trưởng Chiến khu Đông Triều. Ông được phong hàm Trung tướng ngay trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.

‘’Bác giao miền Nam cho chú’’ (Chủ tịch Hồ Chí Minh)

“Thảo có can đảm, vũ dũng hơn người và trung hậu với bạn, trung thành với đoàn thể. Trước Cách mạng Tháng Tám, Thảo lập chiến khu Đông Triều một cách tự động...” (Nhà sử học Trần Huy Liệu)
Nguyễn Bình tên khai sinh là Nguyễn Phương Thảo, quê làng An Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ nhưng sống ở thành phố Hải Phòng.

Ông sinh năm 1908 trong một gia đình trung lưu có 5 người con, ông là thứ 4. Năm 17 tuổi đang học năm thứ 2 trường Trung học Hải Phòng, vì những hoạt động yêu nước và bị thực dân Pháp truy lùng, ông trốn gia đình vào Nam giao du với nhà văn giang hồ Vương Sơn. Sau ông kết thân với nhà văn, nhà báo Trần Huy Liệu bấy giờ là Đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng và trở thành Đảng viên tích cực của Đảng này, giữ chức Trưởng ban tổ chức. Năm 1928 Xứ bộ Việt Nam Quốc dân Đảng Nam Kỳ được thành lập, hoạt động với tôn chỉ: “Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc”. Ông được bầu vào Ban chấp hành Xứ bộ, Trần Huy Liệu giữ chức Bí thư.

Năm 1929 ông và Trần Huy Liệu bị bắt, bị kết án 5 năm tù và đày Côn Đảo. Khi ở tù, được tiếp xúc với những đảng viên cộng sản, ông có thiện cảm với Đảng cộng sản, đường lối đấu tranh của ông bắt đầu ngả sang những người cộng sản. Chính vì vậy mà ông bị bọn cầm đầu Quốc dân Đảng thanh trừng, bị khoét mất mắt trái. Cũng từ đó ông nhận ra rằng khẩu hiệu của chủ nghĩa Tam dân thực chất chỉ là khẩu hiệu suông, còn bọn cầm đầu thì theo mục đích: “Vinh thân thì gia” và không ngần ngại thủ tiêu những đồng đảng khác chính kiến.

Năm 1935 mãn hạn tù, ông trở về quê nhà. Ông tiếp tục hoạt động, bí mật xây dựng chiến khu Đông Triều, ông bị bắt một lần nữa từ năm 1938 đến năm 1942. Tuy bị quản thúc nhưng ông vẫn nuôi ý chí cách mạng, bí mật xây dựng Đông Triều làm căn cứ chống Pháp một cách độc lập. Khoảng năm 1942, ông được tổ chức Đảng và Việt Minh giao cho nhiệm vụ mua vũ khí chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa. Ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đồng thời còn vận động binh lính các đồn Thủy Nguyên, Cửa Ông, thị xã Kiến An cung cấp vũ khí. Nhờ súng đạn nhiều mà Đông Triều trở thành chiến khu vững vàng và chùa Bắc Mã là tổng hành dinh của quân giải phóng chiến khu Đông Triều.

Đêm 12/3/1945 ông tham gia đánh trận đồn Bần Yên Nhân, thu được nhiều thắng lợi. Trận đánh đồn Bần được coi là trận đánh kiểu mẫu ở đồng bằng.

Cũng trong tháng 3-1945, ông đã lãnh đạo tổ chức đánh cướp tàu Pháp ở Hạ Lý-Hải Phòng, hạ đồn Đông Triều, diệt đồn Bí Chợ, đánh địch chiếm thị xã Uông Bí.

Tháng 4/1945 Hội nghị quân sự Bắc kỳ quyết định cả nước chia làm 7 quân khu, Bắc Bộ có 4, ông giữ chức Tư lệnh Đệ tứ quân khu (tức chiến khu Đông Triều gồm các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hải Phòng, Hòn Gai, Móng Cái và Lạng Sơn).

Trong tháng 6, tháng 7 năm 1945 ông chỉ huy nhiều trận đánh lớn, thu được nhiều lương thực và vũ khí, như trận phục kích trên sông Kinh Thầy, trận tấn công đồng loạt 5 đồn Thanh Hà, Kinh Môn, Thuỷ Nguyên, Uông Bí, và Bí Chợ, đặc biệt là trận đánh chiếm giải phóng thị xã Quảng Yên, là tỉnh lị duy nhất ở miền Bắc về tay nhân dân trước cách mạng tháng Tám. Trong các trận này thu 600 súng trường, 400 trung liên. Thừa thắng ông mang quân đi yểm trợ cuộc khởi nghĩa ở Hải Phòng, sau đó giải phóng Tiên Yên, Ba Chẽ, Hòn Gai, Cẩm Phả, Cát Bà.

Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông dẫn gần 100 nghĩa quân tiến theo cờ đỏ sao vàng trên đường 18 hướng tới Đông Triều. Cả đoàn chỉ có một súng trường, còn toàn giáo mác. Cánh tay phải của mỗi người đeo một băng đỏ dính sao vàng. Riêng trên ngực ông có gắn miềng vải đỏ có chữ TCH-tức Tổng chỉ huy…Từ chiến khu Đông Triều, ông đã chỉ huy lực lượng tiến công phối hợp với nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, tổ chức giành chính quyền ở Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An. Hải Dương là một trong những tỉnh giành được chính quyền đầu tiên trong cả nước, trước khi mệnh lệnh tổng khởi nghĩa về đến. Sau đó, ông được giao làm khu trưởng Khu duyên hải Bắc Bộ, ông là người có công lớn trong bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ ở đây.

Do có biệt tài về quân sự, tháng 9/1945 ông được Hồ Chủ tịch cử vào miền Nam lo việc thống nhất các lực lượng vũ trang tại chiến trường Nam Bộ.

Ông thưa với Bác :

- Thưa Bác, được Bác tin cậy trao cho nhiệm vụ vô cùng lớn lao, vô cùng hiểm nguy và nặng nề, Nguyễn Bình xin bái mệnh, nhưng…

- Chú nhận nhiệm vụ rồi sao còn ‘’nhưng’’ ?

- Thưa Bác, một Nguyễn Bình giang hồ ngang dọc để làm việc nghĩa, một Nguyễn Bình Quốc dân đảng để cứu nước đã thất bại…Nguyễn Bình ly khai Quốc dân đảng bị kết tội phản đảng, họ trị tội bằng cách móc một mắt. Nguyễn Bình không chết đã tìm đến con đường của ‘’Ông Nguyễn yêu nước’’. Giờ đây được Bác tin cậy giao việc lớn cho cháu, nhưng cháu chưa phải là Đảng viên đảng cộng sản…

Bác Hồ mỉm cười :

- Đảng viên cộng sản ử ? Tổ quốc trên hết ! Tôi giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Bình ái quốc, ái dân và bình thiên hạ cho an sinh hòa mục…

Tháng 10 năm 1945, ông vào Nam đi theo ngả Tây Nguyên tới thị xã Thủ Dầu Một, ở nhà ông giáo Chương. Sau đó, được ông Võ Bá Nhạc là con rể ông Chương nhường sở cao su Bến Vịnh mà chủ người Pháp giao cho quản lý để ông lập tổng hành dinh. Chính ông Võ Bá Nhạc là chánh văn phòng cho ông từ ngày đầu cho tới lúc hy sinh.

Ông được giao giữ chức ủy viên quân sự Nam bộ kiêm khu trưởng khu VII, rồi Tư lệnh mặt trận Nam Bộ với toàn quyền quyết định các việc thuộc lĩnh vực quân sự tại Nam Bộ, theo sắc lệnh số 18/SL ngày 21 tháng 3 năm 1949 của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong những ngày đầu kháng chiến, tình hình Nam Bộ hết sức rối ren, phức tạp, có thể ví như thời kỳ “Thập nhị sứ quân” - gồm nhiều Đảng phái, anh hùng hảo hán và phải đối diện với một đội quân viễn chinh hùng hậu. Nguyễn Bình đã tìm mọi cách tập hợp các lực lượng kháng chiến dưới sự chỉ huy chung và nhanh chóng tổ chức một cuộc kháng chiến toàn lực, toàn diện.

Đây là nhiệm vụ vô cùng khó khăn vì trong Nam lúc đó rất nhiều màu sắc chính trị, đảng phái và tôn giáo như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên, Hải Hồ (do Nhật tổ chức)... Nguyễn Bình tìm được giọng nói thích hợp với từng hạng người. Với tư sản Sài Gòn, ông đề cập tinh thần quốc gia. Với nông dân ông nói về chia ruộng đất các đại điền chủ cấp cho dân nghèo. Với thanh niên ông hô hào lòng dũng cảm vì nước quên mình... Nhưng ông cũng dùng cả hình phạt với những kẻ lợi dụng chiến tranh để làm giàu bằng cách hợp tác với Pháp... Tổng hành dinh của ông ở giữa Đồng Tháp Mười mà lại tiếp giáp cửa ngõ Sài Gòn, nhờ khéo ngụy trang mà không bị quân Pháp tìm thấy. Một bộ máy hành chính, kinh tế và quân sự cực kỳ phức tạp được thiết lập trên khắp Nam Bộ. Tất cả các làng và các phường hộ trong thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn đều có cán bộ lãnh đạo nhân dân, thu thuế và thi hành các bản án dành cho bọn phản động...”.

Vào Nam, tướng Nguyễn Bình đã sử dụng tài đức của mình kể cả tác phong anh hùng mã thượng để thu phục các nhóm của Bảy Môn, Mười Lực, Mười Trí, Bảy Viễn, Tám Mạnh, Ba Dương... Chẳng những thế, tướng Nguyễn Bình còn thu phục được giới trí thức làm việc dưới trướng như giáo sư Phạm Thiều, Đặng Minh Trứ, luật gia Lê Đình Chi, Huỳnh Kim Trương, Huỳnh Văn Nghệ...

Tướng Nguyễn Bình còn tỏ ra vị tướng có bản lĩnh phi thường khi một mình vào Sài Gòn để nghiên cứu tình địch, hay khi làm chánh án xử Ba Nhỏ tử hình, Ba Nhỏ xin ân huệ được dùng súng ngắn của tướng Nguyễn Bình để tự xử. Ông đã bình tĩnh tháo súng sai người đưa cho Ba Nhỏ. Mọi người hồi hộp lo lắng cho ông. Ba Nhỏ đã nhận súng và tự xử trước mặt mọi người. Ông Chánh án Nguyễn Bình và tử tội Ba Nhỏ đều hiên ngang đầy đủ khí phách như nhau trước cái chết và cái còn mạnh hơn cái chết đó là: danh dự.

Những chiến công buổi đầu của quân dân Nam Bộ được gắn liền với tên tuổi Nguyễn Bình, khiến các giới chính trị, quân sự Pháp cũng phải kính nể.

Năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam.

Ngày 25/1/1948 Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh phong cho ông hàm Trung tướng. Đây là trung tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tháng 9/1951, theo yêu cầu của Trung ương, ông lên đường ra Bắc nhận nhiệm vụ mới. Trên đường đi ông bị giặc phục kích, hy sinh tại biên giới Việt Nam - Campuchia.

Trung tướng Nguyễn Bình là người chỉ huy mưu lược, quyết đoán và dũng cảm, giữ kỷ luật nghiêm minh, lập nhiều chiến công xuất sắc ở những nơi nguy hiểm vào những thời điểm khó khăn nhất. Ông có công trong việc thống nhất lực lượng kháng chiến ở Nam Bộ và xây dựng Ban công tác thành (biệt động) Sài Gòn. Tháng 2 năm 1952 Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh 84/SL truy tặng ông Huân chương Quân công hạng nhất. Ông cũng là người đầu tiên trong quân đội được nhận Huân chương cao quý này.

Sau khi ông qua đời, nhiều sách báo đã viết về ông như một hiện tượng đặc biệt về tài năng quân sự những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.

Sử gia người Pháp chuyên về Đông Dương P.Sê-nút đã viết về “Nguyễn Bình-ông tướng một mắt”. Các sử gia người Pháp tặng Nguyễn Bình biệt danh “Lưu Bá Thừa của Việt Nam”-Lưu Bá Thừa là tướng “độc nhãn long” nổi tiếng chuyên về tiến hành chiến tranh du kích của Quân giải phóng Trung Hoa. Sê-nút đã ngợi ca Nguyễn Bình là “Lưu Bá Thừa của Việt Nam” đã ngã xuống cho Nam Bộ đứng lên.

Tuy nhiên ở đây cũng phải nói đến mỗi quan hệ giữa tài năng của Nguyễn Bình và sự tinh tế, mạnh dạn trong cách dùng người của Bác Hồ. Một vị chỉ huy như Nguyễn Bình, sau cách mạng xứng đáng được đứng vào hàng ngũ những người cộng sản mà sao phải đợi đến năm 1946 ! Chắc hẳn không phải Nguyễn Bình là người duy nhất trong số rất ít những người có khả năng đảm đương vai trò của ông vào thời điểm những buổi đầu của Nam Bộ kháng chiến mà Bác chỉ tin tưởng giao phó cho ông ‘’Bác giao Nam Bộ cho chú’’ ! Tất nhiên có rất nhiều lí do, nhưng ta có thể kể đến những lí do có tính chiến lược như : với tình trạng của Nam Bộ thời kì đầu của Nam Bộ kháng chiến, thì việc một người ngoài Đảng cộng sản sẽ có tiếng nói mạnh mẽ hơn đối với đông đảo đồng bào Nam Bộ vốn thời kì đó trong tình trạng ‘’cát cứ phân tranh’’ với nhiều màu sắc chính trị, đảng phái, tôn giáo…Mặc khác, vì là người ngoài Đảng cho nên ông sẽ ít bị mật thám Pháp để ý hơn. Thực tế lúc bấy giờ, quân Pháp không biết gì nhiều về ông. Quân Pháp tập trung vào việc tìm hiểu, điều tra các ông Trần Văn Giàu – Trưởng ban kháng chiến Nam Bộ, rồi ông Phạm Ngọc Thạch…mà ít chú ý đến tướng Nguyễn Bình, trong khi chính ông mặc dù chỉ là Ủy viên quân sự nhưng thực tế là người thiết kế, tổ chức kháng chiến…

Năm 2000, Bộ Tư lệnh quân khu VII đã di chuyển hài cốt ông về an táng tại nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh. Ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

huy thanh
28-06-2009, 09:11 PM
http://img171.imageshack.us/img171/3060/thieutuongtrantubinhch6.jpg

Thiếu tướng Trần Tử Bình (1907 – 11/2/1967), nguyên Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, nguyên Tổng thanh tra Quân đội kiêm Phó Tổng thanh tra chính phủ, nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Là một trong 9 cán bộ đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh kí quyết định phong quân hàm Thiếu tướng.


Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhất.

“Đồng chí Trần Tử Bình đã hoạt động không mệt mỏi và có những cống hiến quan trọng trong việc tăng cường mối tình hữu nghị chiến đấu anh em giữa nhân dân hai nước Trung - Việt” (Thủ tướng Chu Ân Lai)

“Anh là tấm gương sáng cho các thế hệ hiện nay và mai sau học tập. Tôi mãi mãi giữ những kỷ niệm và ấn tượng tốt đẹp về anh!”. (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

“Là một chương sử thời đại mà ông (Trần Tử Bình) đã sống, đã cống hiến một cách tận tụy và hóa thân cho một sự nghiệp lớn”. (Nhà Sử học Dương Trung Quốc)
Thiếu tướng Trần Tử Bình tên thật là Phạm Văn Phu sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo theo đạo Thiên Chúa tại xã Tiêu Động, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

Là một thanh niên công giáo theo học ở trường dòng, thông qua sách báo tiến bộ mà giác ngộ Cách mạng. Cuối năm 1926, vì tham gia phong trào vận động giáo sinh ở Chủng viện Hoàng Nguyên (thuộc giáo phận Hà Đông) để tang cụ Phan Châu Trinh cho nên ông bị đuổi học. Trên đường kiếm sống ông đã gặp nhà cách mạng Tống Văn Trân, đây là bước ngoặt lớn đối với ông, bước ngoặt đưa ông đến với Cách mạng đến với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân.

Lãnh đạo Phú Riềng đỏ

Giữa năm 1927, cùng với đoàn người đi phu đồn điền cao su vào Nam bằng tàu biển xuất phát từ cảng Hải Phòng, ông vào làm phu tại Phú Riềng. Ngay trong thời gian tại khu nhà tôn phường Hạ Lý (thành phố Hải Phòng), trong suy nghĩ của những người đi phu, ông đã trở thành người thủ lĩnh bởi tính tình thẳng thắn, hay giúp người và điều đặc biệt ông là người duy nhất trong số họ được học hành.

Tại Phú Riềng, Trần Tử Bình đã vạch trần những thủ đoạn bóc lột của giới chủ Pháp đối với người công nhân đồn điền cao su. Như : lợi dụng họ không biết chữ để dùng các hợp đồng lao động ràng buộc và bóc lột họ, nói một đằng và viết một nẻo. Cai thầu (Phan Tất Tạo) ăn chặn tiền của công nhân, bớt xén khẩu phần của dân phu…Với vai trò là người nêu vấn đề, ông đã phát động phong trào đấu tranh với giới chủ (tuyệt thực…) khiến cai thầu phải nhượng bộ.

Trong thời gian này, ông được nhà cách mạng Ngô Gia Tự giác ngộ thêm và kết nạp vào Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Đầu năm 1928, theo chỉ thị của Ngô Gia Tự, Nguyễn Xuân Cừ và Trần Tử Bình đi vào tổ chức quần chúng. Họ đã thiết lập Nghiệp đoàn Cao su Phú Riềng với thành viên là 1/3 tổng số những người lao động tại Phú Riềng.

Tháng 10/1929, chi bộ Cộng sản đầu tiên của Phú Riềng ra đời gồm 6 thành viên và ông chính thức trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương và là Bí thư chi bộ.

Ngày 30/1/1930 (đúng mùng Một Tết Canh Ngọ), dưới sự lãnh đạo của Trần Tử Bình, 5000 công nhân đồn điền đã tiến hành biểu tình và bao vây khu nhà của chủ đồn điền buộc giới chủ phải thực hiện những quyền lợi thiết yếu cho người công nhân. Tiếp đó họ đã chiếm giữ khu trại cưa, tước vũ khí của viên giám thị và viên cai, chiếm nhà máy điện, nhà máy cưa, kho gạo…Phú Riềng đặt trong quyền kiểm soát của công nhân.

Sáng ngày 6 tháng 2, thực dân Pháp huy động xe bọc thép, hơn 300 lính lê dương, 500 lính khố đỏ, do đích thân Thống xứ Nam Kỳ Krauheime, cùng Công sứ Biên Hòa Marty, Phó công sứ Biên Hòa Vilmont và Chánh mật thám Đông Dương Arnoux chỉ huy đã tiến tới khu vực đồn điền Phú Riềng. Sau đó, tuy phong trào đấu tranh của công nhân Phú Riềng bị đàn áp xong giới chủ buộc phải nhượng bộ một số yêu cầu của công nhân. Trần Tử Bình cùng những người lãnh đạo phong trào Phú Riềng đỏ bị bắt. Ông bị kết án 10 năm tù và bị đày ra Côn Đảo.

Tại Côn Đảo ông vẫn tiếp tục đấu tranh và học tập nâng cao lý luận cũng như kinh nghiệm hoạt động Cách mạng. Trong thời kì này ở ngoài Côn Đảo có rất nhiều những tù chính trị mà sau này trở thành những lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam như Tôn Ðức Thắng, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng…


Vượt ngục Hỏa Lò

Do ảnh hưởng của Mặt trận bình dân, năm 1936, ông được trả về đất liền và bị quản thúc ở quê nhà huyện Bình Lục, Hà Nam. Ông tiếp tục bí mật hoạt động và giữ các chức vụ như Bí thư huyện Bình Lục, Bí thư Tỉnh ủy.

Năm 1940, ông được bầu vào Xứ uỷ Bắc Kỳ và trực tiếp phụ trách Liên tỉnh C (Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình) rồi Liên tỉnh D (Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang) vào năm 1941. Thời kì này ông lấy bí danh là Minh.

Tháng 4 năm 1943, do phản bội chỉ điểm, hai ông Hoàng Văn Thụ và Vũ Kỳ bị bắt. Rồi tiếp đến, tháng 9 năm 1943, ông Phan Trọng Tuệ bị bắt, Trần Tử Bình chạy thoát. Tháng 12/1943, ông bị bắt ở Thái Bình. Sau khi vượt ngục không thành tại Hà Nam, thực dân Pháp chuyển ông về giam tại Hỏa Lò, Hà Nội. Tại đây ông bị tra khảo bằng cực hình nhưng vẫn giữ khí phách của người Cách mạng khiến cho kẻ thù phải khiếp sợ thốt lên ‘’sợ cái gan cộng sản đó !’’.

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, cùng với chi bộ nhà tù Hỏa Lò do ông Đỗ Mười lãnh đạo, Trần Tử Bình đã tổ chức thành công hai đợt vượt ngục tập thể cho gần 100 tù chính trị thông qua đường cống ngầm. Đây chính là nguồn lực quan trọng chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám. Sau đó theo phân công ông về tổ chức và xây dựng chiến khu Hòa – Ninh – Thanh.

Tham gia lãnh đạo Cách mạng tháng Tám

Thực hiện chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", ngày 18/8/1945 ông Nguyễn Khang, Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa và Trần Tử Bình, thường vụ Xứ uỷ phụ trách Quân sự, đã quyết định khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội. Cuộc khởi nghĩa kịp thời đã làm thất bại âm mưu của Phát xít Nhật đưa tên Việt gian Nguyễn Xuân Chữ từ Sing-ga-po về thay Phan Kế Toại đã bỏ nhiệm sở từ hôm 17/8.

Ngày 19/8, khi lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện trước mặt tiền Nhà Hát Lớn, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quần chúng kéo đến Phủ Khâm sai (12 Ngô Quyền) và ngay khi cánh cổng lớn được mở ra, Trần Tử Bình đã xông lên, ra lệnh cho tự vệ bắt Nguyễn Xuân Chữ đưa về an toàn khu của Xứ ủy ở làng Vạn Phúc, Hà Đông. Sau đó hai ông Nguyễn Khang và Trần Tử Bình đã dùng tổng đài điện thoại trong Phủ Khâm sai ra lệnh cho chính quyền tay sai ở các tỉnh, huyện "Phải trao quyền ngay cho Việt Minh".

Đêm 19 rạng sáng 20/9/1945, Xứ uỷ quyết định thành lập Chính quyền Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Bắc Bộ và cử ông Nguyễn Khang làm Chủ tịch, đóng trụ sở ở Phủ Khâm sai (Bắc Bộ phủ). Trần Tử Bình tiếp tục hỗ trợ chỉ đạo các cuộc khởi nghĩa ở Hải Phòng, Hà Đông. Cuộc khởi nghĩa thành công ở Hà Nội đã nhanh chóng thúc đẩy các địa phương nổi dậy giành chính quyền và đưa Cách mạng tới thắng lợi trong cả nước…

Tướng quân Trần Tử Bình

Tháng 9 năm 1945, ông được giao nhiệm vụ Phó giám đốc, Chính trị uỷ viên Trường Quân chính Việt Nam (sau đổi tên là Trường Cán bộ Việt Nam). Tháng 5 năm 1946, ông nhận nhiệm vụ Phó giám đốc, Chính uỷ Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn.

Năm 1947, ông được đề bạt làm Phó bí thư Quân uỷ Trung ương, Phó Tổng thanh tra Quân đội. Thu đông 1947, Trần Tử Bình chỉ huy mặt trận Đường số 2 – Sông Lô, đập tan một trong hai gọng kìm của quân Pháp tiến quân lên Việt Bắc hòng bắt giữ cơ quan đầu não kháng chiến.

Ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 112/SL phong hàm Thiếu tướng cho đồng chí Trần Tử Bình; ông trở thành 1 trong số 11 vị tướng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.1950-1956, ông nhận nhiệm vụ Chính uỷ Trường Lục quân Việt Nam tại Trung Quốc.

Là Phó tổng Thanh tra quân đội ông tham gia giải quyết những vụ án lớn như vụ “gián điệp ảo” H122, vụ tham nhũng của đại tá Trần Dụ Châu, Tổng cục trưởng Tổng cục cung cấp…

Tháng 2 năm 1951, ông được cử làm đại biểu quân đội dự Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam II tại Việt Bắc.

Thời gian 1956-1958, ông nhận nhiệm vụ Tổng thanh tra Quân đội, Phó tổng thanh tra Chính phủ, tham gia củng cố và trong sạch hoá chính quyền thời hậu chiến.

Năm 1960, ông được bầu làm đại biểu quân đội dự Đại hội Đảng III, và được bầu vào Ban chấp hành Trung ương. Ông cũng là đại biểu Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khoá II và khoá III.

Nhà ngoại giao Trần Tử Bình

Năm 1959, cách mạng nước ta đứng trước những thời cơ mới. Nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các nước anh em, đặc biệt là Trung Quốc và Liên Xô, Thiếu tướng Trần Tử Bình được cử làm Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc, và tại Mông Cổ.

Vào những năm 1960, Đại sứ Trần Tử Bình đã góp phần tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các lãnh Trung Quốc với cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam.

Thập niên 1960 quan hệ chính trị giữa Trung Quốc và Liên Xô, hai quốc gia bảo trợ cho Việt Nam trong cuộc nội chiến, trở nên rất căng thẳng. Lãnh đạo Trung Quốc đã có những thời điểm thể hiện sự không hài lòng về chính sách của Việt Nam đối với Liên Xô. Đoàn ngoại giao Việt Nam, đứng đầu là Đại sứ Trần Tử Bình, đã rất mềm dẻo và khôn ngoan giàn xếp ổn thoả những bất đồng và qua đó đã giúp cho Việt Nam tiếp tục nhận được sự ủng hộ to lớn từ Trung Quốc cũng như Liên Xô.

Trong một lần tháp tùng Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị thăm Trung Quốc, sau đàm phán, bạn đồng ý viện trợ một số lượng hàng hóa cho Việt Nam; trong đó có 2.000 xe vận tải ba cầu Giải Phóng.

Phía Việt Nam đề nghị bạn viện trợ thêm phụ tùng thay thế, do điều kiện chiến tranh ác liệt, hệ thống đường giao thông xấu, thường xuyên bị bom mìn... Phía bạn trả lời: Hiện tại không thể sản xuất kịp số phụ tùng thay thế.

Với uy tín và mối quan hệ tốt với các lãnh đạo Trung Quốc, Đại sứ Trần Tử Bình đã thay mặt đoàn vận động bạn và đề nghị: “Vậy các đồng chí viện trợ cho chúng tôi thêm 500 đến 1.000 xe nữa, nếu khó khăn thì có thể cấn trừ vào khoản khác. Khi cần chúng tôi có thể lấy phụ tùng của xe chưa sử dụng thay vào xe hỏng hóc”. Đề nghị này nhanh chóng được phía bạn chấp nhận.

Trong số 11 cán bộ được phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (tháng 1/1948), Thiếu tướng Trần Tử Bình có một tiểu sử khá đặc biệt. Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo theo đạo Thiên Chúa, từ con chiên được giác ngộ Cách mạng, từ một học sinh trường dòng tự giác tham gia và trưởng thành trong phong trào công nhân, ông trở thành một trong những đảng viên đầu tiên của Đông Dương Cộng sản Đảng (tháng 10/1929) tại Chi bộ Phú Riềng. Có lẽ trường hợp của Thiếu tướng Trần Tử Bình là trường hợp không phải nhiều đối với những người Công giáo.

huy thanh
28-06-2009, 09:13 PM
http://img153.imageshack.us/img153/3103/thuongtuongnguyenhuuanlv1.jpg

Thượng tướng Nguyễn Hữu An (10/1926 – 9/4/1995) Phó Giáo sư Quân sự, nguyên Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao, nguyên Phó Tổng thanh tra Quân đội, nguyên Tư lệnh Quân đoàn II.


Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba, 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì.


‘’Đó là một vị tướng tài, một vị tướng trung thành, trung thực, trung kiên’’ (Đại tướng Chu Huy Mân)


‘’Vị tướng trận mạc’’ (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)


“Bộ đội các ông thật tuyệt vời-một đối phương có sự chỉ huy tuyệt vời ở mọi cấp và có những người lính thiện chiến vì sự nghiệp, không bao giờ được đánh giá thấp...” (Tướng Mỹ Mo-rơ, nói về trận Iađrăng do tướng Nguyễn Hữu An trực tiếp chỉ huy)


Thượng tướng Nguyễn Hữu An sinh ra trong một gia đình dân nghèo yêu nước tại xã Trường Yên, huyện Gia Viễn (Hoa Lư), tỉnh Ninh Bình - đất kinh đô xưa của hai vị vua có công dẹp loạn cát cứ và chống giặc ngoại xâm (Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn).


Tháng 8/1945, ông gia nhập quân đội.


Năm 1949, tại đèo Bông Lau và Lũng Phầy (là hai đèo nối tiếp nhau nối liền giữa hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn), ông đã chỉ huy đơn vị mình (thuộc Trung đoàn 174 do Đặng Văn Việt làm Trung đoàn trưởng) đánh nhiều trận gây nhiều thiệt hại cho quân đội Pháp.


Năm 1950, trong chiến dịch Biên Giới, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 251 chủ công của Trung đoàn 174 (Trung đoàn Cao Bắc Lạng) đột phá trên hướng chủ yếu tiêu diệt đồn Đông Khê (18/9/1950), mở đầu thắng lợi cho chiến dịch. Đây là trận đánh được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm và trực tiếp động viên bộ đội chuẩn bị và lên đài quan sát xem xét tình hình quân địch vì đây là trận đánh có ảnh hưởng tiên quyết đến chiến dịch Biên Giới do Đông Khê là một cứ điểm quan trọng nhưng địch lại tương đối yếu. Trong khi tại Biên Giới giặc Pháp phòng thủ trên một đường biên giới dài, với lực lượng hạn chế không cho phép bộ đội tấn công trên suốt một chiều dài như vậy. Mất Đông Khê tuyến phòng thủ của Pháp trên đường số 4 sẽ bị cắt đôi. Đây chính là nghệ thuật ‘’Đánh điểm để khống chế diện’’ và ‘’Đánh điểm diệt viện’’Chiến thắng Đông Khê buộc thực dân Pháp phải tung 2 binh đoàn cơ động chiến lược Sác Tông và Lơ Pa-dơ lên cứu viện và bị tiêu diệt. Chiến thắng Biên Giới đã ‘’mở toang’’ biên giới với Trung Quốc nối liền cách mạng Việt Nam với cách mạng trên thế giới.


Sau chiến dịch Biên Giới, ông lần lượt là tiểu đoàn trưởng, trung đoàn phó trong các trận chiến thắng ở Bình Liêu, Vĩnh Phúc, Mộc Châu...


Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn chủ công (Trung đoàn 174) của sư đoàn 316, ông đã 3 lần chỉ huy đánh cứ điểm đồi A1. A1 là một cụm cứ điểm vào loại mạnh nhất ở hướng đông, “cánh cửa thép” của phân khu Trung tâm, nơi có sở chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. A1 đã từng được mệnh danh là “cái đinh” của chiến dịch, cho nên trận đánh gặp khó khăn ác liệt ngay từ đầu, Trung đoàn ông và Trung đoàn 102 (Trung đoàn Thủ Đô) đã phải thay nhau đánh, giữ liên tục, kéo dài suốt từ 30-3 đến 7-5. Cuối cùng đã mở được “cánh cửa thép” để lực lượng từ hướng đông tiến công vào phân khu Trung tâm cùng các hướng khác, bắt sống tướng chỉ huy Đờ Cát, giành toàn thắng cho chiến dịch, lúc đó Nguyễn Hữu An mới 28 tuổi.


Sau chiến thắng Điện Biên Phủ ông làm nhiệm vụ bảo vệ Tây Bắc. Năm 1962, ông lên đường giúp bạn Lào trong chiến dịch Mường Sinh, Luông Nậm Thà.


Năm 1964 trên cương vị Sư đoàn trưởng, ông dẫn Sư đoàn 325 vào miền Nam chiến đấu. Vào đến Tây Nguyên, do khó khăn về bảo đảm hậu cần và tình hình thay đổi, sư đoàn 325 phân tán; hai trung đoàn xuống khu 5, chỉ còn Trung đoàn 101 ở lại mặt trận Tây Nguyên (mang mã hiệu chiến trường B3), ông làm Phó Tư lệnh B3. Ông đã trực tiếp chỉ đạo và chỉ huy Trung đoàn 101 diệt gọn tiểu đoàn biệt động “Cọp đen”, rồi lại đánh thiệt hại nặng trung đoàn 44 chủ lực quân lực Việt Nam Cộng hòa, diệt trung tá trung đoàn trưởng trung đoàn này.


Thời kì đó (1964 – 1965) ở chiến trường bắc Kon Tum rất cực khổ, bộ đội thường xuyên thiếu lương thực thực phẩm. Trong điều kiện như vậy, ông đã hạ quyết tâm đánh Tu Mơ Rông, một chi khu lớn của Kon Tum. Tướng Đoàn Khuê lúc đó là Chính ủy B3 lo rằng không đánh nổi, vì trung đoàn Ba Gia nổi tiếng, đã ở chiến trường lâu lúc đó còn chưa dám đánh công kiên một chi khu, Trung đoàn 101 mới vào chưa có kinh nghiệm nên cần phải suy nghĩ thật kỹ. Ông vẫn kiên trì giữ phương án đó và được Đảng ủy mặt trận B3 chấp thuận. Kết quả không những diệt được Tu Mơ Rông mà còn diệt luôn cả chi khu Đắc Tô, và chi khu Đắc Sút. Trong chiến tranh đặc biệt, cả Kon Tum có 5 chi khu và một tỉnh lỵ. Trong tay chỉ có một trung đoàn, đánh suốt năm 1965, quân số, đạn dược không có bổ sung, lương thực thì như vậy mà dám đánh và diệt được 3/5 chi khu của Kon Tum, đánh vỡ tan cả mảng bắc Tây Nguyên. Nếu Mỹ không vào thì Tây Nguyên vỡ rất nhanh.


Năm 1965, Thượng tá Nguyễn Hữu An là Tham mưu phó mặt trận B3 và tại đây, tháng 11 năm 1965, ông đã trực tiếp chỉ huy trận đánh nổi tiếng ở thung lũng Ia Đrăng trong chiến dịch Plây-me (chiến dịch đầu tiên mà Quân đội Nhân dân Việt Nam đụng độ với một số lượng lớn quân chủ lưc Mĩ đó là Lữ đoàn kỵ binh không vận số 3 có sự phối hợp của 1 trung đoàn Nam Triều Tiên, 1 chiến đoàn dù và 1 chiến đoàn thiết giáp Việt Nam Cộng Hòa), với cương vị Phó tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, ông đã cùng Bộ tư lệnh bày mưu, tạo thế, kéo quân Mỹ đến thung lũng Ia-đrăng rồi vận động bao vây tiến công liên tục trong 10 tiếng đồng hồ, tiêu diệt gần hết tiểu đoàn 1 và 1 đại đội của tiểu đoàn 2..., trận đánh phủ đầu và chiến thắng lực lượng kỵ binh bay của Mỹ khi quân Mỹ vừa vào Việt Nam, một trận thắng mà chính các tướng lĩnh của Mỹ phải thừa nhận "Ia Đrăng - trận đánh đã làm thay đổi cuộc chiến tranh ở Việt Nam".


Mùa mưa năm 1966, ông lại trực tiếp đi chỉ đạo đánh lại ở chiến trường bắc Kon Tum. Kế hoạch là vây đồn Tu Mơ Rông (địch đã đóng lại khi Mỹ vào) để diệt viện và sẵn sàng đánh Mỹ vì có tin Lữ đoàn dù 173 Mỹ sẽ tham chiến. Vây đồn Tu Mơ Rông được mấy ngày thì trung đoàn 44 chủ lực Việt Nam Cộng Hòa lên viện, xong cứ thập thò không vào sâu trận địa phục kích, ý kiến của Thường vụ Đảng ủy tiền phương và cơ quan tham mưu là cứ kiên trì diệt một bộ phận trung đoàn 44 cho chắc ăn, rồi sẽ quay lại đối phó với Mỹ. Riêng ông, sau một đêm suy nghĩ, đã quyết tất cả lực lượng vây đồn và diệt viện đều rút về bố trí ở khu tập kết cách trận địa khá xa. Mọi người tin ông, chấp hành, song vẫn thắc mắc, nếu địch không vào thì sao, đánh hết gạo về tay trắng hay sao? Nhưng khi bộ đội vừa bố trí xong, thì Mỹ ào ạt đổ trực thăng xuống. Chúng chắc mẩm, chủ lực ta đang bị hút vào mục tiêu quân ngụy, ở đây toàn là lực lượng hậu cần, nếu bóc hết hậu cần thì quân ta hết gạo, đạn, không đánh cũng tan và sẽ quay lại diệt chủ lực ta sau. Như vậy khác với Ia-đrăng, chúng không đổ thẳng quân vào đội hình quân ta để tìm diệt ngay từ đầu. Nhưng chúng đã lầm, rơi vào ổ kiến lửa, bị tiêu diệt rất nặng, tình cảnh cũng như ở Ia-đrăng.


Năm 1971, ông là Tư lệnh Sư đoàn 308 tham gia chiến đấu và góp phần cùng các đơn vị khác trong chiến thắng ở mặt trận đường 9-Nam Lào. Sau chiến thắng, ông lại được Quân ủy Trung ương điều sang giúp Mặt trận Pa thét Lào chiến đấu lấy lại Cánh đồng Chum, đánh quân Thái Lan và quân phỉ Vàng Pao. Với cương vị Phó tư lệnh thay mặt Tư lệnh mặt trận, trực tiếp chuẩn bị quyết tâm chiến dịch. Ông đã dành hai chục ngày, xuống kiểm tra, giúp đỡ các đơn vị phía trước, nhất là các trận địa phòng ngự cấp trung đội, đại đội. Ông cũng phát hiện ra điểm yếu rất lớn của địch là vận tải, tiếp tế chỉ dựa vào máy bay, thế là ông dùng pháo khống chế sân bay Cánh Đồng Chum, cắt tiếp tế, đẩy địch vào chỗ đói, thiếu, phải chuyển sang phòng ngự. Theo sự chỉ dẫn của ông, bộ đội biết cách tổ chức, xây dựng trận địa, biết đánh bằng nhiều loại hỏa khí, ở nhiều cự li, bằng nhiều cách chuyển từ chỗ nhùng nhằng, bị động, đã giành lại quyền chủ động và đã đánh thắng.


Đến cuối tháng 6 năm 1972, Quân ủy Trung ương lại điều ông chỉ huy Sư đoàn 308 chiến đấu ở mặt trận Quảng Trị.


Năm 1975, trên cương vị Thiếu tướng, Tư lệnh Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang), ông đã xuất sắc chỉ huy Quân đoàn của mình trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.


Trong chiến dịch Huế Đà Nẵng (từ 21/3 đến 29/3 năm 1975), Quân đoàn 2 do ông chỉ huy đã cùng với Quân khu Trị Thiên, Quân khu 5 băm nát đội hình Quân đoàn 1-Quân khu 1 Việt Nam Cộng Hòa, khiến gần 10 vạn quân Việt Nam Cộng Hòa phải tan tác tháo chạy, bỏ cả căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng.


Với khí thế tiến công thần tốc, Quân đoàn ông lại ập tới phá vỡ tuyến phòng thủ Phan Rang (16/4/1975), áp sát Xuân Lộc, thọc vào trung tâm Sài Gòn từ hướng Đông-Nam, chiếm và cắm cờ trên Dinh Độc Lập, bắt toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn, buộc Tổng thống Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện (30-4-1975).


Chiến tranh biên giới Tây Nam, ông lại chỉ huy Quân đoàn đi bảo vệ biên giới Tổ quốc, rồi cùng các đơn vị khác tiến vào sào huyệt của chế độ diệt chủng Pôn Pốt, giải phóng Cam-pu-chia, cứu nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng (7-1-1979)...


Đất nước và biên giới trở lại bình yên, ông rời quân đoàn, đi làm Phó tổng Thanh tra quân đội, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng quân khu, rồi quyền tư lệnh Quân khu 2 (1984-1987).


Từ năm 1988 đến cuối đời (1995), ông làm Viện trưởng Học viện Lục quân, rồi Học viện Cấp cao (sau là Học viện Quốc phòng).


Thượng tướng Nguyễn Hữu An là một vị tướng trận mạc. Ông tham gia trọn vẹn cả ba cuộc kháng chiến: chống Pháp, chống Mỹ và chống chế độ diệt chủng Pôn Pốt xâm lược, trải qua 50 năm làm “Lính Cụ Hồ” - vừa tròn nửa kỉ.Vào bộ đội, ông không được ưu ái gì đặc biệt, chiến đấu, công tác ở 26 đơn vị, qua các chức vụ từ trung đội phó đến quyền Tư lệnh Quân khu, Viện trưởng một học viện lớn nhất toàn quân, với cấp hàm Thượng tướng, Phó Giáo sư Khoa học Quân sự. Ông đã đánh hàng trăm trận và tham gia chỉ huy nhiều chiến dịch có ý nghĩa chiến lược quyết định chuyển giai đoạn cho cuộc kháng chiến của dân tộc.


Thượng tướng Nguyễn Hữu An là một người chỉ huy có tầm nhìn chiến lược, một vị chỉ huy quyết đoán và nhạy bén trong xử lý tình huống thực tiễn của chiến trường, lý luận của ông có sức thuyết phục cao. Ông là một người rất hiểu cán bộ cấp dưới của mình, chính ông cũng là người ‘’cứu’’ Anh hùng Lê Xuân Phôi khỏi ‘’án oan’’ Anh hùng cá nhân. Ông cũng là một vị chỉ huy gan dạ, thấy đúng là làm không hề quan tâm đến miệng lưỡi thiên hạ ‘’ Ai nói kệ họ, mình không nằm xuống vì có hai lý do: thứ nhất chúng mình đã thoát ly công sự, nó ném bom kiểu rải thảm, đứng hay nằm, bị trúng là chết thôi; thứ hai nghe tiếng đồn B52 rất ghê, nay bị đánh lần đầu, mà Tư lệnh đã rúc đầu xuống thì tiếng vang khắp mặt trận, anh em chả ai xông lên nữa đâu. Vì trách nhiệm chính trị mà mình đứng nhìn nó thôi, chứ ai mà chả muốn sống, tớ cũng vợ đẹp, con khôn như cậu”


Chiến tích là thế song ông vẫn sống giản dị, khiêm nhường, trọng tổ chức, trọng tình người, trọng con người và có kỷ luật. Đọc hồi ký của ông, có khá nhiều lần ông khen đồng đội: nào Lã Ngọc Châu là chính ủy trung đoàn giỏi, đã chỉ huy trung đoàn như một trung đoàn trưởng thực thụ..., nào Nguyễn Ngọc Thực là một chủ nhiệm hậu cần quân đoàn có tài năng và trách nhiệm..., nào các mũi tiến công của quân ta đã hiệp đồng tuyệt đẹp và ăn khớp... Rõ ràng với ông, vai trò quyết định tất cả là đơn vị, là “anh em”, là tập thể chỉ huy, trong đó có mình.


Nguồn ảnh: Bảo tàng Quân đội Việt Nam


Bài viết: Báo Điện tử Quân đội Nhân dân Việt Nam

huy thanh
28-06-2009, 09:15 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Vu-Lang.jpg

Thượng tướng Vũ Lăng (sinh 4/8/1921 – mất 1988), Giáo sư Khoa học Quân sự, nguyên Viện trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Học viện Lục quân Đà Lạt, nguyên Tư lệnh Binh đoàn Tây Nguyên và Phó Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên, nguyên Cục trưởng Cục tác chiến Bộ tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công 2 hạng Nhất 1 hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba.

Thượng tướng Vũ Lăng tên thật là Đỗ Đức Liêm, ông sinh ra tại xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, ngoài thành Hà Nội trong một gia đình yêu nước, sớm giác ngộ Cách mạng. Năm 16 tuổi ông là thợ rồi sau đó là y tá tại Bệnh viện Phủ Lý tỉnh Hà Nam.

Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được cử đi học ở Trường Quân chính Việt Nam (khóa 5). Tháng 11 - 1945, theo lời kêu gọi của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông tham gia đoàn quân Nam tiến vào nam Trung Bộ chiến đấu, được cử làm chỉ đạo viên trung đội, sau đó là Phó ban huấn luyện khu 6, rồi Phó ủy viên quân sự Ninh Hòa.

Tháng 6 - 1946, ông ra Bắc, được cử làm đội phó bảo vệ Bắc Bộ phủ (Hà Nội). Trên cương vị mới, ông luôn gương mẫu, lãnh đạo anh em, một lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Hà Nội, ông đã có nhiều thành tích và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) tháng 2 -1947.


Sau cuộc rút lui an toàn không mất một người lính, một khẩu súng nào vào đêm 17 tháng 2 năm 1947 của trung đoàn Thủ đô ra vùng tự do, Vũ Lăng là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 54, trung đoàn Thủ đô (E102), đại đoàn 308. Ông đã chỉ huy tiểu đoàn trong trận hạ đồn Đại Bục, mở màn chiến dịch tấn công vào phòng tuyến sông Thao, đúng ngày sinh nhật của chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1949. Từ năm 1947 đến năm 1954, ông tham gia các chiến dịch Việt Bắc. Sông Thao, Biên Giới, Trung Du, Hoàng Hoa Thám, Hà Nam Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào.


Từ năm 1953 ông là trung đoàn trưởng trung đoàn 98, đại đoàn 316, đồng thời là tham mưu trưởng Đại đoàn. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trung đoàn 98 do Vũ Lăng chỉ huy, là một trong các Trung đoàn chủ lực, đã thắng trong trận đánh đồi C1 góp phần quan trọng vào chiến thắng của chiến dịch.


Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, đầu năm 1956 ông được lựa chọn cử đi học tập tại Học viện cao cấp Bộ Tổng tham mưu (Liên Xô) mang tên Vô-rô-xi-lốp. Ông đã cùng đồng đội hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và trở về nước cuối năm 1959 và được cử làm Cục phó Cục nghiên cứu khoa học quân sự Bộ Tổng tham mưu.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trước muôn vàn khó khăn, thử thách, trên các cương vị công tác khác nhau, lúc ở cơ quan tham mưu chiến lược, khi ở các bộ tư lệnh chiến trường, ông luôn thể hiện là một cán bộ quân sự có năng lực tư duy sáng tạo, nhạy bén trong tổ chức chỉ huy và tính quyết đoán chịu trách nhiệm cao trước tập thể, lãnh đạo, chỉ huy cơ quan đơn vị. Trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (năm 1965-1967), được Bộ Quốc phòng điều động và làm Phó tư lệnh Quân khu 4. Đến nơi chiến trường đang diễn ra cuộc chiến tranh phá hoại rất ác liệt của đế quốc Mỹ, ông đã cùng với tập thể Bộ tư lệnh quân khu xây dựng phương án tác chiến, đẩy mạnh các hoạt động chiến đấu, đánh thắng máy bay và tàu chiến Mỹ. Bên cạnh đó, ông còn cùng Bộ Tư lệnh Quân khu 4 đào tạo được nhiều cán bộ chỉ huy bổ sung cho chiến trường miền Nam.

Thực hiện chủ trương về kiện toàn đội ngũ cán bộ chỉ huy cao cấp trong quân đội và chuẩn bị các phương án tác chiến với quân Mỹ, cuối năm 1967 ông chuyển về Bộ và được cử làm Cục phó rồi Cục trưởng Cục tác chiến. Trên cương vị công tác ở cơ quan tham mưu chiến lược, với tư duy khoa học, năng động, sáng tạo quyết đoán và dầy dặn kinh nghiệm, ông đã đầu tư trí tuệ và có những đóng góp to lớn trong quá trình xây dựng các phương án tác chiến, góp phần vào thắng lợi lớn của quân đội ta trên hai miền Nam Bắc.


Năm 1974, theo yêu cầu của chiến trường, Thiếu tướng Vũ Lăng được cử vào giữ chức Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên. Cùng với tập thể Đảng ủy Bộ Tư lệnh mặt trận, ông đã triệt để chấp hành sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy trung ương, phát huy tính sáng tạo của mình cùng lãnh đạo mặt trận đề xuất ý kiến với Bộ và tiến hành tốt nhất công tác chuẩn bị và chỉ huy trận mở màn then chốt quyết định Buôn Ma Thuột. Tháng 3 - 1975, ông là Phó tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên và Tư lệnh binh đoàn Tây Nguyên. Ở cương vị mới trên chiến trường ông luôn gương mẫu, chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, các chỉ thị mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, luôn đặt lợi ích của cách mạng lên trên, giữ vững tính nguyên tắc của Đảng, cùng tập thể đơn vị xây dựng phương án tác chiến tối ưu, chỉ huy bộ đội chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công xuất sắc. Tiếp đó, Bộ Tư lệnh binh đoàn Tây Nguyên chỉ huy binh đoàn tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy, góp phần quan trọng giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.


Bước vào thời kỳ cả nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, năm 1977, trên cương vị mới là Viện trưởng và Bí thư Đảng ủy Học viện Lục quân, ông đã cùng Đảng ủy và Ban Giám hiệu Học viện lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng học viện đi vào nền nếp và ngày càng vững mạnh về mọi mặt.


Với kinh nghiệm về xây dựng quân đội đã tích lũy được trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ông đã có nhiều đóng góp trong nghiên cứu đào tạo, bổ túc cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn và phát triển khoa học quân sự. Ông chỉ đạo biên soạn một hệ thống tài liệu với khối lượng lớn, đáp ứng kịp thời đầy đủ cho công tác huấn luyện của tám chuyên ngành binh chủng lục quân. Những tài liệu được Hội đồng khoa học Học viện thông qua có nhiều ý kiến đóng góp và kết luận rất sâu sắc của ông, góp phần rất quan trọng trong nghiên cứu, giảng dạy ở Học viện và cả các nhà trường Quân đội.


Trong suốt những năm công tác tại Học viện Lục quân, ông đã đem hết khả năng, trí tuệ của mình để cùng với Ban Giám đốc Học viện triển khai nghiên cứu thành công nhiều công trình, đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ Quốc phòng có tác dụng đối với việc xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Năm 1980, Thiếu tướng Vũ Lăng được thăng quân hàm Trung tướng, năm 1986, được thăng quân hàm Thượng tướng. Thượng tướng Vũ Lăng đã được Nhà nước phong học hàm Giáo sư khoa học quân sự đợt đầu tiên trong quân đội.


Ông là một trong những vị tướng nóng tính của Quân đội Nhân dân Việt Nam, chính vì vậy mà người ta thường gọi ông là tướng Hổ Lửa. Nóng tính nhưng ông lại rất biết chú ý lắng nghe ý kiến của người khác. Một người có tác phong xuề xòa với đồng cấp và cấp dưới đặc biệt là lính tráng. Thế nên mới có chuyện trong chiến dịch Điện Biên Phủ ông bị Đại tướng Võ Nguyên Giáp ‘’đuổi’’ ra khỏi cuộc họp các Trung đoàn trưởng và Sư đoàn trưởng để ‘’chỉnh đốn tác phong’’ hay có chuyện ‘’lính 2 râu (lính thuộc Trung đoàn 66) sờ râu tư lệnh’’ khi ông được điều vào làm Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên.


Ông là một vị tướng có học vấn cao, kiến thức rộng rất yêu văn nghệ và có năng khiếu làm thơ. Trong lần nhận lệnh vào Chiến trường Tây Nguyên đánh Mỹ ông làm bài thơ ‘’Ta lại ra đi’’ nói về vị tướng đã 50 tuổi vẫn hăng hái lên đường ra trận. “Vào nơi lửa cháy bốn bề. Miền Nam lại gọi ta về, bạn ơi!”. Xem ra, thơ ông còn đầy sức trẻ và khoáng đạt lắm:

“Tám chục tuổi vẫn còn lên ngựa

Múa gươm xung trận giữa ba quân

Tướng quân Thường Kiệt tên lừng lẫy

Giặc kia nghe thấy chạy thục thân.


Ta năm nay mới năm mươi lẻ

Tóc dẫu pha sương lòng còn trẻ

Miền Nam tiếng súng còn chưa ngớt

Luống thẹn mình nghe chuyện

người xưa.


Ba lô, gậy cũ lên đường

Vai khoác ba lô lòng trẻ lại

Đầu xanh, đầu bạc kề vai bước

Lại thấy trong ta tuổi đôi mươi”.

Thư của ông những năm tháng ở chiến trường gửi cho bà Hoàng Việt Hoa vợ ông có thể xếp đầy một hòm. Một phần trong số này đã được giới thiệu đăng trong tập ‘’Thơ tình từ chiến hào’’.


Dáng người tầm thước, da trắng và bộ râu quai nón, tướng Vũ Lăng là một trong những tướng ‘’tốt râu’’. Ông là nguyên mẫu của nhân vật Văn Việt trong tác phẩm ‘’Sống mãi với Thủ đô’’ của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Là một chỉ huy tài tình xong ông còn là một người lĩnh dũng cảm. Trong trận chiến đấu ở đồi C1 tại Điện Biên Phủ năm 1954, khi ông chỉ huy Trung đoàn từ chiến hào xông lên đánh giáp lá cà với quân Pháp. Tiếng thét xung phong của ông khiến cho viên chỉ huy Pháp khựng lại, tạo điều kiện cho quân ta xông lên tiêu diệt địch. Thượng tướng Vũ Lăng và Thượng tướng Nguyễn Hữu An là một cặp bài trùng từ những trận đánh ở Điện Biên Phủ cho đến những trận đánh ở Chiến trường Tây Nguyên rồi Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Bài viết: Báo Quân đội Nhân dân

Nguồn ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

huy thanh
28-06-2009, 09:18 PM
http://img440.imageshack.us/img440/3538/trungtuonglevantuongeh7.jpg

Trung tướng Lê Văn Tưởng (Bí danh Lê Chân hay còn gọi là Hai Chân hay Hai Lê) (10/1919-15h45’25/7/2007), nguyên Phó Ban kiểm tra Quân ủy Trung ương Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Chính ủy Quân khu 9, nguyên Chính ủy Cánh quân Tây Nam trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nguyên Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Cục chính trị Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, nguyên Chính ủy Sư đoàn 9.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Nhất Nhì Ba, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu thành đồng Tổ quốc và nhiều huân huy chương khác.

Ông được phong Quân hàm Thiếu tướng năm 1974, Trung tướng tháng 12 năm 1984.

Trung tướng Lê Văn Tưởng sinh tháng 10 năm 1919 tại xã Thạnh Lợi, huyện Thủ Thừa, tỉnh Tân An, nay là huyện Bến Lức tỉnh Long An, trong một gia đình nông dân nghèo có truyền thống yêu nước. Ông nội ông là nghĩa quân Thiên Địa Hội từ trước năm 1930. Cha ông tham gia hội kín của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, về sau gia nhập Đảng Cộng sản. Gia đình không có ruộng. Cha ông liên tục vào tù ra khám. Nhà tới chín người con, là con đầu ông phải sớm lăn lộn cuốc mướn làm thuê, vào rừng hái củi về đổi gạo, phụ giúp mẹ nuôi các em. Truyền thống yêu nước của gia đình cùng những cảnh bất công do cường hào gây ra ở miền sông nước đã nhen nhóm trong lòng Lê Văn Tưởng sự căm hờn và hoài bão phải làm điều gì đó cho người dân nghèo quê hương.

Mười bảy tuổi, ông được giác ngộ và làm liên lạc cho cách mạng trong phong trào Đông Dương đại hội. Nhờ sức vóc vạm vỡ và tính khí can trường, ông nhanh chóng chiếm được niềm tin của những bậc cha chú đi trước và được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng. Năm 1938, tại một cuộc biểu tình đấu tranh ở Tân An trong phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, ông bị thực dân Pháp bắt giam sáu tháng ở khám Mỹ Tho. Ra tù về lại quê tiếp tục hoạt động bí mật trong phong trào Nông hội đỏ, ông tham gia chỉ huy quân sự xã, tháng 6 năm 1940 ông chính thức đuợc kết nạp Đảng Cộng sản.

Ngày 23 tháng 11 năm 1940, khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ. Ông là thành viên nòng cốt đội du kích xã Thạnh Lợi cùng nhân dân đứng lên cướp chính quyền. Giống như tình hình chung ở toàn Nam Kỳ, cuộc khởi nghĩa ở xã Thạnh Lợi biểu thị được lòng yêu nước, gây tiếng vang, nhưng rồi nhanh chóng bị thực dân Pháp đàn áp. Càng ngày chúng càng bao vây, lùng sục, khủng bố dã man. Nhiều chiến sĩ bị bắt thủ tiêu. Nhà của Lê Văn Tưởng cùng mấy chục căn nhà khác ở Thạnh Lợi bị đốt cháy trụi. Gia đình phải bỏ trốn đi nơi khác làm ăn sinh sống. Cả Nam Kỳ chìm trong máu lửa của khủng bố trắng. Ông cùng một số chiến sĩ cộng sản rút vào bưng biền củng cố và xây dựng lực lượng chuẩn bị chiến đấu lâu dài.

Khoảng một tháng sau, đội du kích Thạnh Lợi do ông chỉ huy tổ chức tấn công đồn điền mía Hiệp Hòa ở xã Hòa Khánh, huyện Đức Hòa. Trận công đồn bất ngờ này đã gây tiếng vang lớn cả vùng, du kích đã thu đuợc một khẩu súng ngắn 6,35 ly của tên đồn trưởng. Đây là khẩu súng sản xuất ở Tiệp Khắc do tên đồn trưởng lê dương lấy được trong Chiến tranh thế giới thứ nhất khi sang chiến trường Đông Âu. Ông được đội du kích xã Thạnh Lợi giao sử dụng khẩu súng 6,35 ly chiến lợi phẩm.

Đầu năm 1941, trong một lần ông cùng đội võ trang từ bưng biền về xã Thạnh Lợi công tác, bất ngờ bị tên Hương quản Chánh cùng Hương tuần Tám tấn công. Hương quản Chánh là tên tay sai có nhiều nợ máu ở địa phương sau khi khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại. Chính tay ông đã dùng khẩu súng 6,35 ly cướp được ở Hiệp Hòa bắn chết Hương quản Chánh. Sau đó, do một du kích quân đầu hàng địch khai báo về cái chết của Hương quản Chánh, Tòa Áo đỏ (tòa đại hình) của chính quyền thực dân Pháp ở Sài Gòn đã kết án ông "tử hình khiếm diện".

Tháng 4 năm 1945, ông tham gia công tác xây dựng cơ sở huyện Thủ Thừa. Trong Cách mạng Tháng Tám, ông được phân công lãnh đạo khởi nghĩa ở huyện Thủ Thừa. Sau đó, với tư cách ủy viên quân sự huyện, ông thành lập lực lượng dân quân cách mạng, trang bị bằng vũ khí thu được từ các đồn bót giặc. Đây là lực lượng dân quân cách mạng duy nhất ở tỉnh Tân An sau cách mạng. Quân Pháp núp bóng quân đồng minh tái xâm lược, Nam bộ kháng chiến, ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến tỉnh Tân An, tiếp tục tổ chức chỉ huy bộ đội chiến đấu.

Tháng 12 năm 1945, ông là Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh Tân An và là Chỉ huy trưởng bộ đội liên quân Chợ Lớn-Tân An.

Đầu năm 1946, hai lần thủ lĩnh du kích quân Lê Văn Tưởng đón tiếp Trần Văn Trà - Chính trị viên Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa từ Gia Định xuống Tân An tìm cách thành lập Chi đội 14, rồi xây dựng căn cứ địa Đồng Tháp Mười. Cuộc gặp gỡ này cũng chính là mối duyên kỳ ngộ mở đầu cho tình bạn chiến đấu keo sơn giữa hai vị tướng Tư Chi - Trần Văn Trà và Hai Chân -Lê Văn Tưởng trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Lúc Chi đội 14 mới hình thành, ông Trần Văn Trà làm chi đội trưởng, Lê Văn Tưởng và ông Nguyễn Văn Siêu làm chi đội phó, ông Nguyễn Đức Huy làm chính trị viên.

Năm 1949, sau khi ông Trần Văn Trà được Trung ương cử làm Khu bộ trưởng Khu 8, Chi đội 14 chuyển thành Trung đoàn 120. Ông Nguyễn Công Trung, nguyên bí thư Xứ ủy Nam Kỳ được điều về làm trung đoàn trưởng, ông Lê Quốc Sản làm trung đoàn phó, ông làm trưởng ban tác chiến. Trung đoàn 120 đã tổ chức đánh địch nhiều trận và giành nhiều thắng lợi ở Tân An, Mỹ Tho, Gò Công,... Sau đó, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 358, Liên trung đoàn 120-105, Phó Bí thư liên Liên chi và Trung đoàn ủy viên.

Từ tháng 2 năm 1950 đến tháng 9 năm 1955, ông lần lượt giữ các chức vụ Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Tân An, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Đồng Tháp, Huyện đội trưởng Huyện đội Mộc Hóa, Chính trị viên Tiểu đoàn rồi Trung đoàn Mỹ Tho, Trung đoàn Ủy viên. Sau đó, ông giữ chức vụ Trưởng ban tổ chức Phân liên khu miền Đông Nam Bộ.

Cho đến năm 1954, Hiệp định Genève ký kết, chuyển quân ra Bắc, tháng 10/1955, ông làm chính ủy Trung đoàn 556 thuộc Sư đoàn 330, Bí thư Trung đoàn ủy rồi sau đó là chủ nhiệm chính trị sư đoàn.

Tháng 3 năm 1957, ông theo học trường Nguyễn Ái Quốc. Năm 1960, ông là Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 330, Thường vụ Phó bí thư Đảng ủy Sư đoàn.

Ngày 7 tháng 5 năm 1961, ông được Quân ủy Trung ương phân công trở về Nam chiến đấu. Đoàn Phương Đông 1 do ông Trần Văn Quang làm trưởng đoàn, ông Trần Nam Trung làm chính ủy, ông làm phó chính ủy và các phó trưởng đoàn là các ông: Trần Đình Xu, Đào Sơn Tây, Nguyễn Vọng, Trần Hoài Pho đã bí mật vượt Trường Sơn, sau ba tháng về đến Mã Đà thuộc Chiến khu Đ. Ông được cử làm Chủ nhiệm chính trị Ban chỉ huy Quân sự miền.

Trong thời gian này, ông là Chính ủy Mặt trận Bình Giã rồi Phó Chính ủy Chiến dịch Đồng Soài. Sau thắng lợi của hai chiến dịch Bình Giã cuối năm 1964 (?) và Phước Long- Đồng Xoài giữa năm 1965, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định xây dựng quả đấm chủ lực cho các lực lượng võ trang để đối phó với quân Mỹ - Ngụy. Sư đoàn 9 - sư đoàn chủ lực đầu tiên của B2 ra đời vào ngày Quốc khánh 2 tháng 9 năm 1965 bên bờ suối Nhung thuộc địa phận Phước Thành với sự tham dự của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ- Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh- bí thư Trung ương Cục kiêm chính ủy Miền, Trung tướng Trần Văn Trà- tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam. Sư đoàn 9 trên cơ sở ba trung đoàn, do Hoàng Cầm làm sư đoàn trưởng, Lê Văn Tưởng làm chính ủy, Nguyễn Hòa làm sư đoàn phó, Hoàng Thế Thiện làm phó chính ủy, Nguyễn Thế Bôn làm tham mưu trưởng.

Cuối tháng 9 năm 1965, Sư đoàn 9 triển khai phương án tấn công Dầu Tiếng, một vị trí chiến lược quan trọng ở Đông Nam bộ. Tư lệnh Trần Văn Trà đích thân xuống tận sở chỉ huy sư đoàn giao nhiệm vụ và bàn bạc cụ thể cả phương án hai đánh Mỹ- đối tượng tác chiến mới trên chiến trường Đông Nam bộ vừa triển khai ba lực lượng lớn. Đó là Sư đoàn bộ binh số 1 mang biệt danh "Anh cả đỏ" đóng ở căn cứ Lai Khê thuộc tỉnh Bình Dương, với 17.530 quân, phiên chế thành ba lữ đoàn, năm tiểu đoàn pháo binh 105 và 155 ly, một tiểu đoàn và hai đại đội không quân cơ động. Tiếp đến là Sư đoàn bộ binh cơ giới số 25 biệt danh "Tia chớp nhiệt đới" đóng tại căn cứ Đồng Dù thuộc đất Thép Củ Chi, gồm 17.666 quân phiên chế thành mười hai tiểu đoàn bộ binh cơ giới, ba tiểu đoàn thiết giáp, sáu tiểu đoàn pháo 105 và 155 ly, một tiểu đoàn không quân và nhiều đơn vị hậu cần. Thứ ba là Lữ đoàn dù 173 (cơ động bằng máy bay lên thẳng) đóng ở Biên Hòa, gồm 4.313 quân phiên chế thành bốn tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo 105 ly.

Chiến dịch Bầu Bàng- Dầu Tiếng là trường hợp hiếm hoi, khi một chiến dịch phải chuẩn bị song song hai phương án chiến đấu với hai đối tượng là quân Mỹ và lính ngụy Sài Gòn. Trong lúc Sư đoàn 9 triển khai kế hoạch đánh Dầu Tiếng, thì Tư lệnh quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam là tướng Westmoreland đã ra lệnh cho Sư đoàn 1- "Anh cả đỏ" đang đóng tại căn cứ Lai Khê gấp rút mở cuộc hành quân vào Dầu Tiếng để giải tỏa cho quân ngụy ở đây đang bị quân giải phóng uy hiếp, đồng thời "tìm diệt" bộ đội chủ lực là Sư đoàn 9 mà chúng phát hiện đang đứng chân khu vực phía Bắc và Tây Bắc Sài Gòn. Quân Mỹ có hai tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 3 của Sư đoàn 1, được tăng cường thêm hai tiểu đoàn xe tăng và thiết giáp, một đại đội pháo hành quân từ Lai Khê lên đóng thành hai cụm ở Đồng Sổ và Bầu Bàng.

Để giữ thế chủ động, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 9 quyết định tiến hành phương án hai đánh Mỹ ở Bầu Bàng. Sở Chỉ huy sư đoàn dời về suối Đòn Gánh để tiếp cận trận địa. 5 giờ 30 sáng ngày 12 tháng 11 năm 1965, Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 1 nổ súng phát hiệu lệnh tấn công. Bộ binh địch bị bất ngờ, co cụm chống trả, phi pháo bắn ra như mưa. Máy bay B.52 đến rải bom dọc đường 13 để dọn đường cho bộ binh vào Dầu Tiếng. Cuộc chiến diễn ra ác liệt kết thúc vào khoảng gần 9 giờ sáng. Lần đầu quân Mỹ bị thiệt hại khá nặng, với hai tiểu đoàn, hai chi đoàn thiết xa vận, gồm 2.000 quân bị loại khỏi vòng chiến, 8 khẩu pháo cùng 39 xe mà phần lớn là tăng và thiết giáp bị phá hủy. Tuy nhiên, phía quân giải phóng cũng tổn thất khá lớn với hơn 100 chiến sĩ hy sinh và gần 200 người bị thương để giành lấy chiến thắng rất có ý nghĩa trong buổi đầu đánh Mỹ, rút ra được nhiều bài học quí báu cho cuộc chiến đấu gian khổ lâu dài. Sau trận đánh này, Sư đoàn 9 anh hùng đã được tặng Huân chương Quân công hạng Nhất.

Sau trận mở màn bằng thắng lợi của chiến dịch Bầu Bàng- Dầu Tiếng, Sư đoàn 9 do Sư trưởng Hoàng Cầm và Chính ủy Lê Văn Tưởng chỉ huy tiếp tục lập nhiều chiến tích qua các trận đánh lẫy lừng: Nhà Đỏ- Bông Trang, Cần Đâm, Cần Lê... và đặc biệt là chống trả cuộc hành quân lớn Junction City của quân Mỹ và chư hầu.

Từ tháng 2 năm 1966, theo chỉ thị của Trung ương Cục, Bộ Chỉ huy tiền phương thống nhất được thành lập làm nhiệm vụ chỉ huy ba thứ quân chiến đấu ở phía bắc Sài Gòn, bảo vệ an toàn Chiến khu Đ nơi có cơ quan đầu não của ta cùng nhiều kho tàng chiến lược. Hoàng Cầm được cử làm chỉ huy trưởng, Lê Văn Tưởng làm chính ủy, ông Nguyễn Hồng Lâm làm chỉ huy phó, ông Hoàng Thế Thiện làm phó chính ủy, với lực lượng gồm Sư đoàn 9, Tiểu đoàn Phú Lợi, các đơn vị vũ trang tập trung và du kích cơ quan Bộ Tư lệnh Quân khu miền Đông. Liền ngay sau đó, vào tháng 3 năm 1966, tướng Mỹ Westmoreland lại mở cuộc hành quân mang tên "Thành phố bạc" nhắm đánh phá càn quét vùng đất thánh Chiến khu Đ, với lực lượng huy động gồm Lữ đoàn 2 thuộc Sư đoàn 1- "Anh cả đỏ" và một tiểu đoàn quân Úc. Trước sự chủ động chống trả của quân giải phóng, mà chủ lực là Sư đoàn 9 với các trận tập kích ở sở cao su Phú Lương, dốc Bà Thức trên đường 16 và ở Bầu Sắn, quân Mỹ cũng đã bị nhiều thiệt hại, trong đó có năm máy bay lên thẳng bị bắn rơi...

Khi Sư đoàn 9 được điều lên mở chiến dịch Lộc Ninh thì Sư trưởng Hoàng Cầm được rút về làm phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Miền. Chính ủy Lê Văn Tưởng và Tham mưu phó Tạ Minh Khâm được giao trực tiếp chỉ huy chiến dịch. Nhiệm vụ hoàn thành, Lê Văn Tưởng được điều động về làm thường trực Quân ủy Miền, chủ nhiệm chính trị, phó chính ủy Bộ Tư lệnh Miền chỉ huy phối hợp toàn chiến trường.

Từ năm 1967 đến năm 1970, ông lần lượt giữ các chức vụ Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh miền, Ủy viên quân ủy miền kiêm Bí thư, Chính ủy Khu Đông Bắc, Bí thư kiêm Chính ủy Chiến dịch Chen-La 2. Tháng 9 năm 1972, ông là Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Tháng 4 năm 1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh quyết định cử tướng Lê Văn Tưởng làm chính ủy và tướng Lê Đức Anh làm tư lệnh cùng sát cánh bên nhau chỉ huy thống nhất hai cánh quân hướng tây và nam tiến vào giải phóng Sài Gòn, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước...

Tháng 5 năm 1976, ông được cử làm Chính ủy Quân khu 9, Phó Bí thư Quân ủy.

Từ tháng 5 năm 1978, ông là Phó trưởng ban Kiểm tra quân sự Trung ương. Tháng 5 năm 1984, ông là Ủy viên chuyên trách Ủy ban kiểm tra Đảng thuộc Tổng cục chính trị. Tháng 1 năm 1986,ông là Ủy viên thường trực Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương đến tháng 11 năm 1987 thì ông về hưu.

Từ một du kích quân tham gia Nam Kỳ khởi nghĩa, bị địch kết án tử hình vắng mặt, Lê Văn Tưởng đã trở thành một vị tướng chiến trường dày dạn trận mạc, từng giữ nhiều trọng trách: chính ủy Sư đoàn 9, phó chính ủy kiêm chủ nhiệm Cục Chính trị Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, chính ủy cánh quân Tây Nam trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, chính ủy Quân khu 9, phó Ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương,... Ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh cùng nhiều huân huy chương công trạng. Cuộc đời gian lao và sôi động của lão tướng Lê Văn Tưởng là một trong những hình ảnh điển hình nhất cho người nông dân Nam bộ yêu nước thế kỷ XX khi Tổ quốc còn chìm đắm trong bóng đen ngoại xâm.

Bài viết: Báo điện tử Cần Thơ

Nguồn ảnh: Báo điện tử Cần Thơ

huy thanh
28-06-2009, 09:20 PM
http://img329.imageshack.us/img329/2343/daituongvantiendungaiz3.jpg


Đại tướng Văn Tiến Dũng (2/5/1917 – 2002), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, nguyên Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1954 – 1978), nguyên Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông là vị tướng chiến lược số hai của Việt Nam, được giới quân sự Thế giới đánh giá cao.

Huân chương Sao vàng (1995), Huân chương Hồ Chí Minh (1979), Huân chương Quân công hạng Nhất – Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất – Nhì – Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Ngoài ra ông còn được tặng thưởng Huy hiệu Hồ Chí Minh (1967), Huân chương Tự do hạng Nhất của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Huân chương Ăng-co của Nhà nước Căm-pu-chia.

""Đồng chí Văn Tiến Dũng là một trong những tướng lĩnh tài năng xuất sắc của quân đội ta, là người học trò ưu tú của Chủ tịch Hồ Chí Minh". (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)
Ông được phong Thiếu tướng ngay trong đợt phong Quân hàm đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (1948), Thượng tướng 1959 – là Thượng tướng thứ hai của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đại tướng năm 1974.

Đại tướng Văn Tiến Dũng (Lê Hoài) quê tại xã Cổ Nhuế (xưa gọi là Kẻ Noi), huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Ông sinh năm 1917, là năm của Cách mạng tháng Mười Nga.

Nhà nghèo, không ruộng đất, mẹ mất sớm, ông theo cha ra Hà Nội sinh sống. Tại Hà Nội, cha ông làm bảo vệ tại nhà thương Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Việt – Đức).

Đến tuổi đi học, ông trở lại quê theo học tại Đông Ngạc, cách nhà 3 cây số. Sinh trưởng trong một gia đình nghèo khó cho nên ông rất cố gắng học hành.

Khi 15 tuổi, cha đột ngột qua đời, ông đành phải bỏ học, ở nhà trợ giúp cho anh làm nghề thợ may. Dẫu không đến lớp, nhưng Văn Tiến Dũng vẫn tranh thủ lúc rảnh rỗi, mua sách về tự học thêm các môn Lịch sử, Pháp văn, Văn học...

Năm 1935, nhằm bớt gánh nặng cho anh chị, 17 tuổi, Văn Tiến Dũng xin anh cho ra Hà Nội làm công cho các xưởng dệt Thanh Văn (Hàng Đào), sau chuyển sang xưởng Đức Xương Long, Cự Chung (Hàng Bông). Hàng ngày ông phải làm việc 10 giờ bất kể Chủ nhật, có hôm bị chủ bắt làm tới 12 giờ. Cũng chính trong những ngày tháng gian lao, cực nhọc này, Văn Tiến Dũng được giác ngộ và bước chân vào cuộc đời cách mạng, nhanh chóng trở thành một chiến sĩ xuất sắc.

Tháng 11/1937, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương. Cuối năm 1938, ông được cử làm Bí thư chi bộ ngành thợ dệt Hà Nội. Năm 1939, ông được cử làm Thư ký Ban thường trực Liên đoàn lao động Hà Nội và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội.

Năm 1936, ông tham gia phong trào đấu tranh công khai của công nhân Hà Nội. Tháng 12/1936, ông tham gia tổ chức cuộc bãi công đầu tiên của công nhân xưởng dệt Hà Nội.

Tháng 7/1939, ông bị Thực dân Pháp bắt, nhưng do không có bằng chứng nên chúng buộc phải thả ra sau 3 ngày giam giữ. Hai tháng sau, ông lại bị Thực dân Pháp bắt giam, bị kết án 2 năm tù về tội tàng trữ tài liệu, sách báo, tuyên truyền các khẩu hiệu của Đệ tam Quốc tế và gây rối trị an.

Tháng 11/1939, ông cùng một số chiến sĩ cách mạng bị Pháp đày đi nhà tù Sơn La. Vượt qua mọi gian nguy, hà khắc của nhà tù thực dân, hai năm sau, trên đường bị địch áp giải từ Sơn La về Hà Nội để đưa vào trại tập trung, ông đã nhanh trí trốn thoát.

Ngay sau khi thoát nhà tù Thực dân Pháp, ông tìm mọi cách bắt liên lạc với tổ chức mà đại diện là “Anh to đầu” – người thợ in Nguyễn Văn Đáng, tức Trần Đăng Ninh (sau này là Tổng cục trưởng Tổng cục cung cấp Quân đội Nhân dân Việt Nam), một trong những cán bộ kiệt xuất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ít lâu sau, ông Trần Đăng Ninh bị bắt và Văn Tiến Dũng bị mất liên lạc hoàn toàn với tổ chức.

Không trở về quê vì đang bị Thực dân Pháp truy lùng, ông quyết định rủ Nguyễn Tiến Lãng – Cũng là một chiến sĩ hoạt động tích cực trong thời kỳ 1936 – 1939 (thời kì của Mặt tộc dân chủ), chưa bị lộ tung tích – về Hà Đông để vừa gây dựng phong trào và chờ dịp nối liên lạc với Trung ương.

Cùng với Nguyễn Tiến Lãng, ông sắm vai thợ mộc đi về các làng xóm sửa chữa vặt các đồ gỗ, đồng thời khéo léo tuyên truyền cách mạng. Sau đó ông làm mướn cho một bà cụ chuyên bán hàng ở chợ Nứa (mỗi tháng 6 phiên, làng Đoan Nữ, Mỹ Đức, Hà Tây). Lúc rảnh rỗi, Văn Tiến Dũng rủ con trai bà chủ la cà vào trong xóm kết bạn với trai làng cho đến khi thân thì lựa lời giác ngộ họ. Chẳng bao lâu sau, chi bộ Đảng vùng này được thành lập và lan sang cả làng bên (Vĩnh Lạc).

Trong thời gian này, ông còn giác ngộ được Lý Bảng khiến cho gia đình Lý Bảng trở thành một cơ sở của Việt Minh – tên thật là Nguyễn Viết Bảng, lý trưởng làng Vĩnh Lạc, một người có học thức, yêu thơ văn, yêu nước và căm ghét Thực dân Pháp.

Những hoạt động của ông khi làm thuê cho bà cụ chủ hàng bị để ý bởi mật thám, được sự giúp đỡ của Lý Bảng, ông tạm thời xuống tóc đi tu tại ngôi chùa bỏ hoang Bột Xuyên thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây nhằm che mắt mật thám tiếp tục bám cơ sở để tuyên truyền Cách mạng. Lúc này ông 25 tuổi.

Tháng 3/1943, ông bắt được liên lạc với Đảng và được chỉ định làm Bí thư Ban cán sự Đảng tỉnh Hà Đông. Tháng 6/1943, ông được chỉ định tham gia Xứ ủy Bắc Kỳ.

Ngày 8/1/1944, ông làm Bí thư Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh. Tháng 4 /1944, ông được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Sau khi kết thúc một khóa học về Quân sự tại An toàn khu, tháng 8/1944, ông bị thực dân Pháp bắt lần thứ 3.

3 giờ sáng ngày 27/12/1944, ông đã dũng cảm vượt ngục. Chỉ ít ngày sau, Tòa án thực dân ở Bắc Ninh đã kết án ông tử hình vắng .

Tháng 4 năm 1945 trong Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ do Trung ương Đảng triệu tập, ông được cử vào Ủy ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ (Bộ tư lệnh miền Bắc Đông Dương) cùng với các ông Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh, Lê Thanh Nghị, Chu Văn Tấn. Đồng thời được chỉ thị trong thường trực của Ủy ban hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thường vụ Trung ương Đảng và phụ trách trực tiếp chấn chỉnh tổ chức Chiến khu Quang Trung gồm các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, thành lập các đơn vị Cứu quốc quân, chuẩn bị và tiến hành Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám giành chính quyền ở các tỉnh kể trên.

Tháng 8/1945, ông chỉ đạo vũ trang giành chính quyền ở các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa.

Sau cách mạng tháng Tám, tháng 11 năm 1945, ông được giao nhiệm vụ lập Chiến Khu II (gồm 8 tỉnh phía Tây Bắc và Tây Nam Bắc Bộ), làm Chính ủy chiến khu, tham gia Quân ủy Trung ương vừa chỉ đạo một số đơn vị của khu “Nam tiến” đánh Pháp, vừa chỉ đạo các cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp từ Vân Nam (Trung Quốc) và từ Sầm Nưa (Lào) tiến công vào Lai Châu, Sơn La.

Tháng 12/1946, ông là Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội Quốc gia Việt Nam, Phó bí thư Quân ủy Trung ương. Ngày 25 /1/1948, ông được phong quân hàm thiếu tướng.


Từ tháng 10/1949 đến năm 1950, ông là Chính ủy Liên khu 3, kiêm Tư lệnh liên khu, tham gia Thường vụ Khu ủy Khu 3. Tháng 1 năm 1951, sau chiến dịch giải phóng Biên giới Việt-Trung, ông được Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Bộ Tổng tư lệnh cử ra thành lập và làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn chủ lực 320 (Đại đoàn Đồng Bằng) một đại đoàn hoạt động trong vùng địch kiểm soát ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.


Tháng 11 năm 1953, sau chiến dịch phản công liên tiếp của quân và dân ta đánh bại cuộc hành quân Hải Âu của quân đội Pháp ra tây nam Ninh Bình kết thúc, ông giữ chức Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và tham gia Tổng quân ủy và là Tổng tham mưu trưởng lâu nhất tính cho đến hiện nay (thay Đại tướng Hoàng Văn Thái).

Năm 1954, ông là Trưởng đoàn đại biểu của Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ủy ban Liên hiệp đình chiến thi hành Hiệp định Giơ ne vơ.


Từ năm 1954 đến năm 1978, ông là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông đã cùng các ông trong Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo trực tiếp việc tổ chức huấn luyện xây dựng lực lượng vũ trang. Đặc biệt đã xây dựng và chỉ đạo các lực lượng phòng không-không quân, hải quân làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân của ta đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ ra miền Bắc Việt Nam.

Ông, trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch:

Đường 9 Nam Lào (mùa Xuân 1971) đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân Mỹ nhằm phá hủy các đơn vị hậu cần dọc biên giới Việt Lào của miền Bắc chi viện cho miền Nam nhằm cắt đường chiến lược Hồ Chí Minh.

Trị Thiên (3/1972) tiêu diệt sư đoàn quân đội Việt Nam Cộng hòa cùng toàn bộ hệ thống phòng ngự của chúng giải phóng tỉnh Quảng Trị.

Điện Biên Phủ trên không (12/1972) đánh bại cuộc tập kích đường không của Mỹ đối với miền Bắc Việt Nam (12/1972) đập tan huyền thoại B52 của Đế quốc Mỹ buộc Mỹ phải ngồi vào phòng đám phán tại Paris 1973 và rút quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên (1975), trong chiến dịch này ông thay mặt Bộ Chính trị chỉ đạo chiến dịch (Tư lệnh chiến dịch là Trung tướng Hoàng Minh Thảo, Chính ủy là Đại tá Đặng Vũ Hiệp).

Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh (4/1975), giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Chiến dịch Hồ Chí Minh là một trong những đỉnh cao trong đường binh nghiệp của ông, được giới quân sự trên Thế giới đánh giá cao vì chiến dịch đã giải phóng Sài Gòn trong một thời gian ngắn, trong hiện trạng gần như nguyên vẹn. Trong khi Quân đội Sài Gòn tập trung ở đây một lượng lớn lực lượng cũng như binh khí kĩ thuật. Với kinh nghiệm của một vị tướng đã dạn dày trận mạc, ông đã chỉ đạo những lối đánh táo bạo, thọc sâu, kết hợp vu hồi, đột phá, biết tạo thời cơ, nắm thời cơ, chủ động tiến công tiêu diệt địch, giải phóng Sài Gòn-Gia Định, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Từ tháng 5/1978 đến năm 1986, ông được Bộ Chính trị Trung ương Đảng giao nhiệm vụ là, Phó bí thư thứ nhất Quân ủy Trung ương. Tháng 2/1980 đến 1986 ông là Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng.Từ năm 1984 đến 1986 ông là Bí thư Đảng uỷ Quân sự Trung ương.


Ông là tác giả của nhiều tác phẩm về quân sự như "Mấy vấn đề về nghệ thuật quân sự Việt Nam"...


Ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II (2/1951); Ủy viên Trung ương, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị khóa III (3/1960); Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng (3/1972). Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (12/1976), ông được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị.


Ông được bầu làm đại biểu Quốc hội và Ủy viên Hội đồng Quốc phòng từ khóa II (1960) đến khóa VII (1981 – 1986).


Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (3/1982), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được phân công phụ trách chỉ đạo công tác Tổng kết kinh nghiệm chiến tranh và biên soạn lịch sử Quân đội.


Là Tổng Tham mưu trưởng của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong một thời gian dài, vị Tổng tham mưu trưởng lâu năm nhất (từ năm 1954 đến năm 1978), tên tuổi của ông luôn gắn liền với những chiến thắng lớn của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong hai cuộc Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cùng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp ông là một trong hai vị tướng chiến lược của Cách mạng Việt Nam được cả Thế giới biết đến. Trong kháng chiến chống Pháp, ông được cử làm Tổng tham mưu trưởng thay Đại tướng Hoàng Văn Thái (khi đó là Thiếu tướng) khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra quyết liệt ở giai đoạn cuối. Sau 9 năm kháng chiến trường kì, Quân đội ta đã trưởng thành vượt bậc. Cách tác chiến của ta không còn là ở ‘Tiểu đoàn tập trung, đại đội độc lập’ nữa mà đã có những binh đoàn chủ lực, có khả năng đọ sức với những đơn vị được trang bị hiện đại Thực dân Pháp cũng như tiến hành những chiến dịch Quân sự trên một diện rộng quy mô toàn quốc. Tuy nhiên việc phối hợp tác chiến và đề ra chiến lược trên một quy mô rộng như vậy làm công tác tham mưu trở lên hết sức phức tạp và đặc biệt khi ta quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, một chiến dịch quyết định thành công của công cuộc kháng chiến 9 năm của cả dân tộc – Đại tướng Văn Tiến Dũng được cử làm Tổng tham mưu trưởng trong một hoàn cảnh như thế. Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, mặc dù không trực tiếp ra chiến dịch nhưng ở Căn cứ địa Việt Bắc ông trở thành một trong hai chỉ huy Quân sự cao nhất, tham mưu cho Bộ chính trị mở một loạt các chiến dịch nhằm hỗ trợ cho Chiến dịch Điện Biên Phủ. Tuy nhiên, trên Thế giới ông được biết đến nhiều hơn trong cuộc Kháng chiến Chống Mỹ cứu nước, khi trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch lớn như Đường 9 Nam Lào (1971), Trị Thiên (1972), Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (12/1972), Tây Nguyên (3/1975) và đặc biệt Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (4/1975). Trong con mắt của giới quân sự phương Tây thì ông luôn được xem như là một người cộng sự ăn ý của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về tư tưởng và ý đồ quân sự.

Gần 70 năm hoạt động cách mạng liên tục, kiên cường, Đại tướng Văn Tiến Dũng trở thành nhà quân sự chiến lược có uy tín của quân đội ta; là một trong những vị tướng chỉ huy xuất sắc; là người lãnh đạo đầy tinh thần cách mạng tiến công, đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến tranh nhân dân ta qua các cuộc kháng chiến và đối với nền khoa học nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam.

Chính những năm tháng hoạt động cách mạng của ông cùng với các vị tướng tài ba của quân đội ta là những bước thể nghiệm thành công những vấn đề về lý luận quân sự của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện thực tiễn chiến tranh Việt Nam. Từ lý luận đến thực tiễn và từ thực tiễn bổ sung hoàn thiện thêm lý luận đã được Đại tướng thể hiện thành công qua các tác phẩm hồi ký, luận văn quân sự, những bài viết, huấn lệnh, chỉ thị… có giá trị trong quá trình chỉ đạo đấu tranh và tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.

Bài viết: Bảo tàng lịch sử quân sự, Báo tiền phong online

Nguồn ảnh: Bảo tàng lịch sử quân sự

huy thanh
28-06-2009, 09:22 PM
http://img209.imageshack.us/img209/2213/thuongtuonggshoangminhtzp1.jpg

Thượng tướng, Giáo sư Khoa học Quân sự, Nhà giáo Nhân dân Hoàng Minh Thảo (25/10/1921-08/09/2008), nguyên Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng Việt Nam), nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Quân sự Bộ Quốc phòng, nguyên Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, nguyên Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất và nhiều huân huy chương cao quý khác. Đặc biệt ông được Nhà nước Việt Nam tặng giải thưởng Hồ Chí Minh cho cụm công trình về Nghệ thuật quân sự.

Mọi người đều ấn tượng với hình ảnh của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, nhất là ở cặp lông mày rậm và xếch ngược lên trên rất hiếm gặp.


Thượng tướng Hoàng Minh Thảo tên thật là Tạ Thái An, quê tại xã Bảo Khê, huyện Kim Động (vốn là vùng đất Đăng Châu, Vĩnh Động, Kim Thi xưa). Đây là vùng đất nghèo nhưng giàu truyền thống, là nơi xuất thân của 8 vị tướng lĩnh qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, trong đó có những vị thuộc hàng công thần dựng nước như Đại tướng Nguyễn Quyết, Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên…

Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ ông phải ra vùng Hòn Gai, Quảng Ninh làm nghề thợ may. Và vùng đất Mỏ là nơi chôn nhau cắt rốn của cậu bé Tạ Thái An.

Đầu năm 1930, các đồng chí Quốc dân Đảng tại Quảng Ninh của cha ông bị đàn áp, bắt bớ nhiều. Cha ông đành phải bỏ Hòn Gai đến Lạng Sơn tá túc, còn ông phải theo mẹ về quê.

Để nuôi con, mẹ ông hàng ngày cứ sớm tinh mơ là quảy quang gánh đến các vườn rau, mua cất rồi đem đi các chợ bán vất vả, toan lo kiếm miếng cơm. Được vài năm, khi cha ông đã ổn định, Tạ Thái An lên Thất Khê sống với cha và được đi học lại, 10 tuổi ông mới chính thức đi học lại lớp một.

Sau khi hoàn thành lớp nhất (tương đương với lớp 5 hiện nay), Tạ Thái An được cha gửi xuống Hà Nội ở nhờ một người quen ở 29 Hàng Bồ để học tiếp trung học Trường Thăng Long. Cũng trong quãng thời gian này, trong những lần về Lạng Sơn nghỉ hè, ông giác ngộ cách mạng qua những đợt tham gia buổi tuyên truyền của Đảng.

Năm 1937, Tạ Thái An được xếp vào danh sách cảm tình Đảng tại cơ sở Đảng ở Lạng Sơn và tham gia Đoàn thanh niên dân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức. Hồi đó, ông lấy bí danh hoạt động là Tạ Quang, còn cái tên Hoàng Minh Thảo thì mãi đến năm 1945 mới ra đời và gắn bó với ông từ đó cho đến nay.

Năm 1939, ông mới có dịp trở về quê hương lần thứ 2 chịu tang mẹ. Sau khi chu toàn cho mẹ, ông trở lại trường và từ đó cuộc đời ông hoàn toàn được hiến dâng cho cách mạng.

Năm 1941, ông tham gia Việt Minh, và là một trong năm người được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cử đi học quân sự ở Liễu Châu, Trung Quốc. Cuối năm 1944, ông tham gia gây dựng cơ sở chính trị và xây dựng lực lượng du kích ở vùng biên giới Lạng Sơn.

Tháng 1/1945, ông tham gia Ban phụ trách công tác biên giới của Tổng bộ Việt Minh, và tháng 5/1945 đảm nhận chức Ủy viên dự khuyết Tỉnh ủy lâm thời Lạng Sơn. Từ tháng 8/1945 đến năm 1949, ông là phái viên của Bộ Quốc phòng ở các tỉnh duyên hải tả ngạn sông Hồng, giữ chức Khu trưởng Chiến khu III – là vị Khu trưởng trẻ tuổi nhất, Phó Tư lệnh Liên khu III. Năm 1948, trong đợt phong quân hàm đầu tiên, ông được phong quân hàm Đại tá của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Cuối năm 1949, ông được đề bạt làm Tư lệnh Liên khu IV. Năm 1950, Đại đoàn 304 Anh hùng (Đoàn Vinh Quang) được thành lập tại Thanh Hóa, ông được cử làm Tư lệnh của Đại đoàn. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại đòan do ông chỉ huy là một trong năm Đại đoàn chủ lực tham gia chiến dịch lịch sử này.

Từ năm 1954 đến năm 1966, ông là Hiệu phó, rồi Hiệu trưởng Trường Quân sự trung cao cấp, Phó Giám đốc Học viện Quân chính, Giám đốc Học viện Quân sự.

Từ tháng 11/1966, ông đảm đương trọng trách Phó Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, đến năm 1967 là Tư lệnh. Tháng 8/1974, ông là Phó Tư lệnh Quân khu V.

Đến tháng 3/1975, ông là Tư lệnh chiến dịch giải phóng Tây Nguyên. Một chiến dịch bậc thầy về nghệ thuật nghi binh. Một cú đấm chiến lược làm thay đổi nhanh chóng cục diện chiến trường của mùa Xuân 1975. Và đây cũng là đỉnh cao trong sự nghiệp binh nghiệp của ông.

Sau giải phóng, từ tháng 5/1976 đến năm 1989, ông là Viện trưởng Học viện Quân sự trung cao cấp, Viện trưởng Học viện Quân sự cao cấp. Năm 1987, ông kiêm nhiệm chức Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Quân sự Bộ Quốc phòng.

Năm 1990 ông giữ chức Viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự, Bộ Quốc phòng. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đồng thời là tác giả của nhiều tác phẩm quân sự, là Ủy viên Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam.

Ông được phong hàm Giáo sư khoa học quân sự năm 1986, danh hiệu Nhà giáo Nhân dân năm 1988...

Là một nhà khoa học, một tướng lĩnh tài năng, GS Hoàng Minh Thảo vừa trực tiếp chỉ huy tác chiến, vừa tổng kết khoa học những vấn đề chiến thuật và chiến lược quân sự để viết thành những cuốn sách có giá trị lớn phục vụ trực tiếp cho chiến đấu, góp phần vào thắng lợi trên nhiều chiến trường. Các công trình của ông đã được các nhà xuất bản như Quân đội nhân dân, Chính trị quốc gia in, phát hành và đã trở thành những tài liệu quý giá không chỉ trong nghiên cứu khoa học và nghệ thuật quân sự mà còn là tài liệu phục vụ đào tạo, huấn luyện các sĩ quan, cán bộ lãnh đạo quân đội và các nhà nghiên cứu quân sự.

Cụm công trình về nghệ thuật quân sự Việt Nam gồm 8 cuốn sách (chi tiết xem trang 52) của GS Hoàng Minh Thảo đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ.

Ông viết cuốn: "Học tập khoa học quân sự Xô viết" - cuốn sách đầu tiên trong Cụm công trình này từ khi là Hiệu trưởng Trường Quân sự trung cao, làm công tác huấn luyện quân sự cho cán bộ quân đội. Cuốn sách thứ hai của ông được xuất bản ngay tại chiến trường Tây Nguyên với tựa đề ‘’Tổ tiên ta đánh giặc’’. Cũng ở chiến trường, trong những năm 1973-1974 ông hoàn thành cuốn: "Thất bại của một sức mạnh phi nghĩa". Còn năm cuốn sau ông viết ở Hà Nội, khi là Viện trưởng Học viện Quốc phòng và Viện trưởng Viện Chiến lược quân sự. Cụm công trình này được hoàn thành trong vòng hơn 40 năm, từ năm 1958 đến năm 2001.

Bài viết: Báo Quân đội Nhân dân online

huy thanh
28-06-2009, 09:24 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/Anh%20tin%20tuc/LeTrongTan.jpg


Đại tướng Lê Trọng Tấn (1/10/1914 – 5/12/1986), nguyên Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nguyên Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.


Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao Vàng (2007), Huân chương Quân công hạng Nhất hạng Ba, Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

"Người chỉ huy kiên cường, lỗi lạc, người bạn chiến đấu chí thiết" (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

‘’Đây có phải là tướng đánh trận giỏi nhất ở Việt Nam không’’ (Chủ tịch Phidel, khi gặp Tướng Lê Trọng Tấn trong lần Chủ tịch ra thăm chiến trường Quảng Trị)

"Trí – Dũng – Nhân – Chính – Liêm – Trung", "Rộng lượng và Hào hiệp", "Tài năng, Cương trực", "Đức độ, Tài ba", "Quyết đoán, Nhân nghĩa", "Người chỉ huy ưu tú, kiên cường, người thủ trưởng có tình thương chân thành, chăm sóc anh em với tình cảm của người anh, người mẹ" (Đây là tất cả những lời tốt đẹp nhất mà các Sĩ quan cao cấp dành cho ông)
Đại tướng Lê Trọng Tấn, tên thận là Lê Trọng Tố, bí danh Ba Long, sinh tại làng Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây trong một gia đình trí thức có 7 người con (5 trai, 2 gái). Cha ông là một thày đồ nghèo mất khi ông mới lên 7 tuổi, ông trưởng thành nhờ sự tần tảo của người mẹ. Xã Yên Nghĩa là một xã có truyền thống yêu nước cũng như có truyền thống cách mạng, thời kì trước cách mạng, nhân dân xã đã nuôi giấu nhiều nhà cách mạng, mà sau này họ trở thành những lãnh đạo cao cấp của Việt Nam như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh, Trần Quốc Hoàn...Đây chính là An toàn khu của Xứ ủy Bắc Kỳ thời tiền khởi nghĩa.

Ham mê bóng đá và võ nghệ từ nhỏ, khi là học sinh của trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An ở Hà Nội) ông đã được tuyển vào Câu lạc bộ bóng đá Không quân của Pháp. Sau đó, có một thời gian ông là lính khố đỏ.

Đại tướng Lê Trọng Tấn tham gia Việt Minh từ năm 1944. Lúc đầu ông được phân công làm công tác địch vận tại khu vực Hoàng Mai-Hà Nội. Tháng 3 năm 1945, ông là thành viên trong Ủy ban chuẩn bị khởi nghĩa tỉnh Hà Đông được cử về tuyên truyền, tổ chức và xây dựng Lực lượng vũ trang tại Ứng Hòa, La Khê, La Cả (Hà Đông).

Quê ông có 4.593 nhân khẩu, nạn đói năm 1945 làm chết đói gần một nửa. Ông đã tổ chức phá kho thóc, chia gạo cho nhân dân Do Lộ vượt qua nạn đói khủng khiếp.

Tháng 8 năm 1945, ông tham gia vào Ủy ban khởi nghĩa Hà Đông phụ trách Quân sự - bởi những hiểu biết về quân sự có được trong thời gian ông làm lính khố đỏ, ông nhập ngũ từ thời điểm này. Cách mạng tháng Tám thành công, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong những ngày toàn quốc kháng chiến mùa Đông năm 1946, ông chỉ huy một tiểu đoàn (Tiểu đoàn 60, Trung đoàn 37 ?) chiến đấu tại mặt trận Hà Đông – một cửa ngõ quan trọng phía Tây Thủ đô. Ông tổ chức diệt bốt Đồng Quan và giành thắng lợi trận đầu tiên.Tháng 12-1945, ông được kết nạp vào Đảng. Những trận đánh hay, thắng lợi giòn giã của Hà Đông đều có ông, tổ chức cho từng trận đánh vừa củng cố, vừa xây dựng lực lượng ngày càng vững mạnh.

Sau Tết Đinh Hợi 1947, Bộ Tổng Tham mưu điều một số đơn vị Vệ quốc đoàn ở các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, Nam Định, Hải Phòng… cùng một lực lượng khác thuộc Chiến khu 2 gấp rút lên miền Tây, tăng cường cho khu vực biên giới Việt-Lào để giữ vững hướng chiến lược này. Ngày 27-2-1947, Trung đoàn Tây Tiến (E52) được thành lập gồm 4 tiểu đoàn và ông là một trong những chỉ huy tiểu đoàn cùng với các ông Phùng Thế Tài, Nam Hải, Hoàng Mười…Tiếp theo đó ông lần lượt giữ chức vụ Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng các Trung đoàn Sơn La (E148) rồi Trung đoàn Sơn Tây (E37)

Ngày 23/8/1947, ông được bổ nhiệm giữ chức Khu trưởng Khu XIII khi đang giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sơn Tây. Ngày 25/1/1948, ông được bổ nhiệm giữ chức Khu phó Khu X.

Ngày 16-4-1949, Ông tham gia dự buổi lễ thành lập Đội vũ trang đầu tiên của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào được thành lập tại Liên khu X cùng với ông Cay-xỏn Phôm-vi-hản (Sau này là Chủ tịch Đảng Nhân dân Cách mạng Lào). Đây cũng là ngày truyền thống của Bộ đội Pathét Lào. Ông là Chỉ huy trưởng Liên quân Việt - Lào tổ chức đánh các trận ở Thượng Lào, Hạ Lào, Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, cánh đồng Chum, giải phóng và xây dựng chính quyền cách mạng nhân dân Lào.

Năm 1949, theo quyết định của Bộ Tổng chỉ huy, trung đoàn 209, chủ lực của Liên khu 10 chuyển thành trung đoàn mạnh, trực thuộc Bộ, mang danh hiệu trung đoàn Sông Lô. Lê Trọng Tấn khi đó là Phó tư lệnh Liên khu 10 được bổ nhiệm là Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy

Từ ngày 19/5 đến ngày 18/7 năm 1949, ông tham gia chỉ huy Chiến dịch Sông Thao. Chiến dịch tiến công của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vào phòng tuyến sông Thao của Pháp ở khu vực Yên Bái, Lào Cai, nhằm diệt sinh lực, phát động chiến tranh du kích, mở rộng khu căn cứ Tây Bắc. Chiến dịch Sông Thao gồm ba đợt kết thúc thắng lợi đã làm tiêu diệt và bức rút 25 cứ điểm, loại khỏi chiến đấu gần 500 địch, thu hơn 300 súng, phá vỡ một mảng lớn phòng tuyến Sông Thao từ Ba Khe đến Bảo Hà (khoảng 70 km), tạo thế liên hoàn nối liền vùng tự do của ba tỉnh Sơn La, Lào Cai, Yên Bái.

Tháng 11 năm 1949, để mở thông đường liên lạc, vận chuyển từ Việt Bắc xuống Liên khu 3, 4 đồng thời thu hút lực lượng địch đang tập trung càn quét vùng đồng bằng Bắc Bộ, Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy quyết định mở chiến dịch Lê Lợi trên chiến trường tỉnh Hòa Bình. Lê Trọng Tấn được cử làm Phó Tư lệnh chiến dịch đảm nhiệm từ chợ Bờ lên Suối Rút (ông Hoàng Sâm là Tư lệnh chỉ huy từ Hồi Xuân lên Mai Hạ và ông Lê Quang Hòa là Chính ủy). Kết quả Bức tường quân Pháp ngăn chặn giữa Việt Bắc và Liên khu 3, 4 bị đập tan, toàn huyện Mai Châu được giải phóng. Âm mưu lập xứ Mường tự trị bị phá sản.

Năm 1950, Đại đoàn 312 được thành lập, ông là Đại đoàn trưởng đầu tiên khi mới 36 tuổi.

Tháng 9 năm 1950, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định mở Chiến dịch Biên Giới nhằm khai thông đường liên lạc giữa Việt Nam với hệ thống xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch, tiến tới giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính. Lê Trọng Tấn được cử làm Phó tư lệnh chiến dịch đồng thời ông là chỉ huy của trận đánh tiêu diệt Binh đoàn cơ động Sác-tông của Pháp.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, Đại đoàn 312 do ông chỉ huy là Đại đoàn đánh trận mở đầu thắng lợi vào cứ điểm Him Lam (Béatrice) (ngày 13 tháng 3 năm 1954) khiến cho thiếu tá Pégrot bị tử thương cùng với toàn bộ sĩ quan trong hầm. Ngày 7/5/1954, trong đợt tiến công cuối cùng, một đơn vị của Trung đoàn 209 thuộc Đại đoàn của ông cùng với một đơn vị thuộc Trung đoàn 174 đã bắt sống tướng Đờ Cát và ban chỉ huy tập đoàn cứ điểm.

Từ tháng 12 năm 1954 đến năm 1960 ông là Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân. Đây là thời kì hết sức quan trọng nhằm đào tạo nguồn cán bộ quân sự chi viện cho miền Nam chuẩn bị cho Kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Từ tháng 3 năm 1961 đến năm 1962 ông giữ cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Tháng 9 năm 1964, để chuẩn bị đánh Mỹ, cùng với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, ông được cử vào Nam nhận nhiệm vụ Phó tư lệnh, Ủy viên Quân ủy Quân giải phóng miền Nam cho đến năm 1969. Ông là một trong các vị tướng tham gia tổ chức Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968.

Từ năm 1970 đến năm 1971, ông là Đặc phái viên Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam bên cạch Bộ chỉ huy Quân Giải phóng nhân dân Lào, tham gia chỉ đạo cánh đồng Chum.

Ngày 30-1-1971, Quân đội Mỹ kết hợp với Quân đội Việt Nam Cộng hòa mở cuộc hành quân Lam Sơn 719, tiến ra đường số 9 và Nam Lào, nhằm đánh chiếm Sê Pôn và chặn phá đường mòn Hồ Chí Minh. Đối phương huy động tới hơn 3 vạn quân chủ lực, 450 xe tăng, 250 khẩu pháo, 700 máy bay, chia làm 3 hướng: cánh quân chủ yếu vượt qua Lao Bảo đến Bản Đông; hai cánh còn lại dùng trực thăng đổ bộ xuống các điểm cao bên đường 9, đồng thời tuyên bố: “Sẽ đón các nhà báo quốc tế tại Sê Pôn”...Quân ủy Trung ương đã chủ động mở Chiến dịch Đường 9 Nam Lào (Mật danh 720) để đối phó, khiến cho quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa từ thế chủ động sang thế bị động phải rút lui. Ngày 7-3-1971, khi nghe báo cáo “Việt Nam Thông tấn xã báo cho Cục Tuyên huấn là ngụy Sài Gòn hủy bỏ kế hoạch đưa phóng viên báo chí phương Tây đến Sê Pôn...”. ông đã nói ngay: “Địch sắp rút”... Và ngay hôm sau, lời kêu gọi của Đảng ủy và Bộ chỉ huy mặt trận đã được truyền xuống các đơn vị: “Thời cơ chuyển sang tiến công trên toàn mặt trận đã đến! Diệt và bắt sống thật nhiều địch! Phá hủy thật nhiều phương tiện chiến tranh của chúng! Đập tan cuộc hành quân Lam Sơn 719! Bảo vệ vững chắc con đường mang tên Bác, giành toàn thắng cho chiến dịch”...Mười ngày tiếp đó, từ các mũi, hướng, bộ đội dồn dập tấn công. 18-3-1971, đối phương phải bỏ Bản Đông tháo chạy, và cuộc hành quân Lam Sơn 719 đã bị đập tan!

Năm 1972, ông được cử làm Tư lệnh chiến dịch Quảng Trị với mật danh anh Trọng, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị 1/5/1972.

Năm 1973, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Tư lệnh Quân đoàn 1, là Quân đoàn bảo vệ miền Bắc.

Tháng 3 năm 1975, ông làm Tư lệnh chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng. Đánh tan Quân đoàn I, Quân khu I Việt Nam Cộng hòa khi mà tại căn cứ Liên hợp Quân sự Đà Nẵng họ còn tới gần 10 vạn quân cộng với vũ khí hiện đại.

Tháng 4 năm 1975, ông được cử làm Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân phía Đông (gồm quân đoàn 2, quân đoàn 4, sư đoàn 3) tấn công vào Sài Gòn. Chính trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử bằng óc phán đoán và đầu óc phan tích chiến lược, ông đã đề nghị Quân ủy cho cánh quân của mình nổ súng trước giờ G để cho đối phương không kịp co cụm hay phá hủy cầu. Chính Lữ đoàn xe tăng 203, quân đoàn 2 thuộc cánh quân của ông đã tiến vào dinh Độc Lập đầu tiên.

Từ năm 1976 đến tháng 2 năm 1977 ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Viện trưởng Học viện quân sự cao cấp.

Từ tháng 6 năm 1978 đến năm 1986 ông là Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Từ tháng 12 năm 1978 đến tháng 2 năm 1979 ông chỉ huy các lực lượng vũ trang trong chiến tranh biên giới Tây Nam và đánh quân Khmer Đỏ của Pol Pot ở Campuchia.

Mùng 1 tháng 7 năm 1983, 70 tuổi, ông vẫn chỉ huy trận đánh bảo vệ Biên giới phía Bắc.

Ông là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 4 và 5 (từ 1976 đến 1986), đại biểu Quốc hội khóa VII.

Ông được mệnh danh là tướng trận, tướng tấn công và thường ví ông như nguyên soái Giucov của quân đội Liên Xô. Các nhà khoa học quân sự và quân đội anh em kính nể, học tập ông về tài năng, đức độ và tầm chiến lược, chiến thuật, kiệt xuất của QĐND Việt Nam. Ông đánh giá đúng tình hình, biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng thể hiện tài năng của người chỉ huy trận mạc. Ông là hình mẫu của quân lệnh như sơn, thẳng thắn, nghiêm túc, bao dung, biết đánh, nhưng cũng biết dừng để bảo toàn lực lượng.

Ông đi đến đâu, chỉ huy chiến dịch nào, mũi tiến công vào đâu, tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ của các quân đoàn do ông chỉ huy đều đoàn kết một lòng một dạ tin tưởng, vững tâm vào tài năng, thông minh, sáng tạo, nhanh nhạy, quyết đoán cho từng trận đánh. Kẻ thù nghe tin tướng Ba Long chỉ huy chiến dịch nào đều sợ hãi, hoảng loạn, co cụm, bạc nhược và tê liệt sức chiến đấu, đó là uy quyền của một dũng tướng. Thắng lợi trong những trận đánh, tất yếu có sự hy sinh đổ máu. Ông không bao giờ chấp nhận câu nói: “Trận này ta thiệt hại không đáng kể”. Vì đây là sự hy sinh xương máu của các chiến sĩ.

Cuộc đời ông đã có mặt hầu hết ở các chiến trường nóng bỏng và đã chỉ huy hàng trăm trận đánh trên cả 2 miền Nam - Bắc. Dấu ấn 2 mốc son lịch sử của ông năm 1954, ông là Đại đoàn trưởng F312 đã chỉ huy tham gia chiến dịch Điện Biên lịch sử, đánh phía Đông vào Mường Thanh, bắt sống tướng Đờ Cát. Năm 1975, ông là Tư lệnh trưởng, chỉ huy các binh đoàn đánh phía Đông vào Dinh độc lập, cơ quan đầu não của ngụy quyền Sài Gòn, bắt sống tướng Dương Văn Minh, phải đầu hàng vô điều kiện.

Hai trận đánh, hai mốc son lịch sử đã kết thúc hai cuộc chiến tranh với quân đội viễn chinh Pháp, đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn. Mở ra kỷ nguyên mới, hòa bình, thống nhất độc lập và tự do của dân tộc. Như Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: Hai trận đánh xứng đáng hai lần anh hùng.

Lê Trọng Tấn, một vị tướng tài năng có kinh nghiệm và kiến thức khoa học quân sự. Chiến dịch giải phóng miền Nam, ông đã chỉ huy vài vạn quân với hàng nghìn xe các loại, hợp đồng ba thứ quân và các binh chủng, vượt qua hàng nghìn cây số, vượt 500 con sông, đến đúng giờ quy định của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, góp phần quyết định thắng lợi ngày 30-4-1975. Với chiến thuật đánh chắc thắng chắc, bao vây giỏi, chiếm từng phần, đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, trong đánh ra ngoài đánh vào, khống chế điểm mạnh, đánh điểm yếu của địch, diệt từng phần, chớp thời cơ, tiêu diệt toàn bộ sinh lực của địch. Đã đúc kết được 6 nội dung là: Vây lấn, tấn, phá, triệt, diệt có giá trị cho lịch sử khoa học quân sự Việt Nam.

Không thể kể hết công trạng quá dài của ông, người ta chỉ có thể ghi nhận điều cốt yếu: ông luôn được tin cậy để giao nhiệm vụ gầy dựng nền móng ban đầu cho những công việc hệ trọng và mới mẻ. Không chiến trường nào không lưu dấu chân ông từ Bắc-Nam-Trung, không cuộc chiến tranh nào dù chống Pháp, chống Mỹ, chống bọn diệt chủng Pôn Pốt hay bảo vệ biên giới phía bắc, lại không cần đến tài năng quân sự của ông. Từ vai trò Hiệu trưởng Trường Sĩ quan lục quân cho đến Viện trưởng Viện Khoa học quân sự, Giám đốc Học viện chính trị cao cấp Bộ Quốc phòng, ông là người thầy xứng đáng cho những sĩ quan thế hệ sau. Nhưng đáng nói hơn, ông là tướng tư lệnh của tất cả những chiến dịch lớn nhất, quan trọng nhất trên các chiến trường quyết định: Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng-Dầu Tiếng...; chiến dịch Đường 9 Nam Lào, mặt trận Trị Thiên mùa hè 1972; tư lệnh cánh quân duyên hải, khai sinh sau khi Đà Nẵng giải phóng, đến Sài Gòn sớm nhất vào mùa xuân 1975... 70 tuổi Đại tướng Lê Trọng Tấn vẫn khoác áo lính ra trận.

"Anh Tấn ơi! Ngơ ngác khắp quân doanh

Sáng họp... tối đi... sao vội thế anh?

Đại hội chưa xong... anh lên đường

Như xưa kia Bác Hồ điện gấp

Vẫn như ngày nào suốt đời cập rập

"Chơ vơ dưới cửa ba nghìn khách

Lạnh lẽo trong lòng chục vạn binh"

Sáng như trời sang xuân

Tối như mùa đổi tiết...".

(Đại tá NSND Tào Mạt)

Mưu trí nhưng thận trọng, ông luôn tìm ra cách đánh ít tổn thất nhất cho binh sĩ. Với sĩ quan thuộc cấp, ông chân thành thương yêu nhưng không cho phép sai sót. Ông là vị tướng "biết dùng quân, luyện quân, nuôi quân, chỉ huy quân". Là một vị tướng chiến trường nổi tiếng nhưng ông cũng là một người có đầu óc chiến lược. Một vị tướng chiến lược mà vóc người thanh mảnh, nói năng nhỏ nhẹ như thầy giáo làng quê mà ta thường gặp, rất dễ gần gũi.

huy thanh
28-06-2009, 09:26 PM
http://img529.imageshack.us/img529/7030/trungtuongcaovankhanhrk4.jpg

Trung tướng Cao Văn Khánh (1917-1980), nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1974-1980), nguyên Tham mưu trưởng Mặt trận Nha Trang Khánh Hòa (1946), nguyên Khu trưởng Quân sự Khu 5(1946-1949), nguyên Đại đoàn phó (đầu tiên) Đại đoàn Quân tiên phong.

Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba...


Ông sinh năm 1917 tại Thừa Thiên Huế. Sau khi đỗ Cử nhân Luật, ông không đi theo con đường để trở thành quan mà chọn nghề dạy học. Ông dạy trường tư nhưng vì dạy giỏi cho nên cùng với Hữu Ngọc ông luôn được Trường Quốc học Huế và Trường Đồng Khánh tại Huế mời chấm thi. Tham gia phong trào hướng đạo sinh, Cao Văn Khánh là hướng đạo sinh có tài tổ chức và chỉ huy, là một người yêu nước, ông được cách mạng bắt liên lạc và khuyên học Trường Quân sự (Võ bị) Thanh niên tiền tuyến ở Huế.


Trường Quân sự Thanh niên tiền tuyến Huế tuy do chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim lập ra nhưng được điều hành bởi những nhà trí thức nổi tiếng như Giáo sư Tạ Quang Bửu, Luật sư Phan Anh-cả hai đều giữ những chức vụ chủ chốt trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Cách mạng tháng 8. Học viên của trường hầu hết đều là sinh viên các trường Đại học ở Đông Dương, một số đã là cơ sở của Việt Minh hướng sinh viên theo hướng mặt trận Việt Minh. Nhiều sinh viên xuất thân danh giá như ông Tôn Thất Hoàng con của Thượng thư Tôn Thất Quảng, Đặng Văn Việt (chỉ huy nổi tiếng của Trung đoàn 174, người được mệnh danh là Con hùm xám của Đường số 4 – Đệ tứ quốc lộ đại vương) có bố là Tổng đốc Nghệ An từng ba lần giữ chức thượng thư, ông Võ Sum là con quan án sát Võ Chuẩn, ông Lê Thiệu Huy con trai cụ Lê Thước và là anh em họ với Giáo sư Lê Văn Thiêm, sau sang chiến đấu tại mặt trận Lào làm Tham mưu trưởng liên quân Lào Việt người đã lấy thân mình che đạn cho Hoàng thân Xu-pha-nu-vông khi mặt trận Thà Khẹt bị vỡ và hy sinh trên dòng Mê-kông, ông Hoàng Xuân Bình em ruột Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, ông Nguyễn Thế Lương tức Thiếu tướng Cao Pha là con ruột của một nhà thầu khoán lớn…Nhiều sinh viên của trường đã trở thành những tướng lĩnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam như Thiếu tướng Đào Hữu Liêu-Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kinh tế, Thiếu tướng Đoàn Huyên-Tư lệnh Bộ đội Tên lửa Phòng không, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, Thiếu tướng Mai Xuân Tần-Đại đoàn Quân tiên phong, Thiếu tướng Võ Quang Hồ-Cục phó Cục tác chiến, Thiếu tướng Phan Hàm-Bộ tổng Tham mưu…


Cách mạng Tháng 8 năm 1945, ông cùng với các sinh viên của Trường tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở Huế dưới sự lãnh đạo của ông Phan Tử Lăng (tốt nghiệp thủ khoa khóa quân sự chính quy đầu tiên của Pháp cùng khóa với Dương Văn Minh-Đại tướng Tổng thống Ngụy miền Nam Việt Nam, chỉ huy vệ binh Trung Kỳ, sau này ông là Đại tá Cục trưởng Cục tác chiến Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam). Sau đó, ông nhập ngũ và tham gia vào Ban chấp hành Giải phóng quân.


Thực dân Pháp trở lại đánh chiếm Nam Bộ (23/9/1946), cùng một đơn vị Giải phóng quân của Thừa Thiên Huế, ông lên đường Nam tiến và được cử làm Tham mưu trưởng mặt trận Nha Trang-Khánh Hòa. Sau đó, ông được cử làm Khu trưởng Quân sự khu 5, Chính ủy là ông Trần Lương (Thượng tướng Trần Nam Trung, Bộ trưởng Quốc phòng Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam). Ngày 19/12/1946, cùng với Tướng Nguyễn Chánh, ông là một trong hai người ra lệnh cho nổ súng ở Đà Nẵng mở đầu cho toàn quốc kháng chiến ở khu 5.


Năm 1949, Đại đoàn Quân tiên phong (Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam) được thành lập do ông Vương Thừa Vũ (sau này là Trung tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam) làm Đại đoàn trưởng. Cao Văn Khánh được Bộ Tổng tư lệnh điều ra Việt Bắc giữ chức vụ Đại đoàn phó theo sắc lệnh số 57 ngày 18 tháng 6 năm 1949 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông cùng Đại đoàn tham gia nhiều chiến dịch lớn như : 1949-Chiến dịch sông Thao trên cương vị Chỉ huy phó chiến dịch, 1950-Chiến dịch Biên giới…


Năm 1953, Trung ương và Bộ Quốc phòng đã nhìn thấy trước yêu cầu, bộ đội Việt Nam rồi đây sẽ phải tiến công tiêu diệt những tập đoàn cứ điểm mạnh của quân Pháp. Ông cùng với ông Lê Trọng Tấn (sau này là Đại tướng-Tổng tham mưu trưởng), hai người đồng chí gắn bó với nhau trong các chiến dịch sông Thao và Biên Giới, được giao phó trách nhiệm nghiên cứu chuyên đề Tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm.


Đến chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), khi Bộ chỉ huy chiến dịch chuyển từ chiến lược đánh nhanh, giải quyết nhanh sang đánh chắc, tiến chắc, Đại đoàn 308 dưới sự chỉ huy của Đại đoàn phó Cao Văn Khánh được giao nhiệm vụ đặc biệt: Mở đường hành quân sang đất Lào tiến công địch trên tuyến sông Nậm Hu, đánh phủ đầu để làm mất sức những lực lượng quân Pháp rồi đây sẽ tiếp viện cho quân bị vây hãm ở Điện Biên và bịt trước con đường mà theo dự kiến quân Pháp sẽ đồn trú ở lòng chảo Điện Biên thua trận sẽ tháo chạy.


Ngày 22/5/1954, ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc Toản (nữ sinh Đồng Khánh năm xưa, là con gái út quan thượng thư Tôn Thất Đản, em vợ Giáo sư Bác sĩ Đặng Văn Ngữ. Bà Toản sau này là Đại tá Giáo sư Bác sĩ). Lễ cưới của ông bà được tổ chức ngay trong hầm của tướng Đờ-cát và là một trong năm đám cưới được tổ chức tại đây sau ngày chiến thắng.


Trong kháng chiến chống Mỹ, từ năm 1964, Cao Văn Khánh đã có mặt tại Quân khu 4, tuyến đầu của miền Bắc chi viện tiền tuyến lớn. Ông vào chiến trường miền Nam cũng rất sớm. Năm 1966, đã cùng bộ đội đóng tại Đắc Tô (Tây nguyên). Từ năm 1966 đến năm 1974, thời kỳ chiến tranh chống Mỹ ác liệt nhất, ông được cử làm Tư lệnh B5 (Trị Thiên Huế) đồng thời Cao Văn Khánh là thành viên Ban Chỉ huy nhiều chiến dịch quan trọng trên cương vị Phó Tư lệnh như : Khe Sanh (1968), Chiến dịch Đường 9 Nam Lào (1971), Quảng Trị (1972), Tây nguyên (1974).


Sau gần 30 năm trực tiếp chỉ huy quân đội tại các chiến trường, năm 1974, Cao Văn Khánh được điều về làm việc tại cơ quan Bộ Tổng Tham mưu trên cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng. Đây là thời gian khẩn trương chuẩn bị cuộc tổng tiến công và nổi dậy lịch sử năm 1975. Trong mùa xuân đại thắng, cùng với Đại tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng thứ nhất Hoàng Văn Thái, Trung tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Khánh là một trong những trợ thủ đắc lực của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Ngoài các nhiệm vụ khác, Cao Văn Khánh đảm trách phần việc từng ngày, từng giờ nắm chắc tình hình chiến sự, kịp thời báo cáo với Bộ Chính trị và đích thân Tổng tư lệnh. Chính ông là người truyền đạt chính xác, kịp thời mệnh lệnh của tổng tư lệnh đến các cánh quân, các lực lượng trên chiến trường. Đủ thấy công việc không chỉ vô cùng khẩn trương mà còn đòi hỏi ý thức trách nhiệm cao và một trí tuệ sắc sảo.


Trung tướng Cao Văn Khánh mất đột ngột ở tuổi 63 vào năm 1980 do ung thư gan kịch phát bởi di chứng của chất độc màu da cam mà ông mắc phải trong chuyến đi vào huyện A Lưới Thừa Thiên. Theo lời kể của Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự thì đoàn có 5 người thì có đến 4 người mất vì căn bệnh ung thư gan, người còn lại duy nhất là ông nhưng có con gái út bị di chứng chất độc da cam.


Hai người con trai của tướng Cao Văn Khánh thì một đã hy sinh trong chiến tranh một cũng ra đi ở tuổi ngoài 30 bởi căn bệnh giống hoàn toàn ông-ung thư gan kịch phát bởi di chứng chất độc màu da cam. Vợ ông Đại tá-Giáo sư-Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Toản hiện là Ủy viên thường vụ Hội nạn nhân chất độc màu da cam-một tổ chức mà bà là một trong những người đầu tiên vận động thành lập, một người không ngừng đấu tranh nhằm xoa dịu nỗi đau của nạn nhân chất độc màu da cam và đòi chính quyền Mỹ phải bồi thường cho họ.

huy thanh
28-06-2009, 09:28 PM
Tướng Nguyễn Chánh (5/8/1914-24/9/1957), nguyên Chủ nhiệm Tổng cục cán bộ, Phó Tổng tham mưu trưởng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong kháng chiến chống Pháp ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5. Hội sử học Việt Nam đã trân trọng đúc tượng đồng ông, hiện đặt tại Viện Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam.


Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì…


Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (Genève) 1954, tướng Pháp Đờ Bô-pho (De Beaufort) nhờ Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp cho ông ta gặp bằng được người chỉ huy đánh bại chiến dịch At-lan-te trên chiến trường Tây Nguyên năm 1953-1954. Tổng tư lệnh đã đồng ý và sắp xếp một cuộc gặp riêng giữa tướng Đờ Bô-pho và tướng Nguyễn Chánh. Đờ Bô-pho đã không tin rằng ngồi trước mặt mình là "một vị tướng đã làm cho tôi điêu đứng trên chiến trường" - như hồi ký sau này ông ta đã thuật lại.


‘’Anh Nguyễn Chánh là một cán bộ lãnh đạo trung kiên của Đảng, một vị tướng tài của quân đội, đã có cống hiến lớn với cách mạng và kháng chiến. Anh đã đi quá sớm, năm 1957, lúc mới 43 tuổi, tài năng đang độ phát triển.’’ (Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp)


“Cuộc đời một con người mới 43 tuổi mà đã để lại một sự nghiệp như vậy, có thể nói là một cuộc đời thật đẹp: đời của một người cộng sản kiên cường, một cán bộ lãnh đạo xuất sắc, một vị tướng có tài và một con người mẫu mực”. (Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp)


“Là một con người thông minh và hiếu học, rất giàu những phẩm chất cao quý của người chiến sĩ cách mạng, mà cũng rất giàu trí tuệ và tài năng. Anh bắt đầu giác ngộ cách mạng và hoạt động cách mạng từ thời rất trẻ, đã vào tù ra tội nhiều lần và suốt đời phấn đấu vì mục tiêu cao cả là độc lập dân tộc và CNXH” (Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng)


Anh Nguyễn Chánh là một con người văn hóa, một nhà văn hoá, theo nghĩa rộng và đẹp nhất của khái niệm đó. Ở anh, không ít đâu, có tinh hoa của văn hoá uyên bác phương Đông và Việt Nam, mà bằng sự thông minh hiếm có, anh đã học được ngay từ nhỏ và gìn giữ, phát triển suốt đời, vận dụng sắc sảo những gì là bản chất tinh tuý nhất, trong công việc cách mạng, trong ứng xử việc lớn việc nhỏ, trong quan hệ với con người. Phần này đến từ gia đình và truyền thống văn hiến quê hương…Anh Nguyễn Chánh đã cho ta hiểu thế nào là một nhà văn hoá, mà chẳng phải “ồn ào văn hoá” chút nào. (Nhà văn Nguyên Ngọc)
Tướng Nguyễn Chánh, tên thật là Nguyễn Hiệp và bà con hàng xóm vẫn thường gọi là Chín do ông là con thứ tám trong nhà, quê tại Thọ Lộc (nay là xã Tịnh Hà) huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi. Quê hương ông đã sinh ra nhiều người có học vị, cử nhân, tú tài nho học. Nhiều nhà yêu nước đứng lên lãnh đạo nhân dân, tổ chức nhiều cuộc bạo động chống thực dân Pháp xâm lược và triều đình phong kiến bán nước. Hàng chục sĩ phu đã bị quân giặc xử chém, bêu đầu, nhưng phong trào vẫn liên tiếp bùng nổ lan rộng. Bản thân quê hương ông cũng là nơi sinh thành của nhiều tướng lĩnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam như : Thượng tướng Trần Văn Trà, Trung tướng Nguyễn Đôn, Trung tướng Phạm Kiệt (anh vợ của Tướng Nguyễn Chánh)…


Ông sinh ra ở một trong mười hai cảnh đẹp của Quảng Ngãi (Hà nhai vãn độ). Nơi đây, ngày xưa sát bờ sông là chợ chiều buôn bán tấp nập, bến Biền ghe thuyền qua lại đông vui, xóm làng sầm uất, kéo dài từ sát bờ sông ra phía Bắc giáp đường lộ từ huyện lỵ Sơn Tịnh đi Đồng Ké. Ở đây đào giếng nơi nào cũng mạch nhiều, nước ngọt lịm nên có câu ca:


“Ai xa nhớ trở về quê

Trước sông, sau chợ, giếng kề một bên”



Nguyễn Chánh là con út trong một gia đình có tám con (tám lần sinh nhưng chỉ còn sáu người - bốn trai, hai gái) gia đình chỉ có cái ao sau nhà là tài sản quý giá nhất. Gia đình ông, nhất là về phía mẹ, là một gia đình có truyền thống văn chương, mẹ ông thường ca ngợi cuộc khởi nghĩa do Lê Trung Đình lãnh đạo. Ông sinh ra trên mãnh đất địa linh nhân kiệt, sản sinh nhiều nhà yêu nước, nhiều nhà thơ phú. Bố ông là cụ Nguyễn Hàm Chức, là một thợ xe nước bậc thầy, dân xe nước ở Sơn Tịnh, Quảng Ngãi không ai không biết tới ông. Bến đò xóm Vạn ở Sơn Tịnh từng có một bờ xe nước mang tên cụ. Gia đình cụ tuy không khá giá nhưng rất có uy tín trong làng, bản thân cụ hồi trẻ đã từng tham gia nghĩa quân Lê Trung Đình chống Pháp. Cụ là cơ sở của nhiều nhà Cách mạng tiền bối như Nguyễn Nghiêm, Phan Thái Ất, Tôn Diêm…và sau cách mạng tháng 8 năm 1945, ngôi nhà tranh của cụ trở thành đại bản doanh của các nhà lãnh đạo khu 5.


Thời thơ ấu, ông là trò giỏi, học rất thông minh, được thầy giáo yêu quý, bạn bè nể phục. Thường thường, tan buổi học, thầy Rôm ra về rồi, ông rủ bạn ở lại ngồi "truy" bài. Ai chưa hiểu ông giảng lại như thầy giáo phụ giảng. Có bạn quá nghèo, ông cho cả vở để viết. Thi sơ học yếu lược (tưong đương lớp 3 tiểu học), vào môn vấn đáp, giám khảo hỏi ông:

- Tại sao người ta lập đền miếu để thờ?

Ông thản nhiên trả lời:

- Thưa thầy, đó là xưa bày, nay làm; chứ con nghĩ không có ma quỷ nào cả.

Thầy giáo ngạc nhiên và cho điểm tốt. Cùng các môn thi khác ông đỗ đầu kỳ thi sơ học yếu lược. Tiếp đó ông còn đi học chữ Hán của thầy Tú Trầm và học phương pháp châm cứu, đốt chữa bại liệt, bốc thuốc bắc của thầy Cừ. Nối nghiệp các bậc ân sư ông đã chữa lành cho nhiều người.

Ngày cụ Phan Chu Trinh về nước, ông thường đi mua sách báo, thơ ca yêu nước rồi tập họp gia đình, chòm xóm lại đọc cho mọi người nghe. Ông đọc các tác phẩm: "Quốc gia huyết lệ", "Nam quốc dân tu trí", "Nữ quốc dân tu trí"...và đọc thơ cách mạng. Từ đó lúc nào ông cũng nói đến độc lập, tự do của dân tộc và căm thù thực dân Pháp xâm lược.

Tướng Nguyễn Chánh sớm giác ngộ và sớm tham gia cách mạng. Năm 1929, khi mới 15 tuổi, qua anh ruột là ông Nguyễn Tải, ông bắt đầu làm cách mạng: liên lạc cho tổ chức Thanh niên Cách mạng ông hội bảo vệ và che giấu cho các đảng viên cộng sản ở khu vực Suối Ngổ. Bước ngoặt quan trọng nhất với Nguyễn Chánh là thời gian ông làm liên lạc cho ông Trương Quang Trọng, nguyên Bí thư Thanh niên cách mạng đồng chí hội năm 1929, trước khi ông Trong hy sinh anh dũng ở nhà ngục Kom Tum. Năm 1930, ông phụ trách tuyên truyền cho Phân khu Bắc Trà (sông Trà Khúc) của Tỉnh ủy Quảng Ngãi.


Sau ngày 1 tháng 5 năm 1931, ông bị bắt trên sông Trà Khúc. Bọn xã giải ngay về huyện để lĩnh thưởng của tri huyện Nguyễn Bính. Trong phòng hỏi cung, ông khai sinh năm 1916 (14 tuổi), trình độ văn hóa sơ học yếu lược, đang lao động chăn trâu ở Suối Ngổ, nơi ông bố vỡ hoang, trồng thuốc lá. Bị bắt phải khai nhận là cộng sản, ông khai đi khai lại cương quyết không nhận kể cả khi tri huyện Nguyễn Bính trực tiếp hỏi cung.

Mấy ngày sau, ông bị chuyển lên nhà lao tỉnh Quảng Ngãi. Tại đây có tên cai ngục Trần Luận khét tiếng tàn ác. Chúng treo Nguyễn Chánh lên đánh liên tục hai ngày liền, ông vẫn không một lời khai báo. Cuối cùng ông bị kết án 2 năm tù vì tội trốn theo cộng sản. Tại nhà lao Quảng Ngãi, tù chung thân và tù có án tử hình bị nhốt chung. Tù nhân ở đây không chỉ chết vè các đòn tra tấn dã man mà còn chết vì ngạt thở, phù thũng. Cơm tù nấu bằng gạo mục có lẫn mọt sâu. Rau muống luộc với giẻ rách. Ngày nào cũng có xe bò kéo xác tù đi chôn ở núi Bút. Trước tình hình đó, ông tham gia đấu tranh, quyết định tuyệt thực để chống chế độ nhà tù hà khắc. Cuối cùng, địch phải nhượng bộ, cải thiện một phần chế độ ăn uống trong tù. Trong thời gian ở tù, ông được các tù nhân hết sức yêu quý bởi học thức và tính cách, đồng thời ông cũng là thầy đốt, thầy châm cứu chữa lành bệnh cho các tù nhân. Trong nhà lao, ông gặp bà Phạm Thị Trinh (là người ông, người vợ của ông. Bà được kết nạp Đảng năm 1930 và là Đại biểu Quốc hội khóa 1). Cùng năm này, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi hết hạn, ra tù, ông vẫn bị o ép, quản thúc tại nhà.


Từ năm 1935 đến năm 1939, ông là Tỉnh ủy viên thường trực Tỉnh ủy Quảng Ngãi phụ trách đấu tranh công khai rồi sau đó là Bí thư liên tỉnh ủy ba tỉnh Quảng Ngãi-Bình Định-Phú Yên (1939). Năm 1939, ông tổ chức đám cưới với bà Phạm Thị Trinh (mặc dù bố mẹ bà Trinh lúc đầu không đồng ý vì chê tướng Nguyễn Chánh nhỏ và đen). Cùng năm này, ông bị thực dân Pháp bắt lần thứ hai và giam vào xà lim số 1, xà lim mà ai vào đó thì hoặc là chết hai là tàn tật. Nhưng ông thà chết khống khai, thực dân Pháp kết án ông tù khổ sai và áp giải lên đồn Ba Tơ. Nhận thấy ông vẫn là mối nguy hiểm ở đây, thực dân Pháp lại đưa ông ra Gi-lăng rồi đưa lên Buôn Ma Thuột. Ở đây ông tham gia ban lãnh đạo đấu tranh chống đàn áp tù nhân, tổ chức nhiều cuộc tuyệt thực, làm reo, náo động cả thị xã. Ngoài ra ông cùng còn mọi người tích cực học lý luận Mác Lê-nin, học đường nối chính sách của Đảng, học quân sự, học văn hóa, học tiếng Pháp và làm thơ. Nguyễn Chánh dạy chữ Hán, dạy làm thơ đường luật và chăm chỉ học tiếng Pháp... Càng đấu tranh, tính cách Nguyễn Chánh càng đậm sắc.

Tháng 9 năm 1944, hết hạn tù, lũ tay sai của thực dân Pháp vẫn còn sợ “thả hổ về rừng” lên đưa ông đi an trí trại căng Phú Bài Thừa Thiên. Đây thực chất là nhà tù trung cổ, làm cho tù nhân chết dần, chết mòn. Căng như ấp chiến lược, xung quanh có hào sâu, dây thép gai, hầm chông, cạm bẫy. Tù nhân bị bắt đi làm xâu, vô cùng vất vả, cực nhọc. Họ vào qua một cái cầu treo. Cầu kéo lên, căng bị cô lập với bên ngoài. Lính gác dày đặc trên các chòi canh, sẵn sàng bắn bất cứ ai mà chúng nghi là chạy trốn. Phải đến lúc Nhật đảo chính, ông mới vượt mọi khổ ải từ Căng An Trí Phú Bài trở về quê hương.



Ngày 11/3/1945, khởi nghĩa Ba Tơ thành công dưới sự chỉ huy trực tiếp của các ông Nguyễn Đôn, Phạm Kiệt (sau này đều là Trung tướng). Chi bộ Đảng của Đội du kích Ba Tơ chủ trương rời bỏ đồn chuyển ra rừng xây dựng căn cứ để phát triển nhanh chóng lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, càng đi vào rừng sâu đội càng gặp nhiều khó khăn, quân số giảm. Trước tình hình này, Nguyễn Chánh được Đảng ủy Tỉnh Quảng Ngãi phân công về lãnh đạo đội du kích Ba Tơ, duy trì và phát triển làm nòng cốt cho mặt trận Việt Minh tại tỉnh Quảng Ngãi, và đây cũng là đội vũ trang đầu tiên, lòng cốt của khu 5 (Nam Trung Bộ) dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời cũng là một trong những tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông đã có chủ trương rất táo bạo, sáng suốt: không để Đội du kích luẩn quẩn trên vùng rừng núi, có chủ trương đưa quân về đồng bằng, dựa vào phong trào quần chúng cách mạng để xây dựng và chiến đấu, đồng thời phát triển dân quân tự vệ và tham gia phát động phong trào cách mạng của quần chúng. Chính do chủ trương đúng đắn, sắc sảo này mà trong một thời gian rất ngắn Đội du kích Ba Tơ từ mười mấy người đã phát triển thành hai đội mạnh (Đại đội Phan Đình Phùng hoạt động ở Nam Quảng Ngãi, Đại đội Hoàng Hoa Thám ở Bắc Quảng Ngãi), cùng với hàng vạn dân quân tự vệ và quần chúng cách mạng, tạo nên cao trào mạnh mẽ.


“Khởi nghĩa Ba Tơ dày chiến tích
Cao muôn trùng điệp gió ngàn ru
Đèo lên mây chạm đầu du kích
Dốc xuống mưa lùa chân chiến khu”

(Đội du kích Ba Tơ-Tướng Nguyễn Chánh)


Ngày 14/8/1945, dưới sự chỉ huy trực tiếp của ông, đội du kích Ba Tơ với khoảng 2000 vệ quốc quân đã trở thành lực lượng nòng cốt hỗ trợ quần chúng tiền hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi từ tay Phát-xít Nhật. Quảng Ngãi là một trong bốn tỉnh giành chính quyền sớm nhất ở nước ta trong Cách mạng tháng 8 (Hải Dương, Hà Giang, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi). Với cương vị là Trưởng ban quân sự, chỉ huy cuộc Tổng khởi nghĩa, Nguyễn Chánh tỏ rõ tài năng chính trị, quân sự song toàn, nhanh nhạy, nắm bắt thời cơ, hành động kiên quyết, kịp thời, đã cùng tập thể đưa cuộc tổng khời nghĩa đến thắng lợi hoàn toàn.


Kháng chiến toàn quốc 1946, ông là Ủy viên trưởng Quốc phòng của Ủy ban kháng chiến Trung Bộ cho đến năm 1950. Phó bí thư khu ủy khu 5 kiêm Chính ủy Liên khu 5 từ năm 1945 đến năm 1948. Liên khu V có vị trí chiến lược quan trọng, đặc biệt có chiến trường Tây Nguyên, khống chế cả khu vực Nam bản đảo Đông Dương và nối liền hành lang huyết mạch với Nam Bộ. Vì vậy, từ ngày đầu toàn quốc kháng chiến, ông Phạm Văn Đồng được Trung ương cử vào làm đại diện của Trung ương và Chính phủ ở đây trực tiếp chỉ đạo chiến trường này. Trong thời kỳ đó, quân và dân liên khu V đã lập được kỳ tích: giữa vòng vây của quân thù, vẫn giữ vững vùng tự do gồm bốn tỉnh đồng bằng ven biển liên hoàn - Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Bên cạnh đó chính quyền cách mạng hoàn chỉnh, có kinh tế tự túc ổn định, văn hóa giáo dục phát triển, hệ thống đường giao thông giữa các tỉnh với Nam Bộ. Nam Trung Bộ thực sự trở thành một hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến. Với cương vị là Chính ủy Bộ Tư lệnh Liên khu V, ông có sự đóng góp quan trọng vào kỳ tích đó.

Từ năm 1949, sau khi ông Phạm Văn Đồng cùng một số lãnh đạo khu 5 khác (Nguyễn Duy Trinh...) được điều ra Việt Bắc, tướng Nguyễn Chánh giữ vai trò chủ chốt ở liên khu 5. Ông lần lượt giữ các chức vụ Phó Bí thư Liên khu ủy V, kiêm Chính ủy Liên khu 5 (1948-1951). Bí thư Liên khu uỷ, Chính uỷ kiêm Tư lệnh Liên khu 5 (1951-1954).


Năm 1950, ông ra dự Hội nghị tổng kết chiến dịch Biên giới, ở lại tham gia Đảng uỷ các chiến dịch Đường 18 và Trung Du vào đầu năm 1951 với cương vị Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Ông đã dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2 (1951) và được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Lúc này, Trung ương đã có ý định giữ ông ở lại làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thay cho Đại tướng Nguyễn Chí Thanh để Đại tướng tập trung chuyên về công tác Đảng, nhưng do nhu cầu của chiến trường nên ông lại trở về Liên khu 5.

huy thanh
28-06-2009, 09:35 PM
ừ năm 1951 trở đi, phong trào cách mạng và kháng chiến ở Liên khu V không ngừng tiếp tục được giữ vững mà còn có những bước phát triển mạnh mẽ và nhanh hơn. Là Bí thư Liên khu ủy, ông tỏ ra là một người lãnh đạo toàn diện. Là Chính ủy kiêm Tư lệnh, ông tỏ ra là một cán bộ có tầm nhìn chiến lược, đồng thời là người chỉ huy kiên quyết có tài năng tổ chức. Vào mấy năm 1951-1952, Liên khu V gặp nhiều vấn đề khó khăn phức tạp: vụ Sơn Hà, nạn đói trầm trọng vì thiên tai, những sai lầm trong chỉ đạo thu thuế nông nghiệp, thực hiện tổng động viên, những vấn đề nẩy sinh trong xây dựng và tác chiến của các lực lượng vũ trang...Nguyễn Chánh một lần nữa lại tỏ rõ tài năng bao quát mọi lĩnh vực, giải quyết dứt điểm từng vấn đề, trên cơ sở một tri thức sâu rộng và đầu óc thực tiễn. Năm 1952, ông ra một quyết định táo bạo là giảm quân của Liên khu V từ 5 vạn xuống còn 3 vạn theo hướng "tinh binh, tinh cán" nhằm nâng cao khả năng chiến đấu của bộ đội Liên khu.


Năm 1953, ông ra Việt Bắc để nhận nhiệm vụ quan trọng trong chiến cục Đông-Xuân-Hè 1953-1954. Nhằm phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ, thực hiện nghị quyết của Quân ủy Trung ương, ông đã kiên trì đấu tranh, giải thích với mọi ý kiến trái ngược cũng như các thắc mắt của lãnh đạo cũng như bộ đội và đồng bào khu 5 về chủ trương ‘’không bị động đối phó với địch ở vùng tự do mà chủ động đưa lực lượng chủ lực tập trung đánh lên Tây Nguyên, giành lấy địa bàn chiến lược này, đẩy địch vào thế bị động. Đó là cách tốt nhất để giữ vững vùng tự do đồng bằng’’. Bởi nhiều người lúc đó cho rằng nếu làm vậy sẽ mất vùng tự do và muốn dùng chủ lực để giữ vững đồng bằng. Kết quả : một mảng phòng ngự lớn của địch ở Bắc Tây Nguyên đã bị phá vỡ, tỉnh Kon Tum và vùng cả vùng Bắc Tây Nguyên được giải phóng. Sau đó, nhanh chóng phát triển chiến dịch, tiếp tục tiến xuống phía Nam, đánh quân Pháp trên tuyến đường chiến lược số 19, tiêu diệt hoàn toàn binh đoàn cơ động số 100 là một binh đoàn tinh nhuệ vào bậc nhất của quân viễn chinh Pháp vừa rút từ Triều Tiên về; bao vây Plây-cu, thọc sâu vào cao nguyên Đăk lăk, áp sát Buôn Ma Thuột, tạo điều kiện nối liền với chiến trường Nam Bộ, đồng thời tiến xuống cùng quân và dân địa phương đánh mạnh quân Pháp ở Phú Yên và uy hiếp cả Nha Trang. Ở các chiến trường địch hậu trong Liên khu, thừa thắng quân và dân khu 5 đã tiêu diệt, bức hàng hàng chục đồn bốt, giải phóng những khu vực rộng lớn với hàng chục vạn dân. Phía Nam và Đông-Bắc Campuchia, phối hợp với quân dân bạn giải phóng một vùng rộng lớn. Chiến dịch At-lan-te của địch đã bị đánh bại hoàn toàn, vùng tự do đồng bằng Liên khu 5 được giữ vững và mở rộng. Thế trận ở Tây Nguyên cũng như trên toàn Liên khu lúc này thật đẹp, tạo triển vọng giành thắng lợi to lớn hơn nữa.


Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, năm 1954, ông tập kết ra Bắc lần lượt giữ các chức vụ Phó Tổng tham mưu trưởng rồi Tổng cục trưởng Tổng cục cán bộ Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông là một trong ba người được đề nghị phong quân hàm Thượng tướng đầu tiên khi cấp bậc này được áp dụng. (Hai người còn lại là Đại tướng Hoàng Văn Thái và Thượng tướng Chu Văn Tấn).

Vợ của tướng Nguyễn Chánh là bà Phạm Thị Trinh cũng là một nữ cán bộ cách mạng kiên cường.Là người vợ đồng thời là ông, đồng hương của ông. Bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam 1930-trước tướng Nguyễn Chánh một năm. Giống như ông, bà bị thực dân Pháp bắt giam 2 lần. Lần đầu vào năm 1939 và lần thứ hai vào năm 1941. Sau ngày cách mạng tháng 8 thành công, bà là Đại biểu Quốc hội khóa 1 và 2.


Anh vợ của tướng Nguyễn Chánh là Trung tướng Phạm Kiệt là một trong những người lãnh đạo khởi nghĩa Ba Tơ, ông tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm cũng từng bị thực dân Pháp bắt và cầm tù tại Ba Tơ, Buôn Ma Thuột…Sau cách mạng tháng 8, ông từng giữ các chức vụ như Cục trưởng Cục Bảo vệ, Tư lệnh của lực lượng Công an vũ trang…Chính ông là người đầu tiên, hiếm hoi trong chiến dịch Điện Biên Phủ đặt nghi vấn về kế hoạch ‘’đánh nhanh thắng nhanh’’ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp dựa trên sự quan sát của ông về cách bố trí pháo binh của ta và quân Pháp ở Điện Biên Phủ.


Con gái ông là Tiến sĩ Khoa học, Viện sĩ Viện hàn lâm chuyên ngành Bách khoa toàn thư Nga, Nguyễn Tuyết Minh. Là người đầu tiên trong nhóm các nhà khoa học Việt Nam được giao nhiệm vụ biên soạn bộ đại từ điển Việt-Nga 3 tập dày 4000 trang.


Sự phát triển tài năng của tướng Nguyễn Chánh có thể nói là trường hợp khá đặc biệt. Ông không hề được đào tạo qua một trường lớp chính quy nào, ngay cả việc học văn hóa ngay từ nhỏ cũng rất hạn chế. Nhưng là một con người thông minh, có ý chí tiến thủ mạnh, khiêm tốn và ham học hỏi. Những bài học cơ bản về khởi nghĩa vũ trang và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính là ông đã học từ nhà lao Buôn Ma Thuột, khi những nhà cách mạng bị giam ở đây đã thực hiện “biến nhà tù của đế quốc thành trường học cách mạng” và sau đó trong thực tiễn đấu tranh, ông đã vận dụng hết sức thành công.


Tướng Nguyễn Chánh là một con người có đức tính đoàn kết, tập hợp được cán bộ và chiến sĩ, quân và dân. Trước hết, vì ông luôn toàn tâm, toàn ý vì sự nghiệp lớn của cách mạng, chí công vô tư, có tâm hồn trong sáng và cuộc sống thanh bạch. Ông là một chiến sĩ cách mạng kiên cường, một chỉ huy nghiêm khắc, quyết đoán nhưng cũng lại là một con người cởi mở, nhân hậu, giản dị, biết linh hoạt trong ứng xử, ăn ở thuỷ chung với ông, đồng bào. Ông được cán bộ, chiến sĩ, được nhân dân Liên khu 5 hồi bấy giờ hết sức quý mến và khâm phục.


Tướng Nguyễn Chánh là một con người tài hoa. Trong tài hùng biện của ông-mà tất cả những người từng tiếp xúc với ông đều nhớ và cảm phục trong tài năng tập hợp, thu phục lòng người, kể cả nhiều loại trí thức “có cỡ” mặc dù ông đi học ở trường chưa hết bậc phổ thông, ngay cả trong cách xử trí các tình huống khác nhau của ông ở cương vị một người lãnh đạo cao và một vị tướng, nhìn kỹ đều có in dấu chất tài hoa đẹp đẽ ấy.


Tướng Nguyễn Chánh cũng là người rất quan tâm đến báo chí, ông thường hay qua chỗ toà soạn báo liên khu 5, thăm hỏi từng phóng viên, phát biểu những ý kiến chỉ đạo chung đối với tờ báo và nhiều khi đối với từng bài báo. Những ý kiến của ông thường rất nghiêm khắc, cặn kẽ, chứng tỏ ông rất coi trọng vai trò của tờ báo và ông đọc báo rất kỹ. Nhưng cách nói của ông, ngay khi phê phán, vẫn rất ân cần. Ông thường không “chụp” ngay vào những chỗ khuyết điểm, sai sót của những người làm báo trên báo, mà bằng các câu hỏi nhẹ nhàng, khêu gợi cho họ tự thấy ra, cuối cùng chính tự họ rút ra bài học, kết luận. Ông đặc biệt quan tâm đến lực lượng trẻ, là học sinh mới vào bộ đội từ hoàn cảnh gia đình cho đến công tác và sinh hoạt. Ông định hướng động viên, tạo điều kiện cho họ học tập. Ở ông có một sự hiểu biết sâu, một sự đồng cảm đối với những người cầm bút và giới văn nghệ sĩ. Ông thường căn dặn họ ‘’Làm văn học là công việc rất cao quý, nói là thiêng liêng cũng không quá đáng, phải học hỏi rất nhiều. Học trường, học thầy, học trong sách. Nhưng có một cái học hết sức quan trọng không thể thiếu, đó là học hỏi từng trải ở đời’’.


Ông cũng là một người rất am hiểu và ham mê các loại hình văn hóa dân tộc như hát Tuồng, hát Bội. Nhà văn Nguyên Ngọc kể lại rằng, có một lần ông xin các nghệ sĩ đoàn Tuống liên khu 5 cho ông một vai diễn. Không được chấp nhận, ông xin một chân cầm chầu trong đêm diễn. Người cầm chầu phải là người rất am tường về tuồng tích của vở diễn, thế mà Nguyễn Chánh, không hiểu ông đã thuộc tuồng từ bao giờ, buổi diễn hôm ấy, tiếng trống chầu của ông đã làm cho không ít nghệ sĩ phải ngỡ ngàng!

Trước khi mất, tướng Nguyễn Chánh giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục cán bộ Quân đội, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông mất trước khi Nhà nước phong quân hàm cho các tướng lĩnh nên chưa một ngày cầu vai trên áo ông được lấp lánh ngôi sao. Ông là một tướng lĩnh cao cấp của Quân đội nhưng không có cấp bậc cụ thể giống như tướng Phùng Chí Kiên. Ông đã đóng góp một cách xuất sắc vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp trên chiến trường Khu V.

Bài viết, nguồn ảnh : Trang thông tin điện tử tỉnh Quảng Ngãi.

huy thanh
28-06-2009, 09:40 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/Trung-tuong-Nam-Long.jpg

Trung tướng Nam Long (8/10/1921-1/7/1999), nguyên Phó Giám đốc Học viện lục quân, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn, nguyên Tư lệnh Binh chủng Pháo binh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ngày 19/5/2007, Hội sử học Việt Nam đã trân trọng tặng Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam bức tượng đồng của ông.


Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất (2) hạng Ba (1), 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba, Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất Nhì Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng.


Ông được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1974, Trung tướng năm 1981.

“…Đồng chí là một trong những cán bộ chủ chốt của quân đội chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang nhân dân ta - Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, là một trong những người bảo vệ Bác Hồ ở Việt Bắc cho đến khi Bác về Hà Nội….


…Trung tướng Nam Long là một đảng viên tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng của Đảng: cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, thẳng thắn cương trực, luôn nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng của Quân đội nhân dân, tinh thần đoàn kết dân tộc và thống nhất Bắc - Trung - Nam. Là một cán bộ lãnh đạo: Trung dũng, Kiên cường, Chân thành, Đoàn kết.


Đồng chí đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, để lại tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, về tài năng lãnh đạo chỉ huy cho các thế hệ đảng viên, cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng của chúng ta”. (Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp)


Trung tướng Nam Long tên thật là Đoàn Văn Ưu bí danh là Vũ Nam Long, nhưng đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ vẫn gọi ông một cách trìu mến là tướng Nam Long trước khi ông được phong tướng rất lâu. Ông là người dân tộc Tày quê tại Xã Đề Thám, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng.


Noi gương người anh họ Hoàng Đình Giong, một cán bộ lãnh đạo Đảng ở Cao Bằng thời ấy, ông sớm giác ngộ từ thuở 15, 16. Được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Dân chủ tháng 2 năm 1937, ông làm liên lạc cho Xã uỷ rồi Tổng uỷ đến năm 1941.


Từ năm 1942 đến năm 1944, ông là một trong những thanh niên yêu nước (như Thượng tướng Đàm Quang Trung, Thượng tướng Vũ Lập, Đàm Quốc Chủng, Thu Sơn...) được chọn đi học ở Trường quân sự Hoàng Phố, Liễu Châu (Trung Quốc) để đào tạo cán bộ quân sự chuẩn bị khởi nghĩa giành chình quyền. Lớp do ông Hoàng Văn Thái (sau này là Đại tướng) phụ trách. Từ đây, ông đổi tên là Vũ Nam Long. Cuối năm 1943, ông được cử lên Tĩnh Tây hoạt động và lần đầu tiên ông được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Giữa năm 1944, trong không khí cách mạng sục sôi ở vùng Cao - Bắc - Lạng, ông trở về Cao Bằng tham gia lực lượng vũ trang địa phương. Ông cùng với Mai Trung Lâm, Phạm Vĩnh Tường và một người phụ nữ tên là Lạc dưới sự chỉ huy của ông Lê Quảng Ba - Đội trưởng (sau này là Thiếu tướng) , ông Hoàng Sâm - Đội phó l(sau này là Thiếu tướng Liệt sĩ) àm nhiệm vụ bảo vệ đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Tĩnh Tây - Trung Quốc về Pắc Bó - Cao Bằng, chuẩn bị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân.

Tháng 10/1944, ông được phân công học lớp huấn luyện ngắn ngày do Việt Minh tổ chức do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giới thiệu. Học xong, ông được phân công về Hà Giang công tác nhưng cuối cùng ông được phân công ở lại vì nhiệm vụ quan trọng đó là Thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân theo sự lựa chọn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.


Tháng 12 năm 1944, đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời. Ông được điều lên tham gia đội quân chủ lực đầu tiên của Lực lượng vũ trang cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và là Chính trị viên Trung đội 2 (Trong bức ảnh Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, người đứng bên cạnh ông Hoàng Văn Thái cầm cờ, vai đeo ruột ghé gạo chính là ông). Vinh dự tham gia các trận đánh thắng lợi đầu tiên, ông được đề bạt từ cán bộ Tiểu đội lên chỉ huy Trung đội.


Ngày 5 tháng 3 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và tham gia xây dựng phong trào Cách mạng ở Hà Giang.


Sau khi tham gia "Phong trào Nam tiến", từ tháng 5 năm 1945, ông được điều về phục vụ Bác Hồ, trực tiếp bảo vệ Bác ở Tân Trào cho đến khi Bác về Thủ đô Hà Nội.


Cách mạng tháng Tám thành công chưa bao lâu thì quân Pháp gây hấn ở Sài Gòn. Ngày 26/9, một đơn vị Việt Minh tại Hà Nội đã sát nhập với Chi đội 3 và 4 Quân giải phóng từ Việt Bắc về được lệnh Nam tiến đánh giặc. Khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông nhờ Đại tướng xin cho ông Nam tiến đánh giặc. Vào đến Vinh, ông được Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao cho làm Chính trị viên Chi đội 3 Nam tiến chi viện cho mặt trận phía Nam thay cho ông Nguyễn Văn Rạng đi làm nhiệm vụ khác. Tới Nha Trang ông gặp người anh họ là ông Hoàng Đình Giong (tức Vũ Đức) (sau này hy sinh trong kháng chiến chống Pháp) và được giao cho đem Chi đội 3 vào thẳng phía Bắc Sài Gòn cùng với ông Phúc Thơ (bí danh của ông Mông Văn Vẩy). Vào đến Sài Gòn, ông Phúc Thơ được cử đi giữ chức vụ Ủy viên Quân sự miền Đông Nam Bộ, tướng Nam Long được cử làm Chính trị viên kiêm Chỉ huy trưởng Chi đội 3. Chi đội 3 Nam Tiến đã lập được nhiều chiến công, đi vào lịch sử, là đội Nam Tiến đầu tiên được nhân dân Nam Bộ yêu mến đặt tên là "Chi đội Nam Long" và cái tên tướng Nam Long cũng bắt đầu từ đó. Do trang bị thiếu thốn, Chi đội lùi ra Xuân Lộc phối hợp với du kích người Thượng chặn quân địch từ Biên Hòa đánh ra. Tiếp theo, chi đội 3 do tướng Nam Long chỉ huy phối hợp với các đơn vị chi viện từ Bắc vào bao vây quân Nhật giải phóng thị xã Phan Thiết. Sau đó, chi đội Nam Long tiến ra phối hợp với một phân đội của tỉnh Quảng Ngãi cùng với du kích người Chăm, Cờ Ho…tấn công quân Nhật giải phóng thị xã Phan Rang (24/11/1946). Sau hơn 1 tháng chiến đấu, chi đội Nam Long được lệnh về Tháp Chàm củng cố rồi lên Tây Nguyên chặn địch không cho đánh nống ra Ninh Hòa, Plây-ku…Ngày 21/1/1946, chi đội Nam Long được tăng cường cối 81mm và pháo binh, mở cuộc tấn công vào Buôn Ma Thuột. Nhưng vài hôm sau, quân Pháp có xe tăng, đại bác và máy bay tổ chức đánh chiếm lại. Đúng 30 Tết (28-1), chi đội về tập kết ở Đồng Bò để củng cố, rồi về đóng ở sông Cầu-Phú Yên, chặn đánh quân Pháp ở đèo An Khê, sau đó phát triển thành nhiều tiểu đoàn, trung đoàn chủ lực.

Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp ngày 6/3/1946 được ký kết, ông nhận lệnh ra Bắc làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tiếp phòng quân ở Hải Dương. Sau khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông về làm Trung đoàn trưởng Trung doàn 59, Quân khu Việt Bắc. Trung đoàn 59 đã cùng các đơn vị bạn tích cực đánh địch, bảo vệ An toàn khu Trung ương, góp phần làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của quân Pháp.


Tháng 6 năm 1949, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh, nhằm đáp ứng yêu cầu của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông dẫn một đơn vị của Trung đoàn 59 và các đơn vị phối thuộc vượt biên giới Đông Bắc sang Trung Quốc, tham gia chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn dưới sự chỉ huy của ông Lê Quảng Ba (sau này là Thiếu tướng). Suốt 5 tháng trời chiến đấu trong điều kiện khó khăn gian khổ, bộ đội Việt Nam phối hợp với các đơn vị thuộc Biên khu Việt Quế, diệt nhiều quân Quốc dân Đảng, giải phóng hơn 10 thị trấn và thị tứ thuộc huyện Phăng Thành, góp phần vào sự nghiệp giải phóng của nhân dân Trung Quốc vùng biên giới.

Từ cuối năm 1950 đến đầu năm 1953, trong bước chuyển mình từ chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy, ông làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 141 thuộc Đại đoàn 312. Dưới sự chỉ huy của ông, Trung đoàn đã tiến đánh thắng lợi một số trận nổi tiếng như Ba Huyên (chiến dịch Trung du), Ba Vì (chiến dịch Hoà Bình), Ba Lay (chiến dịch Tây Bắc). Trải qua rèn luyện, Trung đoàn 141 trở thành một trong những Trung đoàn giỏi đánh công sự vững chắc và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chủ công trong trận đánh Him Lam lịch sử.


Từ đầu năm 1953 đến năm 1956, ông lần lượt được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng, Đại đoàn phó rồi Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trên cương vị Tham mương trưởng, Đại đoàn 304 đã bao vây kiềm chế và tiêu hao quân Pháp ở Phân khu Hồng Cúm, không cho quân Pháp chi viện cho khu Mường Thanh, chặn đường tiếp tế và không cho quân Pháp trốn sang Lào. Đồng thời tiêu diệt và bắng sống toàn bộ 2000 quân Pháp ở Hồng Cúm định tháo chạy về Thượng Lào. Chiến công đó đã góp phần vào sự toàn thắng của trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ - một trong những trận tiêu diệt lớn và gọn nhất trong lịch sử chiến đấu của Quân đội Nhân dân Việt Nam.


Miền Bắc được giải phóng, ông được cử sang học tập ở Học viện Vô-rô-si-lốp (Liên Xô cũ) từ năm 1956 đến năm 1959.

Từ năm 1959 đến 4/1961 - Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Pháo binh.


Từ tháng 4/1961 đến 4/1962 - Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn.


Từ tháng 4/1962 đến 5/1966 - Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Quân khu 4.


Từ tháng 5/1966 đến 4/1973 - Ông được cử vào chiến đấu ở miền Nam trên cương vị Phó Tư lệnh B4. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ông chỉ huy cách quân đánh vào thành phố Huế trong khi người đồng hương của ông là tướng Đàm Quang Trung chỉ huy đánh Quảng Trị.


Tháng 4/1975, với tư cách là Đặc phái viên Bộ Quốc phòng, ông cùng các Quân đoàn chủ lực tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh và có mặt ở Dinh Độc Lập vào những giờ phút đầu tiên tiếp nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh.


Suốt từ năm 1974 đến năm 1986, ông là Phó viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng).


Từ năm 1989, ông được nghỉ hưu. Tham gia Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Cựu chiến binh Việt Nam lần thứ nhất năm 1990, ông là một thành viên tích cực, góp phần vào thành công của Đại hội.


Từ năm 1994, ông là Trưởng Ban liên lạc truyền thống Cựu chién binh Sư đoàn 304 tại thành phố Hồ Chí Minh.


Hơn 50 năm hoạt động cách mạng trong đó có đến 45 năm là các bộ Quân đội Nhân dân Việt Nam từ những ngày đầu thành lập, cuộc đời của tướng Nam Long là một cuộc đời chiến đấu sôi nổi và liên tục. Luôn luôn đi đầu, luôn luôn có mặt ở những nơi chiến sự ác liệt nhất trực tiếp chỉ huy là tác phong quân sự của tướng Nam Long. Hình ảnh tướng Nam Long tại mặt trận Bắc Sài Gòn trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến tại Nam Bộ, mặc chiếc áo đại cán dài bạc màu chiến trận, đầu đội mũ cứng trắng tay cầm ống nhòm trực tiếp quan sát trận địa và chỉ huy chi đội là một hình ảnh đẹp đi vào lòng người đặc biệt là quân và dân Nam Bộ những ngày đầu kháng chiến bằng cách gọi trìu mến ‘’tướng Nam Long’’ và ‘’Chi đội Nam Long’’. Ngay khi quân Pháp theo chân đồng minh tiến vào miền Nam, ông đã chủ động nhờ Tổng tư lệnh xin Bác Hồ cho ông thôi làm bảo vệ Bác vào Nam chiến đấu. Rồi cũng chính ông khi được Bác đồng ý đã theo xe ngay vào ngay Vinh ra nhập đội hình đoàn quân Nam tiến, khi mà quyết định của Tổng tư lệnh mới ở mức độ ‘’lệnh mồm’’, ông đến với đoàn quân Nam tiến trước khi chỉ thị chính thức của Tổng tư lệnh đến với những người chỉ huy Nam tiến tại Vinh . Chính vì vậy, mà ông là một trong những cán bộ quân sự chi viện cho Nam Bộ đầu tiên có mặt tại Sài Gòn những ngày đầu của Nam Bộ kháng chiến. Khi về với cuộc sống bình thường cho đến những năm cuối đời, ông vẫn giữ vai trò đi đầu trong đấu tranh với các tiêu cực trong xã hội.


Bài viết : Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam, Báo Quân đội Nhân dân

Nguồn ảnh : Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam

huy thanh
28-06-2009, 09:43 PM
http://img118.imageshack.us/img118/8651/trungtuongdongsinguyenbr5.jpg

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên (sinh 1/3/1923), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị (1986 – 1991), nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, nguyên Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, nguyên Bộ trưởng Bộ Xây dựng, nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Thủ đô, nguyên Tư lệnh Đoàn 559 - Đường Trường Sơn huyền thoại (1967 – 1976), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam (1966) kiêm Chủ nhiệm Hậu cần tiền phương, nguyên Chính ủy kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Trung và Hạ Lào, nguyên Chính ủy Quân khu 4, nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm Việt Minh kiêm Chỉ huy trưởng Bộ đội Quảng Bình, nguyên Đại Biểu Quốc hội khóa 1.

Huân chương Sao vàng (Huân chương cao quý nhất của nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) , Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng nhất, Huân chương Chiến thắng hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất và nhiều huân huy chương khác.

Là một trong hai vị tướng được phong vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng (1974) (vị tướng còn lại là Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam). Ông cũng là vị Tư lệnh lâu năm nhất của Đường Trường Sơn lịch sử từ năm 1967 đến năm 1976 trong đó thời kì từ 1967 đến 1972 là thời kì chống lại chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mĩ lúc ác liệt nhất nhằm đảm bảo chi viện cho miền Nam và 1973 đến 1976 là thời kì kết thúc chiến tranh lúc Đường Trường Sơn phải đảm bảo vận chuyển một khối lượng lớn người và của phục vụ cho trận chiến cuối cùng.. Là một người luôn được giao những nhiệm vụ quan trọng vào những thời điểm quan trọng. Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách Tổng cục Xây dựng Kinh tế Quân đội rồi Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, Bộ trưởng Bộ Xây dựng vào thời điểm Việt Nam sau chiến tranh. Năm 1979, khi chiến tranh Biên giới phía Bắc xảy ra ông được gọi lại Quân đội giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Thủ đô – trái tim thân yêu của Tổ quốc.

Ông là một trong các vị tướng của Việt Nam được cả thế giới biết nhiều đến vì tên tuổi của ông luôn gắn liền với Đường Trường Sơn huyền thoại.

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, tên thật là Nguyễn Văn Đồng (chứ không phải là Nguyễn Sĩ Đồng) hay còn gọi là Nguyễn Hữu Vũ sinh tại xã Quảng Trung, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Sinh ra trong một gia đình khá giả, cho nên lúc còn nhỏ ông được học cả chữ Quốc ngữ, chữ Hán và cả cả tiếng Pháp.

Sáu tuổi bắt đầu đến trường. Bảy tuổi học chữ Hán rồi học chữ quốc ngữ hết bậc tiểu học ở trường huyện, lên tỉnh học tư thục. Là một người có lòng yêu nước, sớm tiếp thu tư tưởng Cách mạng, cho nên khi đang học năm thứ 3 bậc Thành trung tại trường Xanh Ma-ri ở Thị xã Đồng Hới ông bị thực dân Pháp truy nã vì những hoạt động ‘’chống đối’’ và được Xứ ủy Trung Kỳ tổ chức thoát ly sang Thái Lan. Ở Thái Lan, ông tích cực tham gia phong trào của Việt Kiều yêu nước Thái Lào. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939.

Năm 1944, trước tình thế cách mạng mới, phát xít Nhật tấn công Pháp ở Đông Duơng, ông trở về nước hoạt động bí mật phụ trách phủ ủy Quảng Trạch, chủ nhiệm Báo Hồng Lạc và xây dựng Chiến khu Trung Thuần. Trong thời gian này ông còn tham gia huấn luyện quân sự chuẩn bị cho cách mạng tháng tám.

Sau cách mạng tháng tám 1945, ông giữ chức Bí thư huyện ủy Quảng Trạch kiêm Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Quảng Bình. Tháng 6 năm 1946, ông được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa 1 Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Toàn quốc kháng chiến, ông được phân công làm Chính trị viên kiêm Chỉ huy trưởng Tỉnh đội Quảng Bình. Thời kì này, Quảng Bình là một địa bàn lực lượng của ta tương đối yếu lại xa Trung ương vị trí lại nằm giữa khu 4 và khu 5, thực dân Pháp ra sức bình định. Bên cạnh những hoạt động quân sự, thực dân Pháp còn sử dụng lại chiêu bài Đạo thiên chúa, trước kia người Pháp sử dụng rất thành công khiến triều đình nhà Nguyễn phải đầu hàng dâng đất. Thông qua tên phản động tay sai Cơ đội lốt Đạo thiên chúa, lợi dụng sự cả tin và sự nghèo khó của người dân Quảng Bình (thế mới có câu Theo đạo có gạo mà ăn), thực dân Pháp đã tạo ra được một đội ngũ chỉ điểm, tay sai. Kháng chiến chống Pháp trên địa bàn Quảng Bình vì thế hết sức khó khăn. Năm 1948, ông đã táo gan chỉ huy vào tận sào huyệt diệt gọn đầu sỏ nhóm phản động này. Sau trận đánh này ông bị thực dân Pháp truy lùng hết sức gắt gao. Ông đổi tên thành Nguyễn Hữu Vũ.

Năm 1950, ông được điều lên Việt Bắc tham gia lớp học trung cao Quân sự rồi được điều về Bộ Tổng tham mưu.

Năm 1953, để phục vụ cho Chiến dịch Đông Xuân (1953-1954) đại đoàn 325 phối hợp với bộ đội Itsala (Nhân dân) Lào tiến công giải phóng đến tận ba biên giới, đây là chiến trường hết sức quan trọng của khu 5 vì nó bảo đảm sự nối liền của ba nước trên bán đảo Đông Dương. Để đảm bảo chắc thắng hướng chiến lược, Tổng tư lệnh cử đoàn phái viên thị sát chiến dịch do ông đại diện Bộ tổng tham mưu phụ trách. Với phong cách sâu sát, cẩn thận của mình, ông đã trực tiếp đến từng tiểu đoàn, đại đội hỏa lực xem xét, chấn chỉnh…Thắng lợi của chiến dịch này góp phần không nhỏ vào Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Sau năm 1954, ông trở về Bộ tổng tham mưu, phụ trách Cục Động viên dân quân. Năm 1961, ông được cử sang Trung Quốc học Trường cao cấp Quân sự Bắc Kinh. Năm 1964 về nước ông được cử giữ chứ Phó Tổng tham mưu trưởng.

Chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất 1965, ông được cử vào làm Quân khu 4 làm Chính ủy Quân khu. Sau đó, được cử làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Trung và Hạ Lào. Cuối năm này ông bị thương và phải về Hà Nội điều trị.

Đầu năm 1966, ông được cử giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm Chủ nhiệm Hậu cần tiền phương thực hiện nhiệm vụ chi viện cho các chiến trường của ta và hai nước Lào và Cam-pu-chia ở phạm vi Nam Đông Dương.

Vào thời điểm Mỹ tập trung đánh phá mạnh đường chiến lược Trường Sơn, nhằm cắt đứt con đường huyết mạch Bắc Nam, để đối phó với âm mưu và thủ thuật chiến tranh mới của đế quốc Mỹ bảo đảm liên tục chi viện Bắc Nam, ông được cử vào làm Tư lệnh Đường Trường Sơn cho đến năm 1976. Bộ đội Trường Sơn thời kì này dưới sự lãnh đạo của ông đã làm thất bại âm mưu lập hàng rào điện tử Mắc-ma-na-ma (Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thời kì đó), thất bại chiến tranh phá hoại đồng thời góp phần đánh bại các âm mưu lấn chiếm bảo vệ vững chắc con căn cứ hậu cần tiền phương của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1976, ông được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách Tổng cục xây dựng kinh tế tham gia khắc phục hậu quả của chiến tranh phát triển kinh tế đất nước. Tiếp sau đó, ông được chuyển sang ngạch dân sự lần lượt giữ các chức vụ Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải rồi Bộ trưởng Bộ Xây dựng. Ông có những góp phần không nhỏ trong việc khôi phục và phát triển giao thông vận tải Việt Nam sau thời chiến (đường xá, cầu cống…).

Chiến tranh Biên giới phía Bắc nổ ra, năm 1979, ông được điều lại Quân đội giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Thủ đô. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng khóa IV.

Năm 1982, ông là Ủy viên dự khuyết Bộ chính trị khóa V. Từ năm 1986 đến năm 1991, thời kì Đổi mới, ông là Ủy viên Bộ Chính trị khóa VI, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải.

Năm 1992, ông thôi các chức vụ trong Đảng và Chính phủ và được giao làm Đặc phái viên Chính phủ đặc trách chương trình 327 về Phát triển rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Rồi là Cố vấn đặc biệt của Chính phủ tham gia ban chỉ đạo nhà nước về Đường Trường Sơn thời kì đổi mới.

Đồng Sĩ Nguyên là cái tên của ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cho. Là cái tên tạo lên tên tuổi của ông, là cái tên luôn gắn liền với con đường lịch sử Trường Sơn và cũng là cái tên được cả thế giới biết đến. Và họ Đồng cũng được ông cùng con cháu giữ cho đến hiện nay và sau này. Đồng Sĩ Nguyên là biệt hiệu của Tiến sĩ Đệ tam cập giáp Đồng Doãn Giai (năm thi 1763), là một vị quan xuất thân từ quan văn nhưng ngài lại được cử sang giữ chức võ và được điều lên làm Đốc đồng Lạng Sơn (tương đương tỉnh đội trưởng bây giờ) – trấn thủ một địa bàn biên giới quan trọng. Ngài đã anh dũng hy sinh khi đem quân cản bước tiến của quân xâm lược phương Bắc. Tên ngài hiện được khắc trong bia Tiến sĩ ở Văn Miếu và ngài có một Nghè thờ tại quê nhà Hùng Sơn, Đại Từ, Thái Nguyên. Nghè của ngài được đặt trong cụm di tích 27/7 – nơi mà năm 1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định lấy ngày 27/7 là ngày thương binh liệt sĩ. Cụm di tích này gồm nghè thờ ngài, Công chúa họ Ngô người đã có công cùng chồng khai phá ra mảnh đất này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các anh hùng liệt sĩ. Đây cũng là An toàn khu kháng chiến và cũng là nơi mà Bác Hồ làm việc trong một thời gian. Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy cái tên Đồng Sĩ Nguyên đặt tên cho ông để nhắc đến việc chuyển ông từ ‘’nghiệp văn’’ sang ‘’nghiệp võ’’.

Ông là một con người của những ý tưởng không ngừng, người ta gọi ông là ông Nhất dạ sinh bá kế, trong suốt thời kì giặc Mỹ leo thang đánh phá ác liệt Đường Trường Sơn, khi không quân Mỹ phát hiện ra cung đường vận chuyển này để đánh phá thì ông kịp thời chỉ đạo vận chuyển trên cung đường khác hay xây dựng cung đường khác…Đường Trường Sơn thực sự trở thành một ‘’ trận đồ bát quái xuyên rừng rậm’’ (Theo giới truyền thông phương Tây) đối với không quân Mỹ, với hai trục chính là Đường Trường Sơn Đông rồi Đường Trường Sơn Tây và hàng loạt các cung đường trách bom, đường cua, hệ thống đường xương cá…

Điều khiển con đường Trường Sơn với chiều dài 1000 cây số, như một mê cung, cùng với một lượng lớn bộ đội và Thanh niên xung phong (có lúc lên tới trên 10 vạn), trang thiết bị chiến tranh, hệ thống thông tin và ống dẫn dầu Bắc Nam…Đòi hỏi ở vị Tư lệnh một tầm quản lí, chỉ huy, phối hợp tốt và đặc biệt có sự hiểu biết rộng trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt trong thời chiến, trước những thời cơ đòi hỏi người chỉ huy những quyết định chính xác, dứt khoát và nhất quán. Cũng chính về những phẩm chất này cùng những kinh nghiệm về xây dựng đường Trường Sơn trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ mà sau ngày đất nước thống nhất ông lại được cử làm Bộ trưởng Bộ Xây dựng rồi Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải rồi bây giờ khi đã ngoài 80 tuổi là Đặc phái viên của Chính phụ phụ trách Đường Trường Sơn công nghiệp hóa.. Những đóng góp của ông vào việc phục hồi, xây dựng, kiến thiết hệ thống cơ sở hạ tầng nứoc ta sau thời chiến là không nhỏ.

Cũng có người nói ông là người bảo thủ, điều đó không đúng. Là một người quả quyết, và táo bạo dám nghĩ dám làm, ông đưa ra ý kiến, ý tưởng của mình và bảo vệ nó đến cùng bới chúng là đúng đắn. Hãy thử xem những quyết định của ông khi điều hành Đường Trường Sơn, hay những quyết định chính xác khi phá tan hàng rào điện tử Măc-ma-ra-ma, hay sự đúng đắn về việc xây dựng cầu Chương Dương bằng sắt phế liệu, thu gom từ dân, một cây cầu do kĩ sư Việt Nam làm từ khâu thiết kế đến khâu thì công. Một công việc mà lúc ông đề xuất ra nhiều người bảo là viển vông và cho rằng ông bảo thủ cái ý kiến viển vông của mình khi tiến hành xây dựng cầu. Và thực tế hoạt động của cầu Chương Dương cho đến này là một minh chứng hùng hồn về việc ông đúng. Hay trong thời kì đổi mới, Hải Phòng là đơn vị đi đầu ở nước ta trong việc đổi mới những vấn đề như : khóan trong nông nghiệp, bỏ tem phiếu, xóa bỏ chế độ bán gia cầm, lợn cho nông dân…Ông cũng là một trong những lãnh đạo cao cấp đầu tiên ủng hộ, bật đèn xanh cho sự đổi mới này.

Bạn bè và cấp dưới ai cũng thừa nhận Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên là một con người của hành động, con người của thực tiễn, ông ít lí luận, không ưa hình thức và đã nói là làm không thích dài dòng và ông ít nói. Sống theo diễn biến khách quan, hành động phù hợp theo điều kiện chủ quan và hết sức cẩn thận. Nếu bạn muốn tìm một ai đó để trình bày những ý tưởng, ý kiến của mình thì một trong những người thích hợp là Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên. Khi bạn trình bày ông ngồi im lặng lắng nghe không ngắt giữa chừng, không xen ngang. Nếu bạn đúng thì ông sẽ chỉ bảo là ‘’cứ làm đi’’ nếu sai thì sẽ nói cho bạn biết vì sao ông không đồng tình…

Là người có dán người cao to, cái bụng ‘’phệ’’, nhìn khuôn mặt ông nhiều người nghĩ ông lạnh lùng nhưng ông lại là một người rất quan tâm đến người khác. Quan tâm bằng hành động cụ thể chứ không phải lời nói. Quan tâm đến người dân miền núi trên đường Trường Sơn thời chiến thậm chí quả bồ kết cho nữ thanh niên xung phong thời chiến đến việc dựng vợ, gả chồng, cất nhà hay làm kinh tế của cấp dưới trong thời bình, có việc gì họ cũng mời, cũng hỏi ý kiến ông, cũng cho người đón ông. Ông luôn là tư lệnh kính mến của họ trong thời chiến cũng như thời bình.

Hãy nhớ rằng khi ông ‘’khịt, khịt mũi’’ là khi ông muốn nói điều gì đó, hay là lúc ông đưa ra ý kiến của mình.

huy thanh
28-06-2009, 09:46 PM
http://img114.imageshack.us/img114/2392/trungtuongdongvancongcy5.jpg

Trung tướng Đồng Văn Cống (Bẩy Cống) (tháng 2 năm 1918 - 13h10' ngày 6 tháng 8 năm 2005), nguyên Đại biểu Quốc hội khóa VI, nguyên Phó Tổng thanh tra Quân đội, nguyên quyền Tư lệnh Quân khu 7, nguyên Tư lệnh Quân khu 8, nguyên Tư lệnh Quân khu 9, nguyên Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền nam Việt Nam, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu Hữu ngạn.

Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Độc lập hạng nhất; Huân chương Kháng chiến hạng nhất; Huân chương Chiến thắng hạng nhất; Huân chương Quân công hạng 1, 2, 3; hai Huân chương Chiến công hạng nhất; Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhất; Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Trung tướng Đồng Văn Cống sinh tháng 2 năm 1918 tại xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre trong một gia đình nông dân. Ông cố ông quê ở Vinh Phúc, vì điều kiện mưu sinh mà năm Tự Đức thứ 2 đã di cư vào Nam làm thuê kiếm sống. Ông nội và cha ông đa phải đi ở đợ làm tá điền cho địa chủ. Nhờ ông ngoại là một trung nông, nên khi cha mẹ ông lấy nhau, ông ngoại ông đã mua cho ruộng đất, làm lụng đủ ăn. Nhờ là con trai út nên ông được gia đình cho ăn học, chẳng bao lâu bố mẹ ông qua đời lên ông phải nghỉ học ở nhà cày cấy, rồi được giác ngộ tham gia cách mạng năm 1936. Năm 1945, làm Bí thư chi bộ kiêm Tổng ủy viên Việt Minh, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại địa phương.


Tháng 2-1946, giặc Pháp đánh chiếm Bến Tre, ông phụ trách trưởng ban quân sự xã, đã tổ chức tiểu đội du kích đánh địch nhiều trận, chỉ sau 3 tháng đã phát triển lực lượng thành một trung đội với hơn 20 cây súng các loại. Cái tên "bộ đội Tân Hào" ra đời từ đấy. Trong những trận phục kích đánh địch của “bộ đội Tân Hào", chiến thắng nổi tiếng lúc bấy giờ là trận Bàu Dơi, đã được thơ ca dân gian truyền tụng đến tận ngày nay.

Sau hơn một năm chiến đấu trên chiến trường quê hương, với phương châm tự lực cánh sinh, lấy súng giặc trang bị cho lực lượng của ta, Đồng Văn Cống đã đưa đơn vị từ trung đội phát triển thành đại đội, tiểu đoàn, rồi tiến lên trung đoàn. Đơn vị của ông phát triển sớm nhất và mạnh nhất ở tỉnh Bến Tre cũng như toàn khu 9. Sau đó cấp trên giao cho ông đi thuyết phục mọi người tổ chức biên chế các lực lượng quân sự ở Bến Tre thành bảy trung đội, rồi tách bốn trung đội thành lập Chi đội 19 do ông làm Chi đội trưởng, hoạt động ở Bến Tre Gò Công, ba trung đội còn lại thành lập Chi đội 20 hoạt động ở Trà Vinh và Vinh Long. Trung đoàn đầu tiên của Bến Tre do ông làm Trung đoàn trưởng được thành lập vào tháng 7-1947 mang tên trung đoàn 99. Chính đơn vị này về sau đã đóng vai trò nòng cốt của trung đoàn chủ lực khu 8, mang tên trung đoàn Đồng Tháp.

Đầu năm 1951, khi quân của Léon Leroy lấn chiếm và bình định Bến Tre, gây cho ta nhiều tổn thất nghiêm trọng, ông được Bộ tư lệnh khu 8 điều về làm Tỉnh đội trưởng Bến Tre và đã góp phần quan trọng trong việc củng cố, xây dựng lại LLVT của tỉnh lúc bấy giờ.

Tháng 10-1953, được cử đi dự lớp chỉnh huấn do Trung ương mở tại Liên khu 5. Sau khi hiệp định Genève, được cử vào ban Liên hiệp đình chiến Trung ương, trực tiếp lo việc tập kết của bộ đội Nam Bộ.

Trong kháng chiến chống Pháp ông chỉ huy chiến dịch Bến Tre từ 3 đến 31 tháng 7 năm 1950 rồi chiến dịch Sa Đéc Long Châu Tiền vào tháng 3 năm 1951 mà ông là chỉ huy trưởng cánh Long Châu Tiền.

Trứoc khi tập kết ra Bắc, ông là Tham mưu trưởng kiêm Ủy viên thường vụ trực của Quân khu miền Đông. Đầu năm 1955, được đề bạt Sư đoàn trưởng Sư đoàn 330, với quân hàm Đại tá (1958).

Tháng 6-1960, được cử đi học ở Học viện Quân sự Nam Kinh (Trung Quốc), đến đầu năm 1962 thì về nước và đã trải qua những chức vụ sau đây: Tư lệnh phó quân khu 3, Ủy viên Thường vụ Liên khu ủy III, Cục phó Cục tác chiến Bộ Quốc phòng, kiêm Trưởng phòng chuyên trách công tác chi viện cho chiến trường miền Nam: lo tổ chức, củng cố đường 559A, 559B (tức con đường chiến lược Hồ Chí Minh trên Trường Sơn và trên biển). Đường Hồ Chí Minh trên biển được tổ chức hết sức bí mật, ở Bộ Chính trị chỉ có các ông Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ biết, còn ở Bộ Quốc phòng thì có các ông Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dung, Nguyên Văn Vịnh, Trần Văn Trà biết.

Đầu năm 1963, trở về Nam, làm Trưởng ban quân sự khu 9, về sau là Bộ tư lênh quân khu 9 (1964). Năm 1969, Chính phủ CMLTCHMNVN thành lập, ông được cử làm Tư lệnh phó Bộ Tư lệnh miền Nam (1965-1972). Sau hiệp định Paris (1973), làm Tư lệnh khu 8 (Tháng 10-1972 đến 1975). Cuối năm 1974, làm Tư lệnh phó Bộ tư lệnh miền Nam, phụ trách hậu cần, chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Trong kháng chiến chống My ông là chỉ huy hay phó chỉ huy các chiến dịch: xẻo rô phá ấp chiến lược 1963, Chiến dịch Đông Bắc Cam-pu-chia 1971 giải phóng bốn tỉnh biên giới nước bạn, Chen La Hay cuối 1971 tiêu diẹt và làm tan rã lực lượng nòng cốt của quân đội Lon Nol, chiến dịch tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long giữa 1972 mở thông biên giới Tây Nam, chiến dịch Nguyên Huệ 1972-1973 giải phóng Lộc Ninh và biên giới khu 8, chiến dịch Phước Long đợt 2 năm 1974...

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Từ tháng 5-1976 đến tháng 9-1982 là phó tư lệnh Quân khu 7, rồi quyền tư lệnh Quân khu 7 thay cho tướng Trần Văn Trà ra Bắc nhận nhiệm vụ mới. Chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, ông là Tư lệnh tiền phương Quân khu cùng với 2 phó Tư lệnh là Năm Ngà và Năm Thanh đưa một cánh quân sang giúp bạn thoát khỏi nạn diệt chủng.

Về nước ông tiếp tục làm Tư lệnh Quân khu cho đến tháng 10 năm 1981, được điều ra Hà Nội làm Phó tổng thanh tra Quân đội nhân dân Việt Nam với cấp bậc Trung tướng. Tháng 10-1982 được bổ nhiệm là phó tổng thanh tra Quân đội nhân dân VN. Trung tướng Đồng Văn Cống là đại biểu Quốc hội khóa VI.

Hơn 40 năm phục vụ trong LLVT, từ một du kích xã trở thành một sĩ quan cao cấp, Trung tướng Đồng Văn Cống luôn luôn biểu lộ phẩm chất cao đẹp của người lính cách mạng. Ông không chỉ là người có công xây dựng LLVT đầu tiên của tỉnh Bến Tre, mà còn có nhiều đóng góp trong công cuộc tổ chức chi viện cho chiến trường miền Nam cũng như xây dựng Lực lượng vũ trang trong Kháng chiến chống Pháp và Kháng chiến chống Mỹ.

Trung tướng Đồng Văn Cống sinh ra tại Giống Trôm, Bến Tre, đây cũng là quê hương của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Giồng Trôm nói riêng và Bến Tre nói chung vốn là vùng đất "đắc địa", quê hương của rất nhiều danh nhân lịch sử cũng như anh hùng và các nhân vật cách mạng nổi tiếng - một vùng quê có truyền thống yêu nước.

Người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong những năm tháng kháng chiến thường gọi ông là "ông tướng bưng biền" và "ở đâu có ông Cống là ở đó có đánh lớn". Bộ đội Tân Hào hay Bộ đội ông Cống nổi tiếng trong những năm kháng chiến chống Pháp. Tài năng quân sự ở ông là sự kết hợp của nghệ thuật chỉ huy - khả năng tổ chức - sự gan dạ vốn có của một vị tướng trưởng thành từ một "du kích xã". Ông còn là một người hài hước, dí dỏm.

Bài viết: Trang thông tin điện tử Bến Tre

Nguồn ảnh: Báo thanh niên online

huy thanh
28-06-2009, 09:56 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Dam%20Quang%20Trung.jpg

Thượng tướng Đàm Quang Trung (1921-1995), nguyên Tư lệnh Quân khu Đông Bắc, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn, nguyên Tư lệnh Quân khu Việt Bắc, nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 4, nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 1.


Ông từng giữ các chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 4 đến khóa 6, Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 6, Đại biểu Quốc hội từ khóa 4 đến khóa 8.


Huân chương Sao Vàng (truy tặng 2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Nhì), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.


Thượng tướng Đàm Qung Trung, tên thật là Đàm Ngọc Lưu, sinh ngày 12/9/1921 tại bản Nà Nghiềng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 14 tuổi.


Năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt và quản thúc tại địa phương.


Năm 1941, ông được lãnh tụ Hồ Chí Minh cử đi học ở trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) cùng các ông Hoàng Văn Thái (Đại tướng), Vũ Lập (Thượng tướng), Hoàng Minh Thảo (Thượng tướng), Nam Long (Trung tướng)... Ở trường Hoàng Phố, ông được học in litô. Nhân có ông Phạm Văn Đồng sang, ông mạnh dạn xin báo cáo với lãnh tụ Hồ Chí Minh được học quân sự.


Tháng 7/1944, ông chỉ huy Đội vệ binh bảo vệ Trung ương và lãnh tụ Hồ Chí Minh ở Tân Trào. Có 5 nhân viên tình báo Mỹ nhảy dù xuống Việt Bắc nhằm phối hợp với Việt Minh giải giáp vũ khí của Phát-xít Nhật, ông được chỉ định làm Đại Đội trưởng Đại đội Việt - Mỹ.


Tháng 9 năm 1944, ông tham gia xây dựng cơ sở cách mạng và huấn luyện du kích ở vùng biên giới phía Bắc.


Ngay sau khi Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944, ông xin gia nhập.


Trong cách mạng tháng 8 năm 1945, ông là đại đội trưởng Giải phóng quân tham gia giành chính quyền ở Thái Nguyên.


Ngày 2/9/1945, ông được giao chỉ huy cuộc duyệt binh chào mừng ngày Quốc khánh và chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập. Ngày 29/3/1946, ông chỉ huy cuộc diễu binh thiện chí giữa quân đội quốc gia Việt Nam với quân đội Pháp tại vườn hoa Canh Nông, nay là công viên đặt tượng đài Lê-nin.


Ngày 22/9/1946, núp bóng quân Anh quân Pháp trở lại nổ súng xâm lược Nam Bộ. Ông lên đường Nam tiến chi viện cho chiến trường miền Nam và chi đội 4 hay còn gọi là chi đội Đàm Quang Trung.


Sau hiệp định sơ bộ về đình chiến, ông ra Bắc và được cử giữ chức Khu trưởng Đặc khu Hà Nội.


Tháng 12 năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ông lại Nam tiến và là Chỉ huy trưởng mặt trận Quảng Nam Đà Nẵng rồi là Phó Tư lệnh Liên khu 5 kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn chủ lực của liên khu.


Khi Đại đoàn 312-Đại đoàn chiến thắng được thành lập, ông ra Bắc đảm nhận vị trí Đại đoàn phó. Từ năm 1953 đến năm 1954, ông cùng Đại đoàn của mình tham gia đánh nhiều trận giải phóng Thượng Lào rồi là một trong năm đại đoàn chủ lực tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.


Ngày 1/1/1955, ông vinh dự được chỉ huy cuộc diễu binh chào mừng chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương về lại Thủ đô sau 9 năm kháng chiến.


Bước vào thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Năm 1955, ông là Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312 rồi Tư lệnh Quân khu Đông Bắc kiêm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 322. Sau đó, ông sang Liên Xô theo học tại Học viện Quân sự mang tên Frunde và là học viên xuất sắc ở đây. Tháng 10/1957, ông có vinh dự tham gia chủ tịch đoàn cuộc mít-tinh trọng thể chào mừng chủ tịch Hồ Chí Minh sang dự lễ kỉ niệm 40 năm cách mạng tháng 10 Nga.


Trở về nước từ năm 1958 đến năm 1961, ông là Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn rồi từ năm 1961 đến năm 1966 ông là Tư lệnh Quân khu Việt Bắc.


Từ tháng 8 năm 1966 đến năm 1967, ông là Tư lệnh Bộ Tư lệnh tiền phương Bộ Quốc phòng tại mặt trận B4 (Quảng Trị).


Từ năm 1967 đến năm 1973, ông là Chính ủy kiêm Bí thư Quân khu ủy Quân khu 4. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968, ông chỉ huy bộ đội đánh thành cổ Quảng Trị.


Trong thời gian này, ông còn giữ các chức vụ Tư lệnh pháo binh mặt trận có mặt tại chiến trường đường 9 rồi sau đó là Tư lệnh Tăng Thiết giáp.


Từ năm 1973 đến năm 1975, ông là Tư lệnh Quân khu 4 thay cho tướng Vương Thừa Vũ.


Đất nước thống nhất, từ năm 1976 đến năm 1980, ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 1 rồi từ năm 1980 đến 1986 là Tư lệnh Quân khu 1.


Từ năm 1987 đến năm 1992, ông là Phó Chủ tịch Hội đồng nhà nước kiêm Chủ tịch hội đồng dân tộc.


Ông là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 4 đến 6. Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 5.


Ông cũng là Đại biểu Quốc hội khóa 4 đến khóa 8.


Thượng tướng Đàm Quang Trung là vị tướng chiến thuật bậc thầy của Việt Nam trong các chiến dịch có sự phối hợp hiệp đồng giữa pháo binh và xe tăng.


Bài viết : Dựa theo Từ điển Quân sự

huy thanh
28-06-2009, 09:58 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Dinh-Duc-Thien.jpg

Thượng tướng Đinh Đức Thiện (1913-17h5’ ngày 20/11/1987), nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần, Chủ nhiệm Tổng Cục kỹ thuật Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.


Ông được phong Quân hàm Trung tướng (1974), Thượng tướng (1986).


Ông cũng từng giữ các chức vụ Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng, Bộ trưởng Bộ cơ khí luyện kim, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, Phó Chủ nhiệm ủy ban kế hoạch nhà nước.


Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng I, Huân chương Chiến thắng hạng I, Huân chương Chiến sĩ Giải phóng, Huân chương Quân kỳ Quyết thắng.


Thượng tướng Đinh Đức Thiện, tên thật là Phan Đình Dinh, quê tại xã Nam Vân, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định trong một gia đình nhà Nho, cha ông mất sớm mẹ ông tần tảo nuôi tám anh em ông. Ông có người anh trai là Ngoại giao Lê Đức Thọ và người em trai là Đại tướng Công an Mai Chí Thọ.

Năm 1930 ông tham gia hoạt động cách mạng bị thực dân Pháp bắt giam ở Nam Ðịnh. Năm 1931, sau khi được trả tự do, ông vào Sài Gòn hoạt động.

Năm 1936, thời kì của phong trào Mặt trận Dân chủ, ông hoạt động tích cực trong Hội ái hữu. Năm 1939, ông được kết nạp vào Ðảng cộng sản Ðông Dương.

Tháng 4/1940 ông bị thực dân Pháp bắt lần thứ 2 giam ở nhà lao Nam Ðịnh sau chuyển về nhà lao Hoả Lò Hà Nội. Năm 1942 ông ra tù, tìm bắt liên lạc với Trung ương và tiếp tục hoạt động ở địa phương.

Tháng 4/1944, Trung ương điều động ông lên hoạt động ở Vĩnh Yên nhằm xây dựng cơ sở chính trị và an toàn khu cho Trung ương. Tháng 1/1945, Trung ương quyết định chuyển đoàn công tác do ông đứng đầu thành Tỉnh ủy lâm thời Vĩnh Yên, ông tham gia Ban cán sự Tỉnh uỷ rồi làm Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Yên.

Cuối tháng 3-1945, Tỉnh uỷ lâm thời Vĩnh Yên họp hội nghị đầu tiên bàn kế hoạch thi hành Chỉ thị ngày 12-3-1945 của Ban Thường vụ Trung ương: “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.

Tháng 4 đến tháng 7-1945 nhiều cuộc biểu tình của nhân dân diễn ra ở nhiểu nơi ủng hộ Việt Minh, chuẩn bị khởi nghĩa, đồng thời nhiều cuộc biểu tình phá kho thóc của địch nổ ra tạo nên khí thế cách mạng rất mạnh mẽ.

Từ tháng 6/1945 đến 8/1945, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Yên mà đứng đầu là ông, các Uỷ ban dân tộc giải phóng ở các làng xã được thành lập; chuẩn bị lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành lại chính quyền.

Sau cách mạng tháng 8/1945, ông làm bí thư kiêm chủ tịch Uỷ ban hành chính Bắc Giang rồi năm 1947 được Trung ương chỉ định uỷ viên khu 12. Từ năm 1948-1949, ông là Uỷ viên thường vụ Khu uỷ Khu I khu Việt Bắc.

1950 được điều vào quân đội giữ chức Cục trưởng Cục vận tải, vừa là bí thư Ðảng uỷ cục, đồng thời là Ðảng uỷ viên Ðảng uỷ Cục cung cấp.

1954 Phó chủ nhiệm Tổng cục hậu cần, Uỷ viên thường vụ Tổng cục đảm bảo hậu cần tiếp tế kịp thời các chiến dịch, đặc biệt Ðông Xuân 1953-1954 góp phần đảm bảo vận chuyển đáp ứng lương thực chiến dịch Ðiện Biên Phủ.

Thời kì 1957-1964, thời kì của kế hoạch năm năm lần thứ nhất khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng Xã hội Chủ nghĩa ở miền Bắc, ông được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ công nghiệp nặng, thường vụ đảng đoàn Bộ công nghiệp và tiếp đó vào năm 1959 kiêm làm Giám đốc, Bí thư Ðảng uỷ Khu gang thép Thái Nguyên-đây là công trình công nghiệp nặng đầu tiên ở nước ta.

Năm 1965, Mỹ đõ quân ồ ạt vào miền Nam Việt Nam nhằm thực hiện chiến lược Chiến tranh cục bộ đồng thời đánh phá ác liệt miền Bắc, ông được điều trở lại quân đội giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Uỷ viên quân uỷ Trung ương. Ông thay mặt Trung ương trực tiếp chỉ đạo quá trình xây dựng Đường Trường Sơn cũng như đoàn 559 và quá trình chi viện cho tiền tuyến miền Nam.

Năm 1969, ông kiêm chức Bộ trưởng, Ðảng đoàn Bộ Cơ khí luyện kim.

Năm 1972, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải. Sau năm 1973, khi quân Mỹ buộc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam theo hiệp định Paris, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định chuẩn bị mọi mặt về lực nhằm giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam. Đường chiến lược phía Đông Trường Sơn bắt đầu được xây dựng, một khối lượng lớn phương tiện kĩ thuật, bộ đội, công nhân, kĩ sư và thanh niên xung phong được huy động. Trên cương vị là Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải ông đã chỉ đạo cán bộ công nhân viên của Bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phối hợp cùng với Binh đoàn Trường Sơn.

Năm 1974, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang bước vào giai đoạn cuối, Chủ nhiệm và Bí thư Ðảng đoàn Tổng cục hậu cần.

Tháng 9/1974 ông là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm Chủ nhiệm và bí thư Ðảng uỷ Tổng cục Kỹ thuật.

Xuân 1975 là thành viên bộ phận đại diện quân uỷ Trung ương và bổ Tổng tư lệnh chỉ đạo Chiến dịch giải phóng Tây nguyên và sau đó tham gia bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh trên cương vị Phó Tư lệnh phụ trách Hậu cần và Kỹ thuật.

Miền Nam giải phóng ông được bổ nhiệm làm phó chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước.

Năm 1976, ông là Bộ trưởng phụ trách Tổng cục dầu khí, bí thư Ðảng đoàn Tổng cục. Khi đó, dầu khí là một lĩnh vực rất mới mẻ đối với Việt Nam.

Năm 1980, ông là Bộ trưởng kiêm Bí thư ban cán sự Bộ Giao thông Vận tải.

Cho đến năm 1982, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Ông được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Trung ương Ðảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội III và được bầu vào uỷ viên chính thức tại đại hội IV.

Trong bất kì một cuộc chiến tranh nào, bài toán hậu cần là một trong những bài toán được đặt ra đầu tiên, nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoạch định chiến lược nó là một phần của lực trong tổng quan thế và lực. Và người được giao trọng trách hậu cần phải là người có tài tổ chức, hoạch định chẳng những trước mắt mà còn lâu dài. Quân đội Nhân dân Việt Nam đã may mắn khi trong kháng chiến chống Pháp có Chủ nhiệm Tổng cục cung cấp-Đại tá Trần Đăng Ninh và trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước có Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần-Thượng tướng Đinh Đức Thiện.

Thượng tướng Đinh Đức Thiện còn được mệnh danh là ‘’vị tướng công trường’’, có lẽ nó bắt đầu từ thời kì ông được Trung ương cử đi trực tiếp chỉ đạo công trường xây dựng khu gang thép Thái Nguyên. Rồi việc ông thay mặt Trung ương trực tiếp chỉ đạo xây dựng đường mòn Hồ Chí Minh, rồi xây dựng cơ sở vật chất cho ngành dầu khí Việt Nam ngay từ thuở ban đầu…

Ông có một tác phong làm việc hết sức sâu sát, xông xáo trong chỉ đạo giải quyết công việc trên cơ sở thực tế và không ưa hình thức. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông luôn luôn ở tuyến đầu (đường Trường Sơn) trực tiếp chỉ đạo xây dựng và chi viện cho chiến trường. Trước những chiến dịch lớn ông thường có những chuyến đi vượt tuyến nhằm kiểm tra cơ sở hậu cần, các binh trạm trên tuyến đường Trường Sơn ví dụ như Chiến dịch Đường 9 Nam Lào. Có một số câu chuyện về ông rất thú vị, ví dụ như chuyện thời kì ông được cử lên chỉ đạo công trường xây dựng khu gang thép Thái Nguyên. Khi nghe tiếng mìn nổ của kĩ sư ở phía xa, ông cho gọi người kĩ sư lên bảo rằng kĩ thuật đánh mình chưa tốt vì nếu nhồi thuốc nổ tốt thì khi phá đá chỉ có một tiếng ‘’ục’’, như vậy vừa không đạt chỉ tiêu kĩ thuật vừa lãng phí. Sở dĩ ông biết vậy là bản thân ông cũng từng tự tay nhồi thuốc phá đá.

Tướng Đinh Đức Thiện là một người nóng tính, nhưng ông không bao giờ nổi nóng vô cớ. Chính vì vậy khi ông ‘’nổi giận’’ cách tốt nhất là im lặng. Nóng tính nhưng tính ông rất phục thiện. Thời kì 65, khi đó xe ô tô đi trên đường Trường Sơn còn chưa có pháo bảo vệ. Có một tiểu đoàn xe chi viện cho chiến trường miền Nam đi trên đường Trường Sơn bị bom Mỹ phá hỏng hết xe. Ông cho gọi người tiểu đoàn trưởng lên hết sức giận dữ. Người tiểu đoàn trưởng bình tĩnh trả lời đại loại ‘’xe đi không có pháo bảo vệ, lần sau có thể là đến người chứ chẳng nói gì đến xe’’. Ai cũng lo lắng cho người tiểu đoàn trưởng đó. Nhưng tướng Thiện hiểu ra làm lành và bàn với bên pháo binh về kế hoạch bảo vệ xe.

Mùa Xuân 1975, lúc đầu Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương chủ trương giải phóng hoàn toàn miền Nam trong 2 năm, nếu có thể thì giải phóng ngay trong năm 1975. Để chuẩn bị cho chiến lược này, đòi hỏi hậu cần phải chuẩn bị chiến lược về hậu cần và kĩ thuật hết sức to lớn, toàn diện và lâu dài. Trước những biến đổi mau lẹ của chiến trường, ta chủ trương giải phóng miền Nam trước mùa mưa 1975, đòi hỏi một năng động lớn về chỉ đạo và chỉ huy để đáp ứng tốt nhất những yêu cầu rất cao về đảm bảo vật chất và kĩ thuật. Mặt khác cuộc tổng tiến công chiến lược lại diễn ra trên địa bàn miền Nam dài và rộng, chiều dài hàng ngàn cây số lại phải đảm bảo các cánh quân, các quân đoàn cơ giới vận động đến đâu thì cơ sở vật chất và hậu cần phải vươn theo đến đó đặc biệt lượng vũ khí cho trận đánh cuối cùng là có khổi lượng lớn, đa dạng…Vì vậy công tác hậu cần kĩ thuật cũng phải có phương thức bảo đảm thần tốc và kịp thời. Tướng Thiện khi đó là Phó tư lệnh chiến dịch chỉ đạo hậu cần đã hoàn thành tốt nhiệm vụ mà theo đúng như câu trả lời của ông trước Trung ương về tình hình chuẩn bị hậu cần kĩ thuật ‘’có thể bắn đến mấy đời’ và lời của ông với cán bộ chiến sĩ ‘’các cậu cứ bắn thật mạnh vào ! Bắn cho chúng nó sợ. Sợ đến ba đời’’. Với tác phong chỉ đạo của mình, ông trực tiếp đến những kho hậu cần vừa chiếm được chỉ đạo lấy trang thiết bị của đối phương trang bị cho bộ đội tiếp tục hành tiến.

Bài viết : Theo Báo nhân dân số 11886 ngày 22/1/1987

huy thanh
28-06-2009, 10:00 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/Anh%20tin%20tuc/Dang-Kinh.jpg

Trung tướng Đặng Kinh (1922), Nguyên Bí thư Khu ủy Quân khu Tả Ngạn, Tư lệnh Quân khu 3, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1978-1988).


Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Nhì)…


Ông được phong quân hàm Trung tướng năm 1982.

Trung tướng Đặng Kinh (tên thật là Đặng Văn Rợp-theo Từ điển Bách khoa Quân sự, một số tài liệu lại ghi là Lê Trung Trực) sinh năm 1922 tại xã Bắc Sơn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Do nhà quá nghèo, năm 11 tuổi ông đã phải đi đội than kiếm sống, ông tự học chữ Nho.

Năm 1937, khi 15 tuổi, ông bỏ nghề đội than ở mỏ Hà Lầm thuộc khu mỏ Hồng Quảng và trở thành người liên lạc của nhà cách mạng Tô Hiệu, nguyên Bí thư Thành ủy đầu tiên của thành phố Hải Phòng. Chính nhà cách mạng Tô Hiệu là người đã dìu dắt ông đến với con đường cách mạng giành độc lập tự do cho dân tộc. Vốn liếng tiếng Pháp của tướng Đặng Kinh cũng là do học từ nhà cách mạng Tô Hiệu.

Năm 1941, ông tham gia Mặt trận Việt Minh và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản tháng 7 năm 1944. Ngay sau đó, ông nhận lệnh lên Thái Nguyên học quân sự 15 ngày cùng với ông Văn Tiến Dũng (sau này là Đại tướng-xem bài viết về Đại tướng Văn Tiến Dũng). Kể từ đó người công nhân trẻ Đặng Kinh trở thành người chỉ huy quân sự và con đường binh nghiệp gắn bó với ông kể từ đó.

Tháng 11 năm 1944, ở Tân Phong, Kiến Thụy (Hải Phòng) diễn ra một cuộc họp của Xứ ủy Bắc Kỳ dưới sự chỉ đạo của nhà cách mạng Mai Côn-cán bộ xứ ủy. Mặt trận liên tỉnh Hải Phòng-Kiến An được thành lập gồm bảy người trong đó có ông. Đồng thời, cuộc họp đưa ra quyết định đẩy phong trào cách mạng đang phát triển tại Hải Phòng-Kiến An lên thành một cao trào. Ngay sau đó, 5 tháng riêng âm lịch-đúng ngày vua Quang Trung đại phá quân Thanh, mặt trận (trong đó có ông) tổ chức nói chuyện trong hang Núi Voi mà đối tượng là đông đảo người dân đặc biệt là tầng lớp thanh niên.

Ngày 12/7/1945, sau một cuộc mít-tinh tại Kim Sơn, Kiến Thụy mặt trận liên tỉnh tuyên bố thành lập ở đây chính quyền nhân dân đầu tiên của vùng duyên hải. Trước tình hình đó, ngày 4/8/1945, từ Hải Phòng, quân Nhật đưa hai xe Cam-nhông lính có súng cối đánh vào Kim Sơn. Đây cũng là trận chiến đấu đầu tiên ông tham gia và chỉ huy. Phía Việt Nam chỉ có hai khẩu súng trận, hai khẩu súng săn, nhưng súng trận không có đạn, súng săn bắn đạn ria chỉ làm quân Nhật bị thương, dùng mã tấu, võ thuật, nấp sau cổng làng, lũy tre đánh giáp lá cà với quân Nhật đến trưa quân Nhật phải lui. Đó là trận đánh mở đầu cho mô hình làng chiến đấu mà sau này được áp dụng rất thành công trong cuộc kháng chiến 9 năm.

Sau trận đánh, ông Mai Côn đi họp ở Tân Trào, ông cùng các đồng chí của mình ở lại lập một đại đội do ông là chỉ huy, dự định ngày 15/8 giành chính quyền. Đêm ngày 14/8, hai tiểu đội của đại đội bò vào tri phủ Kiến Thụy giành chính quyền thu 12 súng. Ngày hôm sau, 2 tiểu đội trên tiếp tục mang súng lấy được, hành quân sang huyện phủ Tiên Lãng giải tán huyện phủ Tiên Lãng.

Ngày 20/8, Hà Nội giành chính quyền, ông và các đồng chí của mình họp quyết định thành lập ủy ban khởi nghĩa. 18 giờ chiều hôm đấy, đội tiến vào dinh tỉnh trưởng Kiến An rồi ngày 23 tiến quân sang Hải Phòng. Chính quyền Kiến An, Hải Phòng đều thuộc về tay nhân dân.

Giữa năm 1946, đại đội tự vệ của tỉnh Kiến An bổ sung cho Vệ quốc đoàn. Tỉnh lại tuyển trong lực lượng tự vệ các huyện để thành lập một tiểu đoàn tự vệ tập trung của tỉnh do ông chỉ huy. Sau đó một thời gian ngắn ông được điều về làm chỉ huy trưởng huyện đội Kiến Thụy kiêm chỉ huy trưởng du kích chiến đấu tỉnh Kiến An.

Ngày 20/11/1946, quân Pháp gây hấn ở Hải Phòng, trở về từ Hải Phòng ông báo cáo với Tỉnh ủy Kiến An để tổ chức luyện quân chuẩn bị chống Pháp. Đồng thời ông xin lãnh đạo tỉnh ủy cho chỉ huy một đại đội sang An Dương, Đường 5, đường sắt để đánh quân Pháp.

Ngày 28-11, quân Pháp đưa một đại đội tấn công thăm dò trận địa của đại đội ông đang chốt ở Cam Lộ, Thiết Chanh. Ông đã chỉ huy đại đội đón đánh làm thương vong một nửa và nửa còn lại bỏ chạy. Đại đội ông thu một trung liên, một tiểu liên và 12 khẩu súng trường. Những ngày sau đó cho đến 10-12, đại đội của ông liên tiếp tham chiến và trận cuối cùng trước ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, đại đội ông đánh với một tiểu đoàn quân Pháp, diệt 126, hi sinh 3, bị thương 5 người.

Từ năm 1949 đến năm 1954, ông là Chỉ huy phó rồi Chỉ huy trưởng, Ủy viên thường vụ tỉnh ủy Kiến An. Tháng 5 năm 1954, ông là Chỉ huy trưởng Thành đội Hải Phòng. Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, ông đã làm cho quân Pháp khiếp sợ suốt một vùng tả ngạn sông Hồng với những chiến công lừng lấy trên đường 5 tạo lên ‘’Sấm đường 5’’. Đặc biệt ông là người chỉ huy trận đánh sân bay Cát Bi. Đây là trận tập kích của 32 bộ đội địa phương Kiến An vào sân bay Cát Bi (Hải Phòng). Bằng kĩ thuật tiềm nhập, các chiến sĩ đã vượt qua 2 tuyến phòng thủ của 5 tiểu đoàn (có 4 tiểu đoàn Âu, Phi) Pháp, dùng bộc phá, phá huỷ 59 máy bay, 1 kho bom. Cùng với trận Gia Lâm, trận Cát Bi gây tổn thất nghiêm trọng cho không quân Pháp, ảnh hưởng lớn đến việc chi viện đường không cho các chiến trường, đặc biệt cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Từ tháng 1 năm 1955, ông lần lượt giữ các chức vụ Tham mưu phó rồi Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn kiêm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 328.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từ năm 1960 đến năm 1965, ông là Cục phó Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu rồi Cục trưởng Cục liên lạc đối ngoại Bộ quốc phòng.

Tháng 4 năm 1966, ông là Phó Tư lệnh Quân khu Trị Thiên Huế. Tháng 4 năm 1968, ông là Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn.

Đất nước thống nhất, tháng 3 năm 1977 ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục xây dựng kinh tế Bộ Quốc phòng. Từ năm 1978 đến năm 1988, ông là Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam cho đến khi về hưu.

Trung tướng Đặng Kinh là một vị tướng có kinh nghiệm tổ chức và chỉ huy chiến tranh du kích trong vùng địch hậu. Cho nên, có thể nói rằng khi nói đến sự áp dụng của chiến tranh du kích trong kháng chiến chống Pháp thì phải nhắc đến tên tuổi của ông. Nhà nghèo, cho nên lúc còn nhỏ ông ít được học, phải đến khi làm đến chức vụ cao ông mới có điều kiện học để nâng cao trình độ. Lúc đầu ông chọn cấp dưới có trình độ để học, 52 tuổi ông mới học xong chương trình đại học, nhưng ông đã có đến 46 lần giảng dạy cho các chuyên gia quân sự nước ngoài về chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân…

huy thanh
28-06-2009, 10:06 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/Hoang%20Van%20Thai.jpg

Đại tướng Hoàng Văn Thái (1915-2/7/1986), nguyên Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam (nay là Quân đội Nhân dân Việt Nam) (1945-1953), nguyên Chủ nhiệm Tổng cụ Quân huấn (1958-1965), nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 5 (1966-1967), nguyên Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (1967-1973), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (1974-1986), nguyên Ủy viên thường vụ Quân ủy Trung ương.


Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục Thể thao nhà nước (1960-1965), Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ khóa III đến khóa V, Đại biểu Quốc hội khóa VII.


Huân chương Sao Vàng (truy tặng năm 2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất Nhì, Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương chiến thắng hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba, Huy chương quân kỳ quyết thắng.


Ông được phong quân hàm Thiếu tướng ngay trong đợt phong tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (1/1948), Trung tướng ngày 31/ 8/1959; Thượng tướng tháng 4/ 1974; Đại tướng tháng 1/1980.
Đại tướng Hoàng Văn Thái (tên thật là Hoàng Văn Xiêm) quê tại xã Tây An, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình trong một gia đình nông dân nghèo. Quê ông vốn là một vùng quê giàu truyền thống yêu nước. Thân phụ ông là cụ Hoàng Thiện Thuật, dạy chữ Nho đến cấp hàng tổng, từng tham gia Hội văn thân yêu nước ở địa phương những năm đầu thập kỷ 30, thế kỷ trước.

Trong từng giai đoạn lịch sử, huyện Tiền Hải luôn luôn xuất hiện những nhân vật nổi tiếng đã đi vào lịch sử dân tộc. Đó là tướng Vũ Đức Cát, triều đại Tây Sơn, sau là một trong những tướng giỏi của cuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành. Đó là nhà cải cách Bùi Viện, đề xướng duy tân đất nước dưới triều Nguyễn. Trong phong trào cần vương cuối thế kỷ XIX, Nguyễn Quang Bích nổi lên là một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước căm thù giặc. Đặc biệt là cuộc biểu tình của những người nông dân Tiền Hải ngày 14/10/1930 đã ghi đậm dấu son trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc. Tiếp đó là các ông; Vũ Trọng, Vũ Nhu, Ngô Duy Phớn...những người truyền bá Chủ nghĩa Mác Lê-nin và thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở điạ phương.

Tất cả những tấm gương và các hoạt động ấy đã có tác động rất lớn đến tư tưởng và lòng yêu nước của ông. Hơn nữa, Hoàng Văn Xiêm là một học sinh chăm học, ham hiểu biết, nhanh nhẹn giàu nghị lực nên được thầy giáo và các bạn quý mến kết quả là ông đỗ bằng tiểu học Pháp Việt loại ưu.

Năm 13 tuổi ông đã phải bỏ học đi làm thuê rồi đi cắt tóc. Năm 18 tuổi ông là thợ mỏ Hòn Gai (Quảng Ninh) rồi sau đó lên làm thợ tại mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng) và giác ngộ cách mạng.Trở về làng cùng với số đông anh em khác tích cực tham gia tổ chức các hội ở địa phương như: hội hiếu, hội tương tế, hội đá bóng, hội âm nhạc, hội đọc báo...Ông Nguyễn Trung Khuyến, cán bộ lãnh đạo do huyện cử xuống trực tiếp chỉ dẫn hoạt động. Chỉ sau vài tháng số học viên trong làng phát triển nhanh. Hội tương tế lên tới 170 hội viên do ông Lương Thúy làm hội trưởng, Hoàng Văn Xiêm làm thư ký.

Ngoài việc tham gia hoạt động, ông còn cùng với thanh niên trong làng thành lập đoàn thành niên dân chủ, tổ chức ra các hội đá bóng, hội nhạc âm. Khắp các địa phương trong tỉnh, trong huyện, phát triển đội nhạc âm, thu hút thanh niên, học sinh tham gia. Ông thổi kèn rất giỏi, tranh thủ các tối hòa nhạc chuản bị cho những buổi tế lễ, ông cùng các bạn bí mật rải truyền đơn, vận động nhân dân đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ, hát đồng ca bài hát cách mạng.

Hào lý trong làng thaýa vậy đều luống cuống lo ngại. Do hăng say, nhiệt tình, sáng tao và dũng cảm hoạt động ở địa phương nên năm 1938, ông được kết nạp vào Đảng trở thành đảng viên trung kiên của chi bộ An Khang.

Cuối năm 1939, địch liên tiếp mở các đợt khủng bố rất dã man, nhiều đảng viên và quần chúng cách mạng bị bắt. Các tổ chức Đảng chuyển vào hoạt động bí mật. Ông gây dựng lại phong trào đấu tranh của quần chúng An Khang, giác ngộ và đưa vào tổ chức nhiều thanh niên yêu nước như: Nguyễn Hữu Tước, Nguyễn Thế Long, Tô Đình Khảm, Nguyễn Đình Khiêm, Tô Chinh...Say này đều trở thành cán bộ trung cao cấp của Nhà nước và Quân đội.

Giữa năm 1940, sau nhiều năm săn lùng, mật thám Pháp và tay sai bắt được ông Ngô Duy Phớn một trong những người lãnh đạo chủ chốt của phong trào cách mạng ở Tiền Hải và tuyên bố nếu ai khai báo chỗ ở của đảng viên cộng sản sẽ được thưởng thóc và huân chương của chính phủ Pháp. Do chỉ điểm, ông bị bắt giải về phủ Kiến Xương giam giữ. Một lính lệ quen biết bảo lãnh cho ông tại ngoại, chờ ngày xét xử. Chớp thời cơ tổ chức bí mật đưa ông thoát li khỏi địa phương, tiếp tục hoạt động ở nơi khác.

Rời quê hương ông lên nhận công tác ở căn cứ Hiệp Hòa, Bắc Giang và dự lớp huấn luyện quân sự ngắn ngày được nghe các ông Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh giảng về chính trị. Tháng 4 năm 1941, ông có mặt ở Bắc Sơn. Cuộc khởi nghĩa vừa nổ ra tại đây và đồng bào các dân tộc đang trải qua cuộc đấu tranh quyết liệt, chống khủng bố của địch.

Mùa thu 1941, ông được cử đi học trường Quân sự Liễu Châu, Trung Quốc cùng với các ông: Hoàng Minh Thảo, Đàm Quang Trung, Vũ Lập. Trường do Tưởng Giới Thạch tổ chức, hiệu trưởng là Trung tướng Dương Kế Vinh. Học viên của trường là một số thanh niên Hoa kiều ở Thái Lan và thanh niên Việt Nam. Ngoài đoàn Việt Minh, các nhóm Việt Quốc và Việt Cách cũng có người theo học.

Thời gian học tập ở trường, ông làm trưởng đoàn Việt Nam và luôn có nhận thức, lý luận cách mạng vững mạnh, phẩm chất đạo đức tốt, doàn kết được mọi người giữ vững quan điểm của mặt trận Việt Minh đồng thời kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái của hai nhóm Việt Quốc và Việt Cách.

Cuối năm 1943, khi lãnh tụ Hồ Chí Minh thoát khỏi nhà tù Tưởng Giới Thạch, ông đã trực tiếp được gặp lãnh tụ.

Cuối năm 1944, ông được tuyển chọn vào hàng ngũ 34 đội viên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo ở châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng lễ thành lập đội được tổ chức long trọng. Ông Võ Nguyên Giáp chỉ huy chung, ông Hoàng Sâm (sau này là Thiếu tướng, liệt sĩ) làm đội trưởng, Xích Thắng (tức ông Dương Mạc Thạch) làm Chính trị viên, ông Lâm Cẩm Như (tức Lâm Kính) phụ trách công tác chính trị, ông Lộc Văn Lùng (tức Văn Tiên) làm quản lý và ông phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến.Hình người cầm cờ đúng trong hàng ngũ chính là ông với nhiệm vụ tuyên truyền và binh vận.

Sau chiến thắng Phay Khắt, Nà Ngần, đội phát triển thành đại đội, ông được giao công tác trinh sát và lập kế hoạch tác chiến khi đơn vị chuẩn bị đánh đồn Đồng Mu. Khi đó theo lời gợi ý của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ông đã thức trắng đêm sáng tác bài "Phất cờ Nam tiến" - đây là bài hành khúc đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam.




Tháng 3 năm 1945, ông chỉ huy cánh quân giành chính quyền ở Chợ Đồn. Trong khi đang tổ chức huấn luyện quân sự ở đây, ông nhận được lệnh của ông Võ Nguyên Giáp bàn giao mọi việc cho những người lãnh đạo địa phương và chuyển quân xuống Chợ Chu (Định Hóa, Tuyên Quang) tổ chức chính quyền xã, huyện của vùng giải phóng đồng thời huấn luyện quân sự cho lực lượng tự vệ chiến đấu và các cán bộ đoàn thể. Tháng 4 năm 1945, hội nghị Quân sự Bắc Kỳ quyết định sát nhập Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân và các lực lượng vũt rang khác thành Việt Nam giải phóng quân (15/5/1945) và quyết định thành lập Trường quân chính kháng Nhật tại Tân Trào do ông phụ trách.


Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền ở Lục An Châu rồi sau đó đưa quân về phối hợp với quần chúng và lực lượng vũ trang địa phương giành chính quyền ở Tuyên Quang.


Cách mạng tháng 8 thành công, tháng 9 năm 1945 ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho nhiệm vụ thành lập Bộ Tổng tham mưu của Quân đội quốc gia (sau là Quân đội Nhân dân Việt Nam) còn non trẻ và giữ chức Tổng tham mưu trưởng đầu tiên.


Quân Pháp núp bóng quân Anh nhân danh quân đồng minh trở lại xâm lược Việt Nam. Ông trực tiếp chỉ đạo mặt trận Hải Phòng từ 20 đến 27 tháng 11 năm 1946. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ tại Hà Nội, ông cùng với ông Võ Nguyên Giáp là những người phê duyệt kế hoạch tác chiến của ông Vương Thừa Vũ (sau này là Trung tướng-Phó Tổng tham mưu trưởng), chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội. Bản thân ông trên cơ sở những kinh nghiệm ở Hải Phòng trong việc chỉ đạo mặt trận Hà Nội để xây dựng thế trận liên hoàn và khu vực tác chiến nhằm kìm giữ, tiêu hao quân Pháp trong lòng thành phố.

Ngày 26/8/1947, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ký quyết định đồng chí là Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam kiêm chức Đại đoàn trưởng Đại đoàn Độc Lập. Tháng 1 năm 1948, trong đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của Quân đội, ông được phong Thiếu tướng.


Chiến dịch Biên Giới (16/9-14/10/1950), ông là Tổng tham mưu trưởng kiêm Tham mưu trưởng chiến dịch. Trong chiến dịch này, đích thân ông chỉ huy trận đánh then chốt Đông Khê. Trong trận đánh Đông Khê, lúc đầu diễn ra không thuận lợi, ông đã ra tận chiến hào chỉ đạo, động viên bộ đội giữ chốt. Khi quân Pháp đánh chốt, ông ở lại giữ chốt cùng bộ đội.


Tiếp theo đó, ông tiếp tục làm Tham mưu trưởng các chiến dịch quan trọng khác như Trung du, Hoàng Hoa Thám (1951).


Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, ông là Phó Tổng tham mưu trưởng kiêm Tham mưu trưởng chiến dịch.


Ngày 10/4/1958, ông là Tổng tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn theo sắc lệnh 61/SL ngày 10/4 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1960, ông là Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục thể thao Nhà nước. Từ năm 1961 đến năm 1963, ông đi học ở Học viện quân sự cấp cao Bắc Kinh, Trung Quốc.


Trong kháng chiến chống Mỹ ông Nam tiến ngay những ngày đầu tiên quân Mỹ thực hiện Chiến tranh cục bộ, năm 1966 ông là Tư lệnh kiêm Chính uỷ Liên khu 5. Từ năm 1967 đến năm 1973 ông là Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, Phó bí thư Trung ương cục và Phó bí thư Quân uỷ Quân Giải phóng miền Nam. Đây là thời kì cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt nhất, ông đã chỉ đạo chỉ huy nhiều chiến dịch lớn ở Nam Bộ.

Cuối tháng 1 nam 1974, ông ra Bắc nhận chức vụ Phó Tổng tham mưu trưởng thứ nhất, trực tiếp chỉ đạo công tác chi viện chiến trường và chỉ đạo tác chiến.

Qua tám năm làm Tư lệnh 2 chiến trường lớn đánh Mỹ ở miền Nam B2 và khu V, ông có nhiều kinh nghiệm chỉ đạo tác chiến. Ông đựoc Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao làm kế hoạch chiến lược 2 năm 1975-1976. Thời gian chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công, toàn bộ công việc của Bộ Tổng tham mưu đựoc yêu tiên cho chiến trường miền Nam. Ông làm việc với cường độ cao, vừa giúp bộ theo dõi, chỉ đạo tác chiến trên các chiến trường vùa cùng tướng Lê Trọng Tấn hướng dẫn tổ trung tâm hoành thành kế hoạch tác chiến chiến lược. Ông còn cùng các cơ quan của Bộ Quốc phòng nhất là Tổng cục hậu cần đôn đốc, giải quyết những yêu cầu chiến trường...Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giữ trách nhiệm Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng chi viện, ông đã tập trung chỉ đạo chi viện kịp thời cho các chiến trường, góp phần quan trọng đưa cuộc tiến công và nổi dậy đến toàn thắng.


Từ năm 1974 đến năm 1986, ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.


Từ năm 1974 đến năm 1981, ông là Uỷ viên thường vụ Quân uỷ Trung ương, Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá III đến khoá V, đại biểu Quốc hội khoá VII.


Đại tướng Hoàng Văn Thái là một vị tướng hiền hậu, thật thà, giản dị và hết mực khiêm tốn và được cán bộ và chiến sĩ ta hết mực yêu quý. Đặc biệt cán bộ và chiến sĩ Quân khu 5 thường gọi ông trìu mến bằng ‘’ông cụ’’. Khi nghe tin Quân đội chuẩn bị danh sách ba người (ông, ông Nguyễn Chánh, ông Chu Văn Tấn) để đưa ra Chủ tịch nước xét quyết định phong Thượng tướng và giữ chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục cán bộ, Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông đã xin rút ra khỏi danh sách vì lí do ‘’anh Nguyễn Chánh xứng đáng hơn tôi’’. Hay có truyện sau ngày cách mạng tháng 8 thành công, khi ông được Bác Hồ giao nhiệm vụ thành lập Bộ tổng tham mưu, ông đã sử dụng trung úy Hải (sĩ quan quân đội Pháp, sau này là Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam) làm cán bộ của Bộ Tổng tham mưu. Ông được coi là người phụ tá ăn ý, người đồng chí trung thành của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.


Cũng chính ông là người nghĩ ra cách kí hiệu các cấp của các đơn vị Quân đội bằng các chữ cái (ví dụ : A-Tiểu đội, B-Trung đội, C-Đại đội, D-Tiểu đoàn, E-Trung đoàn, F-Sư đoàn) để cho dễ gọi hơn, Việt hơn và đặc biệt thể hiện sự độc lập đối với những ‘’di sản’’ do người Pháp để lại.


Một điều đặc biệt nữa mà đến giờ nhiều người vẫn nhầm, đó là bài ‘’Phất cao cờ Nam tiên’’ được sáng tác trong thời kì cuối năm 1945 trong phong trào Nam tiến vào Nam chi viện cho cuộc kháng chiến của quân và dân Nam Bộ. Trong khi bài hát này đúng là sáng tác trong phong trào Nam tiến, nhưng là phong trào Nam tiến trước cách mạng tháng 8 phát triển lực lượng vũ trang từ căn cứ địa Việt Bắc về Đồng Bằng phát triển lực lượng chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, vào một đêm mùa đông bên cạnh một đống lửa trong rừng sâu của cuối năm 1944 trước ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân có mấy ngày. ‘’Cờ giải phóng phất cao đường Nam tiến/ Trời phía Nam dân chúng đang mong chờ/ Tiến bước mau ! Quân giải phóng’’. Và bài hát này cũng vang lên trong những đoàn quân Nam tiến khi quân Pháp gây hấn ở Nam Bộ, trong bước tiến quân thần tốc và những trận đánh anh dũng của các chi đội Hoàng Đình Giong, chi đội Nam Long, chi đội Vi Dân, chi đội Thu Sơn, chi đội Hữu Thành, chi đội Bắc Bắc. Người sáng tác bài hát không ai khác chính là Đại tướng Hoàng Văn Thái, ông có thể coi là nhạc sĩ quân đội đầu tiên. Còn người viét lời cho bài hát chính là Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Vợ của Đại tướng Hoàng Văn Thái là Trung tá Đàm Thị Loan là một trong ba nữ chiến sĩ trong đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, bà cũng là một trong hai người có vinh dự kéo cờ trong lễ Độc lập tổ chức tại Quảng trường Ba Đình 2/9/1945-người còn lại là Giáo sư Lê Thi.


Trong bức ảnh chụp Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, ông là người cầm cờ đội mũ trắng đứng giữa.

Bài viết: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Nguồn ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

huy thanh
28-06-2009, 10:08 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/Nguyen%20Chi%20Thanh.jpg

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1/1/1914-6/7/1967), nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Bộ tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, nguyên Bí thư Trung ương cục miền Nam (1965-1967), nguyên Chính ủy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cũng từng giữ các chức vụ Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1947 rồi các khóa II và III, Bí thư Khu ủy Khu 4, Bí thư Phân khu ủy Bình Trị Thiên, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, Chủ tịch Liên đoàn Thanh niên Việt Nam.

Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.

Ngày 31/8/1959, ông được phong Quân hàm Đại tướng mà không phải qua một cấp bậc trung gian nào-giống như Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 1948 và là Đại tướng thứ hai của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ông là một trong những tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt được Hội Sử học Việt Nam trân trọng đúc tượng đồng-hiện đặt tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Tại quê hương ông có một khu tưởng niệm và tượng của ông. Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đều có những con đường mang tên ông.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được mệnh danh là cánh tay phải của Bác Hồ, khi nghe tin ông mất đột ngột Bác lặng đi một lúc. Sau kháng chiến chống Pháp cứu nước nhất là trong những năm đầu xây dựng Xã hội Chủ nghĩa ở miền Bắc, trong những bức hình tư liệu bây giờ còn lưu giữ được, ông luôn ở bên cạnh Bác trong các cuộc họp, hội nghị của Đảng, Quân đội…và đặc biệt ông là người tháp tùng Bác về quê.

http://img266.imageshack.us/img266/5905/83453jp6.jpg

Cùng Bác về quê (Làng Sen, Nghệ An 1957)

"Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người không ngừng chăm lo tăng cường bản chất cách mạng của quân đội nhân dân và chính anh là một vị tướng tiêu biểu cho bản chất và truyền thống tốt đẹp của quân đội ta" (Nguyên Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh)

‘’Ông là một danh tướng, một nhà chính trị và nhà quân sự lỗi lạc" (Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt)

“Anh như con đại bàng bay trên trời cao, có tầm nhìn xa trông rộng lại thấy được những cái rất cụ thể trên mặt đất” (Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng)

"Ngày nghe tin ông Thanh mất, tôi đã khóc. Khóc dữ dội, khóc ghê lắm! Người như vậy mà mất sớm thì tiếc quá, tiếc cho gia đình, tiếc cho dân tộc" (Nhà thơ Hoàng Cầm)

‘’Sáng trong như ngọc một con người" (Nhà thơ Tố Hữu)

"Sau Bác Hồ vĩ đại, một trong những người cộng sản lãnh đạo có đức tài, tâm huyết, khí phách, có sức hấp dẫn, lôi cuốn mạnh mẽ với quần chúng, đó là anh Nguyễn Chí Thanh!" (Viện trưởng Viện nghiên cứu Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng).

‘’Le sauveur de Binh Tri Thien’’ (Cứu tinh của Bình Trị Thiên) (Báo chí bên Pháp và các vùng địch tạm chiến Hà Nội-Sài Gòn).

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (tên thật là Nguyễn Chí Vịnh) quê tại Xã Liêm Phò, huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế trong một gia đình trung nông.

Năm ông 14 tuổi bố ông mất, do hoàn cảnh gia đình ông phải bỏ học đi làm tá điền giúp mẹ nuôi các em. Năm 16 tuổi ông quen và yêu một cô gái xinh đẹp con một lý trưởng trong làng. Nhưng gia đình nhà gái chê ông nghèo, thân phận thấp cho nên không đồng ý và gả con cho người khác. Năm 17 tuổi ông cùng bạn bè tích cực tham gia phong trào bình dân, chống chính quyền thực dân.

Năm 1934, khi 20 tuổi, ông đi làm thuê và bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1937, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ tháng 7 năm 1937 đến năm 1938 ông là Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên.

Trong thời gian này ông quen bà Nguyễn Thị Cúc (sau này là vợ ông), bà là một người có học gia đình lại khá giá nhưng là cơ sở cách mạng những năm 1924-1925, bố bà là người trước kia thường xuyên lui đến nhà cụ Phan Bội Châu. Bản thân bà cũng có những hoạt động cách mạng từ rất sớm.

Năm 1938, ông bị thực dân Pháp bắt, mặc dù không có chứng cớ nhưng ông vẫn bị toàn tuyên án 2 năm cầm cố và bị đưa về nhà lao Thừa Phủ (Thừa Thiên Huế). Cùng với ông, trong nhà lao Thừa Phủ lúc bấy giờ còn có các ông Tố Hữu, Hoàng Anh và Nguyễn Sơn.

Từa năm 1938 đến năm 1945 ông bị thực dân Pháp bắt giam cả thảy ba lần, lần thứ hai ông bị đưa ra giam ở nhà tù Lao Bảo (Quảng Trị) và lần thứ ba ông bị đưa lên Buôn Ma Thuột. Tuy bị giam cầm, tra tấn nhưng ông vẫn giữ vững khí tiết của người cách mạng, tổ chức và lãnh đạo cuộc đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù thực dân đế quốc và tìm cách vượt ngục thắng lợi để tiếp tục hoạt động, khơi dậy phong trào. Tháng 3/1945, khi đang bị tạm giam ở nhà tù Buôn Mê Thuột, ông cùng những tù nhân chính trị được trả tự do nhờ phong trào đấu tranh mạnh mẽ của đồng bào sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp. Ra tù, ông tích cực cùng Việt Minh tham gia vận động đồng bào Bình Trị Thiên đứng lên khởi nghĩa cướp chính quyền.

Tháng 8 năm 1945, ông ra Việt Bắc dự hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam (tại Tân Trào, Tuyên Quang)-hội nghị quyết định khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, ông được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, được cử vào Tổng bộ Việt Minh và được chỉ định làm Bí thư Xứ ủy Trung Bộ. Cái tên Nguyễn Chí Thanh gắn với ông từ đây. Cách mạng tháng Tám thành công, ông được cử giữ chức Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên Huế rồi Bí thư Phân khu ủy Bình Trị Thiên. Giữa năm 1946, ông tổ chức lễ cưới với bà Nguyễn Thị Cúc.

Linh hồn của cuộc kháng chiến Bình Trị Thiên

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Cuộc chiến ở Huế bắt đầu vào lúc 2h30 phút ngày 20/12/1946 và kéo dài gần 2 tháng. Sau hơn 20 ngày đầu tiên nổ súng tấn công vào các vị trí đóng quân của quân Pháp, quân dân Thừa Thiên-Huế đã buộc quân Pháp phải co cụm cố thủ trong các trường dòng, viện dân biểu...

Tuy vậy, với âm mưu chiếm đóng khu vực Bình-Trị-Thiên làm bàn đạp tấn công các tỉnh phía bắc khu 4, Pháp phái quân tiếp viện đến giải vây và đẩy lùi quân kháng chiến ở Huế. Trước sức mạnh của đối phương, quân ta chỉ cầm cự được đến đầu tháng 3 rồi rút khỏi Huế bảo toàn lực lượng.

Thừa thế, quân Pháp tiến công mở rộng, đánh chiếm Thừa Thiên Huế và các tỉnh xung quanh. Vừa đánh, quân Pháp vừa thực hiện chiến thuật "vết dầu loang" - xây dựng đồn bốt, lập hội tề và mở các cuộc càn quét để kiểm soát các vùng vừa chiếm được đồng thời thực hiện tất cả các biện pháp để truy bắt những đảng viên cộng sản bám trụ trong nhân dân, uy hiếp và tiêu diệt ý chí chiến đấu của nhân dân Huế nói riêng và mảnh đất miền trung nói chung. Sau khi mặt trận Huế vỡ, nhiều cơ quan đảng bộ trong tỉnh bị thiệt hại nghiêm trọng, như đảng bộ Phú Vang từ 193 đến thời điểm đó chỉ còn vẻn vẹn 23 đảng viên.

Còn các đơn vị bộ đội, sau khi rút khỏi thành phố Huế, do hoạt động khủng bố gắt gao của quân Pháp, cuộc sống của các đơn vị này cũng trở nên vô cùng khó khăn: ăn đói, mặc rách, rét mướt, bệnh tật. Tinh thần và tư tưởng bị chao đảo, sức chiến đấu giảm sút nghiêm trọng.

Những cuộc truy lùng gắt gao và hành quyết dã man các đảng viên cộng sản, những cuộc càn quét liên miên của giặc Pháp, thêm vào đó là sự rút lui của quân đội, tất cả đã khiến nhân dân hoang mang. Không khí sợ hãi, lo âu bao trùm trong dân chúng. Phong trào kháng chiến của Huế và cả khu vực Bình-Trị-Thiên chùn lại và vấp phải những khó khăn chồng chất. Không chỉ cần một ngọn lửa để giữ vững niềm tin, cuộc đấu tranh của nhân dân Huế còn cần có một lối đi mới, thích hợp với tình hình hiện tại. Đầu năm 1947, khu vực Bình Trị Thiên đã bị mất trắng vào tay quân Pháp.

Trên cương vị Bí thư tỉnh uỷ Thừa Thiên-Huế, ông đã cho triệu tập gấp một hội nghị các cán bộ đảng tỉnh Thừa Thiên. Hội nghị diễn ra tại thôn Nam Dương (huyện Quảng Điền) vào ngày 25/3, tức là chỉ hơn nửa tháng kể từ sau khi bộ đội rút khỏi nội thành Huế và 9 ngày sau khi quân Pháp hoàn toàn chiếm được Huế.

Ngay sau hội nghị Nam Dương, với định hướng đường lối rõ ràng, nhiều cán bộ đảng viên đã bất chấp nguy hiểm, vượt qua những hệ thống đồn bốt dày đặc của địch về cơ sở.

Thế nên, chỉ hơn 1 tháng sau khi bộ đội chủ lực rút khỏi Huế, phong trào kháng chiến được gây dựng trở lại. Đến đầu năm 1948, từ chỗ bị đánh bật khỏi cơ sở, các cán bộ đảng viên đã gây dựng và từng bước củng cố các uỷ ban hành chính kháng chiến, bám sát, chỉ đạo nhân dân sản xuất, phục vụ chiến đấu

Cùng với lực lượng cán bộ đảng viên, với phương châm: "Đánh địch để xây dựng cơ sở, xây dựng cơ sở làm chỗ dựa đánh địch", lực lượng vũ trang tỉnh Thừa Thiên đã tạo được sự phát triển mới trong phong trào toàn dân kháng chiến.

huy thanh
28-06-2009, 10:11 PM
Bắt đầu từ tháng 7/1947, một số tiểu đoàn quân chính quy được phân tán thành những đơn vị nhỏ - còn được gọi là các "tiểu đội độc lập", thực hiện "quần chúng hóa" bám dân, bám địa bàn, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tác chiến liên tục, đánh vào các đồn bốt và ngăn chặn các cuộc càn quét của địch.

Ngoài sự hoạt động hiệu quả của các "tiểu đội độc lập", phong trào phá tề do trung ương phát động đầu năm 1948 cũng phát triển hết sức mạnh mẽ, đều khắp. Hệ thống nguỵ quyền cơ sở mất hiệu lực khiến cho địch không dám tiến hành kiểm soát và khống chế dân. Ở nhiều xã ngay trong vùng địch tạm chiếm, ngụy quyền tan dã. Nhân dân khắp nơi hưởng ứng, giúp đỡ kháng chiến.

Năm 1948, ông được cử giữ chức Bí thư Khu ủy Khu 4.

Đến cuối năm 1949, cuộc kháng chiến của nhân dân Thừa Thiên-Huế nói riêng, Bình-Trị-Thiên chung đã đạt được khí thế mới: càng đánh cành mạnh như lời của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nối: "Bình-Trị-Thiên kháng chiến ngày càng vững mạnh lên, địch cũng phải công nhận."

Nhà chính trị

Năm 1950, ông được điều lên Việt Bắc và ngày 11/7/1950, ông được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Bộ tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Cũng tháng 2 năm này, tại đại hội lần I Liên đoàn thanh niên Việt Nam ông được bầu làm Chủ tịch Liên đoàn cho đến năm 1956.

Trên cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ông giáo dục cho cán bộ chiến sỹ thấm nhuần chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Quân đội ta là quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ. Ông đã tổ chức thực hiện sự lãnh đạo có hiệu lực của Đảng đối với quân đội, thực hiện đường lối quân sự của Đảng, tạo ra một bước phát triển mới về sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến, liên tục mở các chiến dịch lớn, từ chiến dịch Biên Giới 1950 đến chiến dịch Điện Biên Phủ. Chấp hành chỉ thị của Hồ Chủ tịch và Bộ Chính trị, ông đã tập trung vào tăng cường bản chất cách mạng của Quân đội Nhân dân. Tập trung xây dựng chế độ lãnh đạo tập thể của Đảng trong các cấp, từ Tổng quân uỷ đến chi bộ đại đội, làm cho công tác tư tưởng vượt lên trên phạm vi của công tác động viên và tác động tâm lý thông thường của con người theo bản năng, phát triển thành công tác giáo dục chủ nghĩa Mác Lê-nin, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, mục tiêu chiến đấu của quân đội.

Với việc thiết lập và xây dựng hệ thống tổ chức công tác đảng - công tác chính trị trong quân đội, ông đã làm rõ các mối quan hệ giữa quân đội với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân, với bầu bạn quốc tế, trong đó mối liên hệ giữa quân đội với Đảng là mối liên hệ bản chất chi phối các mối quan hệ khác. Chăm lo giáo dục chính trị, tư tưởng quân sự của Đảng thể hiện trong chiến lược, chiến dịch và chiến thuật; trong giải quyết mối quan hệ giữa chính trị và quân sự, giữa tiền tuyến và hậu phương, giữa con người và vũ khí, giữa lãnh đạo và chỉ huy, giữa đạo đức và tài năng của cán bộ... Tất cả đã tạo ra bước ngoặt về xây dựng chính trị làm cơ sở nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội Nhân dân.

‘’Khi Đảng cần Đại tướng cũng bị trưng dụng’’ (Đại tướng Nguyễn Chí Thanh)

Ngày 31/8/1959, ông được phong Quân hàm Đại tướng theo quyết định của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Cuối năm 1960, tình hình nông nghiệp gặp khó khăn. Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, năm 1961, ông được điều từ Quân đội sang phụ trách Trưởng ban nông nghiệp Trung ương cho tới năm 1964. Với một đất nước trước đây gần như thuần nông nghiệp thì đây là một lĩnh vực rất quan trọng, nó tạo tiền đề đầu tiền để phát triển miền Bắc đồng thời chuẩn bị cho kế hoạch chi viện và giải phóng miền Nam. Là một nhà quản lí có đầu óc tổ chức, ông đã vào Hợp tác xã Đại Phong Quảng Bình rồi Vĩnh Linh, Lạng Sơn, Yên Bái, Hải Phòng, Lào Cai để nghiên cứu, tìm hiểu cách quản lí và tổ chức rút kinh nghiệm nhằm phát động một phong trào rộng lớn trong nông nghiệp nhằm thi đua với hợp tác xã Đại Phong. Từ mô hình hợp tác xã Đại Phong ông đã nhân lên khắp miền Bắc, nhiều cánh đồng năm tấn xuất hiện khắp nơi tạo nên một diện mạo mới cho miền Bắc nói chung và các tỉnh nông thôn miền Bắc nói riêng. Câu ‘’Sóng duyên hải, Gió Đại Phong, Tiếng trống Bắc Lý’’ là khẩu hiệu, mục tiêu thi đua trên các mặt Công nghiệp-Nông nghiệp-Giáo dục một thời.

Nhà chiến lược quân sự

Bắt đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông được điều về lại Quân đội. Năm 1964, ông tình nguyện vào Nam chiến đấu. Từ năm 1965 đến năm 1967, ông là Bí thư Trung ương Cục miền Nam đồng thời là Chính ủy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, tham gia lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng miền Nam và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Lúc này, đế quốc Mỹ đã đưa quân chiến đấu Mỹ và quân đội các nước chư hầu ồ ạt vào trực tiếp tham chiến, xâm lược miền Nam. Đây là thời điểm bước ngoặt của cuộc chiến tranh. Ông cùng lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam đã nhận rõ: ở vào giai đoạn cuối của "Chiến tranh đặc biệt", nếu ta chỉ phát triển chiến tranh du kích, chỉ đánh địch ở quy mô nhỏ thì không thể giành thắng lợi quyết định được. Bởi vậy, cùng với việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, xây dựng lực lượng cách mạng của quần chúng, chúng ta phải coi trọng xây dựng các quả đấm chủ lực, ông đã cùng với Bộ chỉ huy Miền chỉ đạo mở các chiến dịch Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài và hàng loạt trận tiến công đánh bại từng chiến đoàn của chính quyền Sài Gòn cũ, cùng với việc phá rã hàng ngàn "ấp chiến lược", làm phá sản hoàn toàn chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ - nguỵ.

Quân đội Mỹ ồ ạt vào xâm lược miền Nam, cùng lúc đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh leo thang, dùng không quân và hải quân đánh phá ác liệt miền Bắc Việt Nam. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người phát hiện sớm việc chuyển chiến lược của Mỹ. Phát kiến đó đã được Bộ Chính trị chấp nhận và đề ra quyết sách mới. Lúc đó, ông phân tích: Mỹ vào miền Nam trong thế thua, thế bị động về chiến lược; Mỹ có cả một kho vũ khí khổng lồ nhưng lại vấp phải một núi mâu thuẫn; Mỹ là tỷ phú về đô-la, nhưng quân và dân ta lại là tỷ phú về chủ nghĩa anh hùng cách mạng; Ta có đường lối chiến tranh cách mạng, có chiến thuật đúng, ta sẽ bắt quân Mỹ phải đánh theo cách đánh của ta, nên ta nhất định thắng.

Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông cùng Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền đã chỉ đạo và tổ chức quân và dân miền Nam phát huy tư tưởng chiến lược tiến công trong tình hình nhiệm vụ mới, đánh thắng quân Mỹ ngay từ những trận đầu. Các trận thắng: Núi Thành, Vạn Tường, Bàu Bàng, Nhà đỏ - Bông Trang, Plây - me và thung lũng Ia - đrăng, cuộc hành quân A-ten-bơ-rô và nhất là đánh bại cuộc hành quân tổng lực để "tìm diệt" mang tên Gian-xơn-xi-ti đã làm nức lòng nhân dân cả nước; trực tiếp xây dựng, củng cố niềm tin và quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ của toàn dân tộc.

Từ thực tế chiến đấu, sự sáng tạo của các đơn vị, các địa phương, ông đã tổng kết thành phương châm chỉ đạo tác chiến, đồng thời cũng là khẩu hiệu hành động cách mạng nổi tiếng, nhanh chóng đi vào lòng người, lan toả thành cao trào cách mạng trên khắp chiến trường như "Nắm thắt lưng địch mà đánh" nó thể hiện tư duy chiến thuật đồng thời cũng là chiến lược ‘’Ở gần, đánh gần’’, "Tìm Mỹ mà đánh, tìm nguỵ mà diệt", lập các "Vành đai diệt Mỹ", thi đua phấn đấu trở thành "Dũng sỹ diệt Mỹ", "Dũng sỹ diệt xe tăng" v.v...Thực hiện tư tưởng này, Quân giải phóng miền Nam đã thật sự chống được ý đồ "phân tuyến" của Mỹ - nguỵ, đã hạn chế đến mức tối đa (có trận đã vô hiệu hoá) hỏa lực phi pháo của đối phương. Ta thắng quân đội Mỹ, và sau này thắng quân của chính quyền Sài Gòn cũ ở giai đoạn "Việt Nam hoá chiến tranh" cũng từ cái tư tưởng "ở gần và đánh gần" này.

Luôn sâu sát thực tế, nắm bắt nhanh nhạy mọi vấn đề, ông đã phân tích và khái quát rât sâu sắc cục diện cuộc chiến, nhất là sau chiến thắng lớn của ta đánh bại cuộc hành quân Gian-xơn-xi-ti của Mỹ ở miền Đông Nam Bộ. Bài viết "Năm bài học phản công chiến lược mùa khô" mang bút danh Trường Sơn của ông đã ngay lập tức trở thành tác phẩm có giá trị. Nó là vũ khí tư tưởng cho toàn đảng, toàn quân và toàn dân quyết đánh và quyết thắng quân Mỹ xâm lược.

Kiệt sức vì công việc

Mùa hè năm 1967, ông ra Hà Nội báo cáo tình hình chiến trường miền Nam và cùng Bộ chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh thiết kế và hoạch định kế hoạch cuộc Tổng tiến công Mậu Thân. Ông mất đột ngột vào ngày 6/7/1967, một ngày trước khi ông lên đường trở lại miền Nam.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là một người có sức khỏe không được tốt. Những năm tháng tù đầy khắp các nhà lao ở miền Trung cộng với những năm kháng chiến gian khổ thiếu thốn, cường độ làm việc cao khiến cho ông bị mắc bệnh phổi-đã có thời gian Trung ương và Bác phải chỉ thị cho ông tạm dừng công việc để đi chữa bệnh. Từ năm 1965 đến 1967, những vất vả và khó khăn của những năm đầu kháng chiến chống Mỹ cứu nước dường như đã vắt kiệt sức khỏe và làm suy yếu trái tim của ‘’người tá điền vóc dáng khỏe mạnh’’ năm nào. Đợt ra Bắc năm 1967, ngày nào ông cũng phải làm việc tới khuya. Đêm cuối cùng trước khi vào Nam ông còn làm việc với tướng Song Hào và tướng Lê Quang Đạo. Đây là một đau thương vô hạn, một tổn thất vô cùng lớn của cách mạng Việt Nam, của chiến sỹ và đồng bào cả nước. Đối với Trung ương Cục, Bộ chỉ huy Miền và Quân giải phóng miền Nam thì đây là một tổn thất không gì bù đắp nổi.

Nước da ngăm đen, đôi mắt sáng ngời, tính tình nhân hậu thẳng thắn. Ông là hiện thân của người nông dân mặc áo lính-vị tướng nông dân. Tác phong luôn luôn gần gũi và sâu sát với cán bộ cấp dưới và nhân dân. Có biết bao những câu chuyện kể về ông từ câu chuyện ông cõng lĩnh trong chiến dịch Hoàng Hoa Thám, chuyện ông ăn sắn độn khoai với bộ đội hay đến chuyện bà nọ đòi xem mặt Đại tướng. Ông là điển hình của tác phong lãnh đạo giản dị, không xa hoa lãng phí và không bao giờ lên mặt làm ‘’quan cách mạng’’. Xin trích một số câu nói của ông : ‘’Nước ta còn nghèo, miền Nam còn trong khói lửa chiến tranh, miền Bắc đang kiến thiết và xây dựng, kinh nghiệm xây dựng cuộc sống mới còn chưa nhiều. Tôi cũng đã từng đôi ba lần đi nước ngoài, tôi biết. Những nước phát triển, người ta làm gì cũng tính toán cân nhắc. Phòng khách, buồng ngủ, nhà ăn quy mô to nhỏ, trang trí thế nào là vừa phải. Lịch sự không có nghĩa là xa hoa, lãng phí’’-: “Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, khó tránh khỏi chớm nở trong bộ đội tư tưởng đòi hưởng thụ. Nhưng mình ở sang quá thì khó gần gũi anh em, mà có khi nói điều cần phải nói cũng khó lọt tai người nghe”-“Mình dù sao cũng còn trẻ, để nhường cho các đồng chí cao tuổi, yếu sức hơn. Nước ta nghèo, nếu cứ bày đặt ra, nhà trên dùng được máy điều hòa nhiệt độ thì nhà dưới cũng dùng được, rồi thi nhau bóc ngắn cắn dài, chết cả”…

Mộ của ông hiện đặt trong nghĩa trang Mai Dịch trong hai hàng chính giữa (ở bên trái nếu đi từ cổng vào), cùng hàng với Bác Tôn, nhà thơ Tố Hữu, Tổng bí thư Lê Duẩn…Một điều đặc biệt là chưa lần nào tôi vào viếng nghĩa trang Mai Dịch mà không thấy trước mộ ông một bó hoa cúc-một tình yêu thủy chung từ lúc hoạt động cách mạng gian lao cho đến khi một người đã khuất còn một người đã bước vào tuổi 90.

Bài viết : các bài viết về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh của Nguyên Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh ; Nguyệt Tú-Nguyệt Tinh, nhà thơ Hoàng Cầm và Bảo tàng Quân sự Việt Nam.

Nguồn ảnh : Bảo tàng Quân sự Việt Nam.

40 năm ngày mất Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (6/7/1967-6/7/2007) (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1667.msg22835#msg22835)

huy thanh
28-06-2009, 10:14 PM
http://img87.imageshack.us/img87/7086/thieutuongdoxuanhopxh3.jpg

Thiếu tướng Giáo sư Bác sĩ Đỗ Xuân Hợp (8/7/1906-17/12/1985), Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Giải thưởng nhà nước về Khoa học kĩ thuật-Giải thưởng Hồ Chí Minh, nguyên Viện trưởng Viện Quân y Liên khu 10 rồi Hiệu trưởng Trường Quân y sĩ trong kháng chiến chống Pháp, nguyên Hiệu trưởng Trường sĩ quan Quân y (nay là Học viện Quân y).


Ông còn giữ các chức vụ : Chủ nhiệm bộ môn giải phẫu Trường Đại học Y Hà Nội (1954-1985), Phó Chủ tịch Tổng hội Y dược Việt Nam, chủ tịch Hội hình thái học Việt Nam (1965-1985). Ông là Đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VII. Phó chủ nhiệm ủy ban y tế-xã hội của Quốc hội khoá VI, uỷ viên Ban chấp hành trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá III.


Ông cũng từng là giảng viên trường Trường Y Khoa Đông Dương (1932 đến 1945).


Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương kháng chiến hạng Ba… Giải thưởng Testut của Viện hàn lâm y học Pháp (1949).

Thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp sinh tại phố Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội trong một gia đình nhà Nho yêu nước.

Ông là con thứ năm của cụ Đỗ Xuân Đạt, khi cụ Lương Văn Can cùng các sĩ phu yêu nước lập ra trường Đông Kinh nghĩa thục, cụ Đạt tuy không ra dạy nhưng vẫn ủng hộ tài chính cho trường.

Vợ ông, bà Nguyễn Thị Thịnh là một nữ sinh trường Đồng Khánh rồi trường Sư phạm Hà Nội, một người phụ nữ hết lòng vì sự nghiệp của chồng. Bà là một trong những người đầu tiên sáng lập Hội chữ thập đỏ Việt Nam, sau cách mạng tháng Tám, do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch danh dự và bà là Phó Chủ tịch.

Ngay từ hồi nhỏ, ông đã nổi tiếng học trò giỏi nhất trường. Sau khi đậu kì thi tốt nghiệp tiểu học thì những cuốn sách được thưởng cho ông đã chất đầy một tủ. Sau này theo học trường Bưởi, ông cũng là học sinh giỏi, chăm chỉ và khiêm tốn giúp bạn học kém hơn mình. Mỗi tháng được nhận học bổng 8 đồng, ông dùng để nuôi hai em tiếp tục ăn học như mình. Sau khi tốt nghiệp trung học với bằng thành chung loại ưu tú, ông theo học trường Cao đẳng y dược Đông Dương. Ông tính toán như vậy vì chỉ sau bốn năm học thì có thể đi làm để giúp đỡ gia đình. Mùa hè năm 1929, ông tốt nghiệp ra trường và nhận bằng Y sỹ.

Năm 1930 ông kết hôn cùng bà Nguyễn Thị Thịnh rồi sau đó ông được điều lên Bắc Hà (gần Lào Cai bây giờ) làm việc. Thời kì đó, Bắc Hà là nơi mà ánh sáng văn minh chưa rọi đến. Vợ chồng ông đã làm hết sức mình để cải thiện sức khỏe cho người dân còn mê muội. Ngay từ những năm tháng này ông đã có quan niệm: cứu được bệnh nhân thoát khỏi tay tử thần là niềm vui của chính mình. Muốn làm được như vậy thì không thể không nâng cao tay nghề và trình độ hiểu biết của mình về y học.

Cuối Xuân năm 1932, ông cùng vợ theo học hàm thụ trường đại học Tổng hợp Paris. Cũng trong thời gian này, Trường Y khoa Đông Dương đang thi tuyển chọn lấy một trợ lý ngành giải phẫu cho Viện giải phẫu của trường. Thế là với quyết tâm của mình, ông quyết tâm thi. Cuối năm 1932, ông trở về Hà Nội nộp đơn thi và trúng tuyển. Nhờ vậy, ông được chuyển công tác về Hà Nội, phụ việc cho Giáo sư P. Huard - giám đốc của Viện giải phẫu học. Qua năm sau, nhờ có sự chứng nhận và giới thiệu của trường hàm thụ mà vợ chồng được thi tú tài. Cả hai kỳ thi họ đều đậu thủ khoa. Nếu Bác sĩ Hồ Đắc Di là người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp bác sĩ phẫu thuật tại Pháp thì ông là người đầu tiên trợ giảng và hướng dẫn cho sinh viên thực tập trong khoa phẫu thuật của trường Y khoa Đông Dương.

Thông qua những kinh nghiệm đã thu thập được sau hơn 10 năm làm công việc này, ông đã gây chấn động trong giới y học thời bấy giờ bằng bộ sách Morphologie humaine et anatomie artistique (Hình thái học và giải phẫu thẩm mỹ) in năm 1942. Với bộ sách này ông đã được Viện Hàn Lâm y học nước Pháp đã tặng giải thưởng Testut vào năm 1949. Ngoài ra ông còn công bố nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khác. Từ năm 1936, ông đã nghiên cứu về bộ xương người Việt Nam hiện đại và một số sọ hoặc bộ xương người Việt Nam thời cổ. Ngoài ra ông còn nghiên cứu cả về não, mạch máu thần kinh và nội tạng v.v...

Hơn mười năm làm việc chăm chỉ, vừa giúp việc cho Viện trưởng vừa tham gia chữa bệnh tại Bệnh viện Phủ Doãn, ông đã hoàn thành chương trình bác sĩ y khoa. Năm 1944, ông được công nhận là giảng viên trường Đại học Y khoa Hà Nội.

Cách mạng tháng tám năm 1945, được chứng kiến giờ phút thiêng liêng tại quảng trường Ba Đình và nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập, có sức hấp dẫn và cảm hóa lạ lùng đối với ông, từ đó ông xác định được con đường đi của mình.

Bắt đầu từ việc mở các lớp huấn luyện hồng thập tự cho nữ sinh các trường trung học. Ông được cấp trên tín nhiệm cử làm Chủ tịch ủy ban hành chính lâm thời khu phố Chợ Hôm, Hà Nội. Đầu năm 1946, ông tình nguyện tham gia quân đội được Cục Quân y đưa lên Việt Trì xây dựng bệnh viện quân y chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến.

Toàn quốc kháng chiến, ông bỏ lại sau lưng căn biệt thự số 69 phố Trần Xuân Soạn (Hà Nội), bỏ lại những tiện nghi vật chất để lên đường kháng chiến. Sự cương quyết của ông khi đi theo kháng chiến là việc không phải ai cũng làm được, vì bấy giờ ông đang giảng dạy ở Đại Học Y khoa, lại chữa bệnh ở bệnh viện Phủ Doãn và còn có cả phòng mạch tư ở phố Chợ Hôm.

Vào tháng 3/1947 ông cùng gia đình ở Việt Trì. Sau khi Pháp tấn công ông cùng gia đình chạy lên Lâu Thượng rồi nửa đêm chạy ngược sông Lô để qua Bình Sơn (Vĩnh Yên). Ở đây, Bác sĩ Đỗ Xuân Hợp được giao nhiệm vụ làm giám đốc Quân y viện Liên khu 10.

Vào tháng 3/1949, nhiều chiến dịch lớn đã mở để kịp thời đào tạo cán bộ quân y phục vụ chiến trường, Trường Quân y sĩ (Trường sĩ quan quân y, Đại học quân y, Học viện quân y) được thành lập ở cánh rừng Liễn Sơn, xã Hồng Hoa, huyện Tam Dương (Vĩnh Phú). Đầu năm 1950 ông được điều về làm Trưởng phòng Huấn luyện của Cục Quân y. Ông là hiệu trưởng (cho đến năm 1984) kiêm Chủ nhiệm Bộ môn giải phẫu đồng thời là giảng viên, ngoài ra, ông còn dạy ở Đại học y khoa Chiêm Hóa (Tuyên Quang) do Bác sĩ Hồ Đắc Di làm hiệu trưởng. Tuy bận nhiều việc nhưng ông không ngừng nghiên cứu khoa học và biên soạn giáo trình giảng dạy.

Trực tiếp mổ xẻ, băng bó, chăm sóc vết thương cho thương bệnh binh từ chiến trường chuyển về, ông nhận thấy vết thương tứ chi bao giờ cũng chiếm một tỉ lệ lớn, do đó ông đã kịp thời biên soạn quyển Giải phẫu tứ chi và Thực hành y khoa. Tập sách này được xuất bản năm 1952 tại Việt Bắc - nó không chỉ là tài liệu chính giảng dạy trong nhà trường mà còn là cẩm nang quý báu cho cán bộ quân y tham khảo để phục vụ thương binh ngay tại chiến trường. Với tác phẩm này, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi và Chính phủ tặng Huân chương kháng chiến hạng ba. Từ sự khích lệ này, trong suốt 20 năm (1952-1971) ông đã dành hết tâm lực để hoàn thành bộ sách nghiên cứu về giải phẫu học gồm nhiều tập, với 2000 trang, 900 hình vẽ minh họa có giá trị lâu bền như Giải phẫu bụng, Giải phẫu ngực... đã được Nhà xuất bản y học tái bản nhiều lần. Ngoài ra còn có thể kể đến những tác phẩm y học ông viết trong thời gian chống Pháp như Triệu chứng học, Dược học, Thực hành bệnh viện...

Kháng chiến chống Pháp kết thúc, từ năm 1954 đến năm 1984 ông tiếp tục giữ chức Hiệu trưởng Trường sĩ quan quân y sĩ sau là Trường sĩ quan quân y và nay là Học viện quân y kiêm Chủ nhiệm Bộ môn giải phẫu Đại học Y khoa Hà Nội.

Hơn mười năm sau khi ông qua đời, bộ sách y học nổi tiếng của ông được Nhà nước tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh” về khoa học kỹ thuật đợt đầu tiên cùng với các giáo sư Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng...


Ông là Phó Chủ tịch Tổng Hội Y học Việt Nam từ khi thành lập; sáng lập viên và là Chủ tịch Hội Hình thái học Việt Nam (1965-1985); sáng lập viên Hội Nhân chủng học, chuyên viên đầu ngành giải phẫu học Việt Nam.

Thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp có đầy đủ những phẩm chất của một trí thức đó là tài năng, trí tuệ cũng như trách nhiệm trước nhân dân, thời cuộc và vận mệnh của tổ quốc. Người đã vì tổ quốc mà dàm từ bỏ những vinh quang và đầy đủ vật chất của bản thân để dấn thân vào cuộc trường chinh gian khổ 9 năm cùng dân tộc. Người luôn đặt lợi ích của tổ quốc của toàn dân tộc trên lợi ích của bản thân. Ông không nề hà nhận bất cứ việc gì mà kháng chiến đòi hỏi, từ cấp cứu chiến thương, điều trị thương binh, bệnh binh, phụ trách bệnh viện đến tổ chức đào tạo cán bộ y tế cho quân đội.

Trong thời thuộc Pháp, nước ta không có tên trên bản đồ thế giới, người Pháp coi người Việt Nam là “dân Anamít hèn hạ” thế mà Viện Hàn lâm y học Pháp phải thừa nhận tài năng xuất sắc của Thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp. Tên tuổi của một người Việt Nam-Thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp được đặt ngang tên một người Pháp-giáo sư Pierre Huard trên bìa sách được giải thưởng khoa học của nhà nước Pháp. Một trợ lý giải phẫu người Việt, khi viết chung cuốn sách ấy mới có bằng Y sĩ - Đỗ Xuân Hợp đủ tài năng hợp tác với thầy giáo người Pháp, Giám đốc Viện Giải phẫu đồng thời là Hiệu trưởng trường Đại học Y khoa Hà Nội-giáo sư Pierre Huard. Ông đã đem lại vinh quang và niềm tự hào cho dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ. Tác phẩm gây tiếng vang trong giới y học Việt Nam và Pháp, sách gối đầu giường của các nhà nghiên cứu, các thầy giáo, sinh viên các trường đại học. Ở nước ta, thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp lần đầu tiên được nhận giải Tes Tut, cho đến ba mươi năm sau, năm 1980 giáo sư Tôn Thất Tùng là người thứ hai và là người thứ mười trên thế giới được nhận giải này. Nhân cách giáo sư cùng với niềm tự hào dân tộc càng được nhân lên khi giáo sư, tận tâm phục vụ kháng chiến, thiếu thốn đủ điều nhưng lại từ chối việc đến Thủ đô Paris nhận giải thưởng Tes Tut cùng với số tiền thưởng 32.000 USD. Từ một trò nghèo của đất Thăng Long, ông tự học tự nghiên cứu trở thành trợ lý giải phẫu cho giám đốc Viện Giải phẫu Hà Nội... Ông cũng đã miệt mài học tập, nghiên cứu, giảng dạy nghiêm túc trong suốt 10 năm (1932 - 1942) để đạt vinh quang trong khoa học: được nhận giải thưởng y học lớn tầm cỡ thế giới.

Thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp được coi là một trong những người lập công đầu đưa tiếng mẹ đẻ vào giảng dạy ở bậc đại học. Ông đã làm một khối lượng công việc khổng lồ: dịch sang tiếng Việt hàng chục nghìn từ y học và giải phẫu học, chính xác và sáng tạo, góp phần làm giàu tiếng Việt ta, tránh dùng nhiều từ gốc Hán.

Trong bộ sách giá trị Anatomie Topographique của Henri Rouvierè - tập nghiên cứu y học về cánh tay con người có chương viết về cơ ghi rõ muscle Do Xuan Hop và chương về dây thần kinh ghi rõ nerf Do Xuan Hop. Bên cạnh đó tên tuổi và công trình nghiên cứu của ông còn được in trong bộ Encyclopédie medicale Francaise (Bách khoa toàn thư y học Pháp).

Trong suốt cuột đời mình (1906 - 1985), Thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp là tác giả hoặc đồng tác giả của hơn 100 công trình nghiên cứu và gần 20 cuốn sách chuyên khảo về các lĩnh vực giải phẫu học ngoại khoa, nhân chủng học, khảo cổ học, dân tộc học, mỹ thuật học... rất có giá trị cả về lý thuyết và thực tiễn. Nhưng có lẽ bộ sách giải phẫu học gồm bốn tập (Giải phẫu đại cương và giải phẫu đầu - mặt - cổ, Giải phẫu và thực dụng ngoại khoa chi trên và chi dưới, Giải phẫu ngực, Giải phẫu bụng) vẫn là bộ sách lớn nhất của cả đời ông. Một phần tư thế kỷ đã trôi qua kể từ khi ông hoàn thành tập cuối cùng của bộ sách ấy (1971). Ơ nước ta xuất hiện thêm nhiều bộ sách giải phẫu khác viết bằng tiếng Việt. Nhưng có lẽ chưa bộ sách nào vượt được bộ sách của ông về khối lượng, chất lượng bản thảo, cũng như về số lượng bản in.


Bài viết: Ykhoanet

Nguồn ảnh: Trang web Trường Đại học Y Khoa Hà Nội

huy thanh
28-06-2009, 10:16 PM
http://img87.imageshack.us/img87/4285/tuongtrandangninhxd0.jpg

Chủ nhiệm Trần Đăng Ninh (1910-6/10/1955), nguyên Chủ nhiệm Tổng cục cung cấp (nay là Tổng cục Hậu cần), nguyên Ủy viên Tổng Quân ủy Quân đội Nhân dân Việt Nam (1950-1955).


Ông từng giữ các chức vụ Trưởng ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam kiêm Phó Tổng thanh tra chính phủ (1946-1949), Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Tên của ông được đặt tên cho một con đường ở Thủ đô Hà Nội. Tháng 7 năm 1956, Bưu điện Việt Nam đã phát hành một bộ tem gồm 4 mẫu hình in chân dung ông.


Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất…


Chủ nhiệm Trần Đăng Ninh, tên thật là Nguyễn Tuấn Đáng mọi người thường gọi là ‘Anh đầu to’ hay ‘Anh râu xồm’, sinh ra trong một gia đình nông dân ở thôn Quảng Nguyên, xã Quảng Phú Cầu, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây.


Lớn lên, ông ra Hà Nội học nghề in và vào làm thợ trong nhà in Lê Văn Tân. Sau đó, do tiếp thu ảnh hưởng của phong trào cách mạng thập niên 30 của thế kỉ 20 và được bạn bè trong giới thợ thuyền dìu dắt, ông sớm giác ngộ và tham gia cách mạng. Đầu những năm 30, ông hoạt động trong phong trào công nhân ngành in.


Năm 1936, ông được cử vào Ban chấp hành Nghiệp đoàn bí mật và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.


Từ năm 1937 đến năm 1939, ông đã tổ chức và lãnh đạo nhiều cuộc bãi công, bãi thị, mít tinh, đấu tranh chống thuế... nên được giới thiệu tham gia Thành ủy Hà Nội.


Năm 1940, ông được cử vào Xứ ủy Bắc Kỳ. Khi cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra, ông được phân công tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng, lập Ủy ban Cách mạng, tổ chức du kích, xây dựng căn cứ Ngũ Viễn - Vũ Lăng.


Ngày 11/11/1940, ông tham gia Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 7 cùng các ông Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phan Đăng Lưu…Hội nghị đã khẳng định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc của Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 6 là đúng đắn. Hội nghị chỉ rõ kẻ thù chính của cách mạng Việt Nam lúc này là phát xít Nhật. Quyết định phát triển ảnh hưởng của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ.



Tháng 5 năm 1941, ông là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Đến tháng 7-1941, ông được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Cuối năm đó, ông bị mật thám bắt và bị kết án 20 năm tù khổ sai.


Năm 1942, bị giam trong Hỏa Lò - Hà Nội, ông vẫn hoạt động chống chế độ hà khắc của nhà tù đế quốc nên cuối năm đó bị chuyên lên nhà tù Sơn La. Tại đây, ông đã hoạt động trong tổ chức bí mật của Đảng trong nhà lao, tham gia tổ chức huấn luyện chính trị và quân sự cho anh em chính trị phạm.


Giữa năm 1943, cùng các ông Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Văn Trân, Lưu Đức Hiểu vượt ngục, trốn khỏi nhà tù Sơn La, trở về miền xuôi và hoạt động trong Ban Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ.


Cuối năm 1943, ông lại bị bắt lần thứ hai, bị giam trở lại ở nhà tù Hà Nội. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), ông vượt ngục Hỏa Lò trở về tiếp tục hoạt động, chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Đây là một cuộc vượt ngục có quy mô lớn gồm khoảng 100 tù chính trị trong đó có ông và các ông Đỗ Mười, Trần Tử Bình.


Ông được cử vào Ủy ban Quân sự cách mạng Bắc Kỳ tháng 3 năm 1945 phụ trách Chiến khu Hoàng Hoa Thám, và tháng 8-1945 được cử vào Bộ Tư lệnh Việt Nam giải phóng quân, tham gia Ủy ban Tổng khởi nghĩa và Đại hội quốc dân Tân Trào.


Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông được phân công cùng ông Võ Nguyên Giáp chỉ huy quân giải phóng, tiến đánh tỉnh lỵ Thái Nguyên và lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa ở Thái Nguyên, sau đó bảo vệ chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội.


Sau cách mạng tháng tám, ông được cử làm Đặc phái viên của Ban chấp hành Trung ương Đảng vào công tác ở Nam Bộ và Trung Bộ nhằm kiểm tra việc thực hiện chủ trương chính sách.


Giữa năm 1946, ông được cử lên công tác tại Phú Thọ. Tại đây ông bị Quốc dân đảng bắt giam và định thủ tiêu nhưng ông thoát được.


Ngày 20/11/1946, quân Pháp ngang nhiên nổ súng đánh chiếm Hải Phòng. Ông cùng với ông Nguyễn Lương Bằng được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ bí mật ở lại xây dựng căn cứ địa Việt Bắc, lấy các huyện Đại Từ, Định Hoá, Phú Lương (Thái Nguyên), Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hoá (Tuyên Quang), Chợ Mới, Chợ Đồn (Bắc Cạn) làm địa bàn chính…Đồng thời, bố trí địa điểm làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương, Chính phủ ở nhiều địa phương trong tỉnh Hà Tây.


Năm 1947, ông được cử giữ chức vụ Trưởng ban kiểm tra Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam kiêm Phó Tổng thanh tra chính phủ. Ông đã xây dựng nền móng tổ chức cho 2 cơ quan, đặc biệt chú trọng bồi dưỡng về mặt quan điểm, tư tưởng, phương pháp kiểm tra và thanh tra cho cán bộ, trực tiếp chỉ đạo các đoàn kiểm tra, thanh tra phát hiện được những vấn đề cấp thiết, đóng góp vào sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ.


Đầu năm 1950, ông đi cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Trung Quốc thiết đặt quan hệ ngoại giao và yêu cầu các nước bạn chi viện.


Giữa năm 1950, ông được cử làm Đặc phái viên Chính phủ phụ trách sửa chữa cầu đường và huy động nhân lực, vật lực phục vụ kháng chiến, tiếp sau đó được cử làm Phó bí thư Tổng Quân ủy - cơ quan của Đảng trực tiếp lãnh đạo quân đội và được bổ nhiệm giữ chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục cung cấp (sau là Tổng cục Hậu cần), Ủy viên Tổng quân ủy (1950 - 1955), kiêm Trưởng ban Cung cấp Chiến dịch Biên giới (1950). Ông cũng là người xây dựng nền móng cơ bản cho hậu cần Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

“Vẻ vang thay: Người con lỗi lạc của quê cha, kẻ sĩ kiên cường, vì nước tổ, tuổi hai chục, lên đường chiến đấu. Lội suối băng ngàn, năm ba mươi, theo Đảng xông pha: Vào sinh ra tử. Súng Bắc Sơn từng rực lửa non xanh. Cờ Tháng Tám thuở ngang trời ráng đỏ. Bền gan vững chí: Kháng chiến trường kỳ, đánh giặc nuôi quân: Chẳng nề gian khổ. Nhân dân oan ức: Trả lại công bằng. Cán bộ quan liêu: Thực thi dân chủ. Tham gia tiền tuyến: Tướng sỹ tin yêu. Phụ trách hậu cần, quân lương no đủ. Điện Biên đại thắng: Chiến tích huy hoàng. Tổ quốc khải hoàn: Công huân rạng rỡ.

Chúng tôi nay:

Nghĩa nặng quê hương, lòng thành ngưỡng mộ. Cùng nhân dân học tập người xưa, giúp con cháu noi theo gương cũ, xây nhà thờ mãi mãi khói hương, dựng bia đá đời đời tưởng nhớ.” (Giáo sư Vũ Khiêu)

Đây là những tình cảm của Giáo sư Vũ Khiêu dành cho ông, được ghi trên văn bia nhà lưu niệm ông tại quê hương. Nhà lưu niệm ông đã được nhà nước trao tặng Bằng di tích lịch sử. Hiện nay ở tỉnh Hà Tây có 2 ngôi trường mang tên ông.

Bài viết: Theo Báo Hà Tây

huy thanh
28-06-2009, 10:18 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Vuong-Thua-Vu.jpg

Trung tướng Vương Thừa Vũ (24/12/1910-1980), nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, nguyên Giám đốc Học viện Quân chính. Ông là Chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội mùa Đông 1946 và cũng là Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam-Đại đoàn Quân tiên phong (F308). Tên ông được đặt tên cho một đường phố tại Hà Nội-Phố Vương Thừa Vũ.


Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất…


Trung tướng Vương Thừa Vũ, tên thật là Nguyễn Văn Đồi, quê ở xã Vĩnh Quỳnh huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội.


Năm 1937, ông học ở Trường Quân sự Hoàng Phố, Trung Quốc. Cuối năm 1941, ông về nước và bị thực dân Pháp bắt giam tại Bá Vân Thái Nguyên.


Trong thời gian bị tù đầy, ông giác ngộ và bắt đầu những hoạt động cách mạng. Ông tham gia công tác binh vận và huấn luyện quân sự trong nhà tù thực dân.


Năm 1943, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 3 năm 1945, ông tham gia bạo động giành chính quyền tại Nghĩa Lộ nhưng không thành. Ông trốn thoát khỏi nhà tù Nghĩa Lộ và lạc vào một bản người dân tộc. Tưởng ông là người làm việc cho Pháp họ định đem xử bắn ông. Nhưng nhờ ông biết tiếng dân tộc giải thích cho họ hiểu. Khi họ hỏi mày họ gì ông khai là họ Vương, từ đó ông lấy tên là Vương Thừa Vũ và cái tên này gắn liền với ông suốt cuộc đời. Sau đó, ông về Bắc Ninh gây dựng cơ sở cách mạng và tham gia huấn luyện quân sự ở chiến khu 2.


Cách mạng tháng 8 thành công, ông được giao nhiệm vụ tổ chức và chỉ huy Bảo an binh Hà Nội rồi khu trưởng khu XI Hà Nội.


Năm 1946n Trường võ bị Trần Quốc Tuấn mở khóa 1, ông là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn học viên tham gia giảng dạy.


Toàn quốc kháng chiến tháng 12 năm 1946, ông được giao nhiệm vụ Chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội nhằm kìm chân quân Pháp tạo điều kiện cho Trung ương rút lui về an toàn khu và đồng bào đi tản cư an toàn. Chính ông là người đề xuất việc chia khu vực tác chiến đồng thời căn cứ vào địa hình, đặc điểm đường phố của Hà Nội, ông đề xuất chiến thuật ‘’độc trùng chiến’’ hay ‘’thuật cang chiến’’. Do vậy, quân và dân Hà Nội thay vì giữ được thành phố 1 tháng mà 2 tháng làm thất bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của quân Pháp.


Trong thời gian từ năm 1947 đến năm 1948, ông giữ chức vụ Khu phó Khu 4 rồi Phân khu trưởng Phân khu Bình Trị Thiên.


Ngày 28/8/1949, Đại đoàn Quân tiên phong-Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, được thành lập tại Phố Đu, Thái Nguyên. Ông được giao nhiệm vụ tổ chức đồng thời là Đại đoàn trưởng đầu tiên rồi trong thời gian đầu tiên thành lập từ năm 1949 đến năm 1951, ông kiêm luôn vai trò Chính ủy Đại đòan.


Ông là chỉ huy các chiến dịch: Sông Lô (5.1949), Đường số 4 (10.1949). Đồng thời trên cương vị Đại đoàn trưởng Đại đoàn quân tiên phong, ông chỉ huy Đại đoàn tham gia các chiến dịch: Biên giới (10.1950), Trung du (12.1950), Đông Bắc (2.1951), Hà Nam Ninh (5.1951), Hoà Bình (10.1951), Tây Bắc (10.1952). Chỉ huy tiến công Bắc Giang, Phả Lại (7.1954).


Trong chiến dịch Điện Biên Phủ từ 12 tháng 3 đến 7 tháng 5 năm 1954, khi bộ đội Việt Nam chuyển từ ‘’đánh nhanh thắng nhanh’’ sang ‘’đánh chắc thắng chắc’’, ông được Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp giao cho nhiệm vụ chỉ huy Đại đoàn tiến sang Lào phối hợp với Bộ đội Pa-thét Lào đánh Pháp đồng thời bít đường tháo chạy của quân Pháp sang Lào.


Sau 9 năm kháng chiến trường kì gian khổ, Đại đoàn của ông được Trung ương và Quân ủy giao cho nhiệm vụ trở về tiếp quản Thủ đô. Chính ông, ở cầu Long Biên, thay mặt Quân đội Việt Nam nhận sự bàn giao Hà Nội của quân đội Pháp.


Ngày 10/10 năm 1945, ông, trên cương vị Chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội chỉ huy bộ đội Việt Nam tiến vào tiếp quản Thủ đô và lễ chào cờ tại Sân vận động Cột Cờ Hà Nội cùng bác sĩ Trần Duy Hưng.


Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông được giao nhiệm vụ chỉ huy chiến đấu và huấn luyện chiến đấu.


Từ năm 1955 đến năm 1963, ông là Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn.


Từ năm 1964 đến năm 1980, ông là Phó Tổng tham mưu trưởng kiêm giám đốc Học viện Quân chính phụ trách huấn luyện bộ đội.


Từ năm 1964 đến năm 1971, đây là thời kì ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ông được cử vào kiêm chức Tư lệnh Quân khu 4. Đây cũng là thời kì địa bàn Quân khu 4 bị bắn phá ác liệt nhất bằng đường không và đường biển nhằm ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam. Ông được quân và dân khu 4 hết sức yêu quý và gọi trìu mến là ‘’ông Cụ’’.


Trung tướng Vương Thừa Vũ là một vị tướng võ theo đúng nghĩa của nó. Ông rất giỏi võ và đặc biệt là võ Tàu. Trong lễ thành lập Đại đoàn Quân tiên phong, ông đã làm bất ngờ những người có mặt bằng một động tác chào kiếm tuyệt vời.


Ông thuộc típ người ít nói và không có năng khiếu nói-chẳng thế mà khi ông được giao nhiệm vụ đọc một bài phát biểu tại một buổi lễ tại Việt Bắc, ông đã bị Bác Hồ ‘’chỉnh’’, một người được mệnh danh là con hùm xám một người hết sức nghiêm khắc. Ông được cán bộ và chiến sĩ hết sức yêu quý nhưng không phải là không sợ.


Tướng Vương Thừa Vũ là một nhà chiến thuật và tổng kết chiến thuật xuất sắc. Chính ông là người đã sáng tạo ra cách đánh hợp lí trong mùa Đông 46 tại Hà Nội đồng thời cũng là người đã tổng kết nghệ thuật quân sự trong chiến dịch Điện Biên Phủ bằng câu ‘’Vây, Lấn, Tấn, Phá, Triệt, Diệt’’. Ông còn là một người hết sức hâm mộ bóng đá. Trong thời gian ông giữ chức vụ Phó tổng tham mưu trưởng phụ trách huấn luyện, ông thường xuyên xem đội Thế công đá và chỉ đạo đội. Ông có một số tổng kết chiến thuật bóng đá rất thú vị thể hiện dưới hình thức thơ và vè. Ví du :


Về chiến thuật của các cầu thủ ta khi thi đấu với các đối thủ quốc tế cao và to hơn : “Đối tượng cao, to, khoẻ. Ta lấy ngắn trị dài. Ta lấy thấp trị cao. Thấp, ngắn, nhanh, mạnh, chuẩn. Khéo luồn lách thọc sâu”


“Về mặt chiến thuật; điều quan trọng nhất. Hiểu bạn ra sao. Nắm ta thế nào? Sở trường, sở đoản”. Sau đó: “Đội hình dàn ra. Chỉ là cơ bản. Bóng lăn người chuyển. Biến hoá khôn lường. Đánh lừa đối phương. Không sao hiểu nổi”. Khi tổ chức tấn công thì: “Mở rộng hai biên. Xuyên hông luồn nách. Đưa xuống sát vạch. Gần phía khung thành. Bật lên thật nhanh… chớ chuyền loanh quanh. Thời cơ mất hết. Ý ta bạn biết. Sẽ cụm về đông. Ta phá “bê tông”. Càng thêm vất vả”. Có lúc thì: “Phải dùng nhiều người. Làm chủ giữa bãi. Bật tường thẳng lối. Trung lộ tiến quân”. Cũng có lúc: “Hoặc dùng nghi binh. Hút về một hướng. Phía kia lởn vởn. Bất ngờ lao lên. Đón bóng nhanh chân. Sút ngay giành thắng”. Về nguyên tắc chung thì: “Tất cả cách đánh. Đều phải tập trung. Trên hướng tấn công. Xác định chủ yếu”.

Tấn công phải chú ý đến phòng thủ: “Chớ mải tấn công. Mà quên chốt giữ. Phía sau sơ hở. Sẽ dễ bị thua. Chốt giữ của ta. Hình thành tam giác. Nhiều tầng nhiều lớp. Có chiều sâu. Đừng ỷ lại nhau. Chớ lùi quá bước. Có người phía trước. Cản phá kiên cường. Người lót sau lưng. Sẵn sàng hỗ trợ”. Trên sân phải đề cao kỷ luật: “Trên sân thi đấu. Phải có chỉ huy. Lên, xuống, đứng, đi. Nhịp nhàng, đúng hướng. Điều khiển binh tướng. Chặt chẽ vững vàng. Đấu pháp đã bàn. Đồng tâm thực hiện”.

Về phẩm chất, ông viết: “Cầu thủ bóng đá. Phải thật đàng hoàng. Luyện tập thường xuyên. Mới thành tài giỏi. Giữ đạo đức mới. Đẹp mắt, đẹp lòng. Khán giả ước mong. Nhân dân mong đợi”…

Trung tướng Vương Thừa Vũ có 2 người con là sĩ quan Quân đội đã hy sinh là Vương Thiết Căng là sĩ quan pháo binh hy sinh năm 1972 tại Quảng Trị và Vương Thiết Bình là sĩ quan không quân hy sinh năm 1992 khi đang làm công tác huấn luyện. Vợ của ông, bà Lê Thị Hậu ( ?), đã được Chủ tịch nước kí quyết định phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng và được chính quyền Hà Nội xây tặng một căn nhà tình nghĩa.

Bài viết : Theo Từ điển Quân sự Việt Nam

huy thanh
28-06-2009, 10:21 PM
http://img526.imageshack.us/img526/8118/thieutuonghoangsamex2.jpg

Thiếu tướng Hoàng Sâm (1915-1968), Liệt sĩ-Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, nguyên Khu trưởng Khu II, nguyên Chỉ huy trưởng Mặt trận Tây Tiến, nguyên Khu trưởng Liên khu III, nguyên Tư lệnh các Quân khu Ba, nguyên Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, nguyên Tư lệnh Quân khu Trị Thiên Huế. Ông là Đội trưởng Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Tên ông được đặt tên cho một đường phố tại Hà Nội.


Thiếu tướng năm 1948, trong đợt phong tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.


Ngoài ra, Thiếu tướng Hoàng Sâm còn là Đại biểu Quốc hội khóa 2 và 3.


Huân chương Hồ Chí Minh (truy tặng 1999), Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất…


Thiếu tướng Hoàng Sâm, tên thật là Trần Văn Kì, sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Lê Lợi, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Năm 1927, khi mới 12 tuổi, ông đã rời quê hương sang sinh sống tại Thái Lan.


Năm 1928-1929, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với bí danh là Thầu Chín sang hoạt động cách mạng ở Thái Lan, ông được chọn làm liên lạc trong suốt thời gian này.


Năm 1933, ông được kết nạp vào Đoàn thanh niên cộng sản, sau đó được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương.


Năm 1934, ông bị mật thám Thái Lan bắt và giao cho lãnh sự Pháp ở Băng Cốc tra tấn, hỏi cung. Sau gần một năm giam giữ vì không có chứng cớ cụ thể, ông được thả và bị trục xuất ngay sau đó.


Rời Thái Lan, ông sang Quảng Tây, Trung Quốc, gặp ông Phùng Chí Kiên, tham gia “Điền kiểm quế biên khu du kích đội”- một tổ chức kháng Nhật của Đảng cộng sản Trung Quốc hoạt động ở 3 tỉnh biên giới Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu.


Từ năm 1937 đến năm 1939, ông là Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Cao Bằng, thường trực tỉnh ủy phụ trách cơ quan in ấn và công tác giao thông liên lạc ở biên giới Việt-Trung.


Giữa năm 1940, ông học quân sự ở Trường Trương Bội Công, được gặp Thầu Chín (Nguyễn Ái Quốc) và được đặt cho bí danh là Hoàng Sâm. Sau đó ông cùng 40 cán bộ ở Cao Bằng từ bỏ Trường Trương Bội Công trở về nước hoạt động.


Cuối năm 1940, ông được dự lớp huấn luyện cán bộ về công tác tổ chức các đoàn thể quần chúng nhằm chuẩn bị thành lập mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi, lớp học này do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng các ông Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Vũ Anh trực tiếp giảng dạy.


Ngày 28/01/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Trung Quốc về Pác Bó-Cao Bằng và triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 tại Khuổi Nặm (5/1941). Ông được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ tổ chức đường dây qua Lạng Sơn để đón đại biểu về dự hội nghị quan trọng này.


Cuối năm 1941, với bí danh là Trần Sơn Hùng, ông làm đội phó đội vũ trang Cao Bằng tham gia diệt phỉ tạo điều kiện cho các hội cứu quốc quân ở vùng Lục Khu (Hà Quảng) phát triển.


Tháng 7/1943, ông được giao nhiệm vụ tổ chức, bảo vệ các tổ xung phong Nam Tiến. Chỉ huy đội vũ trang “Hộ lương, diệt ác” trừng trị Việt gian phản động và các nhóm quân Pháp đang gây tội ác ở Nguyên Bình, Ngân Sơn, Chợ rã.


Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, ông được lãnh tụ Hồ Chí Minh chọn làm Đội trưởng, trực tiếp chỉ huy các trận đánh Phai Khắt (25/12/1944), Nà Ngần (26/12/1944), Đồng Mu và Nà Ngần lần thứ hai.


Sau ngày Nhật đảo chính Pháp(9/3/1945), Hoàng Sâm chỉ huy giải phóng các châu Ngân Sơn, Chợ rã, phía bắc Bạch Thông, giải tán bộ máy tổng lý, cường hào. Cuối tháng 3/1945, Hoàng Sâm cùng với ông Đàm Quang Trung chỉ huy các đơn vị đánh Nhật ở Phủ Thông, thành lập chính quyền nhân dân cấp xã ở đây.


Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, ông chỉ huy đánh Nhật ở Bắc Kan, Thái Nguyên bảo vệ khu giải phóng Cao, Bắc, Lạng, Thái, Hà, Tuyên. Sau trận đánh Thái Nguyên ông đưa đơn vị về Vĩnh Yên tiêu diệt lực lượng Quốc dân Đảng phản động Đỗ Đình Đạo…



Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông làm Chỉ huy trưởng mặt trận Tây Tiến, khu trưởng chiến khu II, chiến khu III. Năm 1948, Hoàng Sâm được phong quân hàm thiếu tướng, sau là đại biểu quốc hội các khoá II và III. Năm 1951-1953, ông là phái viên của Bộ Tổng tham mưu tham gia chiến dịch với các đại đoàn 312, 304. Sau làm Đại đoàn trưởng 304, Chỉ huy trưởng mặt trận Trung-Lào. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông chỉ huy tiếp quản Sơn Tây, Hà Đông, Đại đoàn trưởng Đại đoàn 320 chỉ huy tiếp quản Hải Phòng. Cuối năm 1955, ông làm Tư lệnh quân khu Tả Ngạn, sau đó làm Tư lệnh quân khu Hữu Ngạn, Tư lệnh quân khu III.


Năm 1962, Thiếu tướng Hoàng Sâm làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào với bí danh Chăn Di…Về nước ông được cử làm Tư lệnh quân khu Trị Thiên Huế. Tháng 12/1968, Thiếu tướng Hoàng Sâm đã hy sinh anh dũng tại chiến trường Bình Trị Thiên. Ông ra đi ở tuổi 53, Hoàng Sâm là tướng tài bà, người học trò được chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy và quý trọng.


Thiếu tướng Hoàng Sâm là một người gan dạ, dũng cảm, tài ba, có biệt tài phí ngựa không cần yên cương, bắn súng ngắn cả hai tay. Cùng với thiếu tướng Lê Quảng Ba, ông đã làm cho các trùm phỉ khét tiếng như Voòng A Sáng, Voòng An Sính, Lý Xìu…đều phải kiêng nể. Các trùm phỉ ở đây thường gọi ông một cách kính trọng là ‘’Cán bộ Trần’’ và tướng Lê Quảng Ba là ‘’Cán bộ Lê’’. Có rất nhiều giai thoại được lưu truyền ở đây ví dụ việc ông cùng với tướng Lê Quảng Ba vào tận sào huyệt của Lý Xìu thi bắn súng, uống rượu, cưỡi ngựa, ném lừu đạn…Chính vì vậy mà uy tín của ông với đông đảo đồng bào dân tộc ở đây rất lớn, đó là một trong những lí do để sau ngày toàn quốc kháng chiến ông được cử chỉ huy bộ đội Tây Tiến lập nhiều chiến công vẫn còn in đậm trong tiềm thức của người dân Tây Bắc.


Bài viết: Theo cổng thông tin điện tử tỉnh Cao Bằng

huy thanh
28-06-2009, 10:23 PM
http://img526.imageshack.us/img526/3489/dodocgiapvancuonguj4.jpg

Thượng tướng - Đô đốc Giáp Văn Cương (1921-1990), nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng, nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất…

Ông được phong Đô đốc Hải quân năm 1988, và là người mang cấp bậc này duy nhất (cho đến thời điểm hiện nay) trong Quân đội Nhân dân Việt Nam.Đô đốc Giáp Văn Cương quê ở xã Bảo Đài, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang cùng quê với Trung tướng Lư Giang nguyên Tư lệnh Quân khu Thủ đô.

Trước cách mạng tháng 8, ông là công chức của ngành hỏa xa Đông Dương và làm đến chức Trưởng ga Diêu Trì, một ga lớn của miền Trung thuộc tỉnh Bình Định.

Ngày Nhật đảo chính Pháp, ông được nhóm trí thức yêu nước Nguyễn Minh Vĩ giác ngộ. Ông bắt đầu cuộc đời cách mạng từ đây.

Ngày 13/8/1945, nghe tin phát-xít Nhật đầu hàng đồng minh. Tại ga Diêu Trì, Ủy ban vận động Việt Minh họp và quyết định thành lập Ủy ban khởi nghĩa gồm các ông Võ Xán, Lê Văn Nhiều, Nguyễn Chơn (sau này là Thượng tướng) và ông do ông Võ Xán làm trưởng ban.

Ngày 20/8/1945, ông cùng với ông Lê Văn Nhiễu là hai thành viên của Ủy ban khởi nghĩa của Ủy ban vận động Việt Minh đi gặp ông Trần Lung là Ủy viên của Uỷ ban khởi nghĩa của Ủy ban vận động cứu quốc tỉnh để bàn kế hoạch thống nhất hành động. Tuy nhiên do những nhận định và chủ trương khác nhau cho nên kế hoạch thống nhất không thành.

Sau khi cuộc thảo luận với Ủy ban Vận động Cứu quốc tỉnh không đạt được kết quả, Ủy ban Vận động Việt Minh quyết định tổ chức cuộc mít tinh tại bến ô tô thành phố vào chiều ngày 21.8.1945, vừa để thăm dò phản ứng của quân Nhật và chính quyền tay sai địa phương, vừa để phát động, tập dượt quần chúng và rút kinh nghiệm cho cuộc khởi nghĩa sắp tới. Cuộc mít tinh đã huy động được 1.000 quần chúng tham gia. Quân Nhật và chính quyền tay sai hoàn toàn không có một phản ứng nào đối với cuộc biểu dương lực lượng này.

Tối ngày 21.8.1945, Ủy ban Khởi nghĩa khẩn trương họp tại ga Quy Nhơn. Hội nghị quyết định: Thời điểm khởi nghĩa vào ngày 23.8.1945, lực lượng khởi nghĩa là các tầng lớp nhân dân yêu nước thành phố Quy Nhơn cũng như lực lượng công nhân xưởng Delignon, ga Diêu Trì, Bình Định và nông dân các huyện.

Sáng ngày 23.8.1945, hàng ngàn công nhân, nhân dân lao động thành phố giương cao cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu, biểu ngữ rầm rộ tiến về sân ga Quy Nhơn. Công nhân Delignon và các ga Bình Định, Diêu Trì, Mục Thịnh (Vân Canh) cùng thanh niên học sinh, nhân dân thị trấn Bình Định và nông dân các làng xã mang theo giáo mác, gậy gộc, cờ đỏ sao vàng phấn khởi kéo về Quy Nhơn. Trước hơn 10.000 quần chúng, đại diện của Ủy ban Khởi nghĩa đứng lên hiệu triệu quần chúng vùng lên khởi nghĩa lật đổ chính quyền tay sai của Nhật tại thành phố Quy Nhơn, thiết lập chính quyền nhân dân.


Cách mạng tháng 8 thành công, với những hiểu biết của mình về cơ khí, ông được khuyên đi học ở một trường kĩ nghệ để sau này phục vụ cho ngành quân giới còn non trẻ đang có nhu cầu cao về chế tạo và cải tiến vũ khí. Là Ủy viên Quân sự tỉnh Bình Định, ông được giao phụ trách Công binh xưởng Hoàng Hoa Thám.


Năm 1946, ông Nguyễn Chánh (xem bài viết Tướng Nguyễn Chánh, hồn nghệ sĩ trong vị tướng chiến lược), khi đó là Ủy viên trưởng quân sự của Ủy ban hành chính kháng chiến Trung Bộ khi về các tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng, Bình Định, Quảng Ngãi đã phát hiện ra khả năng quân sự của ông và quyết định điều ông từ quân giới sang Vệ quốc quân.


Ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 19-Ba Tơ, thuộc Trung đoàn 108-Trung đoàn chủ lực của Liên khu 5. Tháng 10/1946, khi quan hệ với quân Pháp vào thay thế quân Tưởng trở lên căng thẳng, tiểu đoàn của ông đã kịp thời có mặt tại Đà Nẵng bổ sung cho Trung đoàn 96.


Sáng ngày 20/12/1946, quân Pháp nổ sung tiến công Đà Nẵng. Tiểu đoàn 19 cùng các tiểu đoàn 17 và 18 của Trung đòan 96 cùng với quân và dân Đà Nẵng chiến đấu ngoan cường, kìm chân quân Pháp không cho quân Pháp phát triển nhanh ra các vùng lân cận.


Ngày 19/5/1947, nhân kỉ niệm 57 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu đoàn của ông được giao nhiệm vụ đánh địch trên đèo Hải Vân. Kết quả trận đánh, tiểu đoàn bắn cháy và phá hủy 7 xe cơ giới trở quân từ Huế vào Đà Nẵng thu nhiều vũ khí, diệt 113 lính Âu Phi trong đó có viên Đại tá Rô-gơ chỉ huy phân khu Đà Nẵng, 4 đại úy, 3 Trung úy, 5 thiếu úy. Đây là chiến thắng lớn nhất năm 1947 trên chiến trường Liên khu 5 và cũng là chiến công vẻ vang của Quân đội Nhân dân Việt Nam thời kì đó. Do thành tích chỉ huy trận đánh, ông được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì.


Mấy năm sau ông là Trung đoàn trưởng rồi tháng 11 năm 1954 là Phó tham mưu trưởng Liên khu 5.


Sau khi tập kết ra Bắc, tháng 10 năm 1955, ông là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 324.


Năm 1963, ông trở lại chiến trường khu 5 làm phái viên của Bộ tư lệnh Quân khu trong nhiều trận đánh.


Năm 1964, Sư đoàn Sao Vàng được thành lập, ông được cử giữ chức Sư đoàn trưởng đầu tiên với cái tên mới ‘’thủ trưởng Trực’’. Từ đó cho đến năm 1967, ông còn giữ them chức vụ Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2- là sư đoàn hoạt động ở Quảng Ngãi.


Từ năm 1968 đến năm 1970, sau Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân, Thường vụ Đặc khu ủy đã họp và đề ra nhiệm vụ sắp tới phải ra sức chỉnh đốn lại lực lượng, tăng cường chỉ đạo, tiếp tục phát động tư tưởng quần chúng, chuẩn bị tấn công những đợt tiếp theo. Ông được Khu ủy Khu 5 bổ sung và là Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng mặt trận Quảng Đà.


Tháng 10 năm 1970, ông được điều ra giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân khu 4.


Tháng 4 năm 1974, ông ra Bắc giữ chức vụ Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ngày 26/3/1975, Bộ Tổng Tư lệnh cử ông làm phái viên của Bộ vào để chỉ đạo công tác chuẩn bị tiến công Đà Nẵng.

Đất nước thống nhất, tháng 5 năm 1976, ông được điều vào giữ chức Tư lệnh Quân khu 4.

Trong các năm 1977 đến 1980 rồi 1984 đến 1990, ông là Tư lệnh Quân chủng Hải quân.

Như vậy từ một viên chức hỏa xa trong chế độ cũ, sau hơn 30 năm tôi luyện và trưởng thành trong quân đội và chiến tranh giải phóng dân tộc, ông đã trở thành Đô đốc Hải quân-một tài năng quân sự của Quân đội Nhân dân Việt Nam mà không hề trải qua trường lớp huấn luyện nào.

Bài viết: Theo Báo Quân đội Nhân dân online (phiên bản cũ)

huy thanh
28-06-2009, 10:25 PM
http://img526.imageshack.us/img526/4952/thieutuongbuicatvuov5.jpg

Thiếu tướng Bùi Cát Vũ (1924), Tiến sĩ khoa học quân sự chuyên ngành pháo binh, nguyên Chỉ huy trưởng pháo binh kiêm Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, nguyên Phó Tư lệnh Quân đoàn 4, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 7.

Ngoài ra ông cũng từng giữ các chức vụ Tỉnh đội phó Tỉnh đội Biên Hòa, Giám đốc Công binh xưởng Quân khu 7, Chủ nhiệm Khoa pháo binh Học viện lục quân 1.

Thiếu tướng Bùi Cát Vũ (tên thật là Bùi Văn Bê, ông còn có các biệt danh ‘’Trùm đại bác Đông Dương’’ hay ‘’Võ Tòng chiến khu Đ’’) sinh tại xã Hưng Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, trong một gia đình nông dân nghèo, đông con. Tuy vậy, Bùi Cát Vũ rất hiếu học, ông thi tiểu học đậu đầu tỉnh và được học bổng. Khi thi vào trường trung học Mỹ Tho lại được học bổng toàn phần. Nhưng do nhà quá nghèo nên ông phải bỏ lên Sài Gòn để tìm phương kế sinh nhai phụ giúp mẹ nuôi em. Ông làm nhiều nghề: phụ hồ, bán báo rồi chuyển sang làm báo. Chính trong giai đoạn tập tành viết báo dưới sự dẫn dắt của Nguyễn Văn Nguyễn, Trần Thanh Mai…

Cuối năm 1938, ở tuổi 14, ông được nhận vào giữ chân chạy việc cho báo Dân Chúng. Lúc đầu, ông vác báo từ nhà in về xếp lại, rồi mang đi giao cho các mối bán lẻ. Dần dần thấy ông chăm chỉ, nhanh lẹ, tháo vát và chữ nghĩa cũng kha khá, lãnh đạo cơ quan báo giao cho công việc “thầy cò” (sửa chính tả bản in). Cái tên “Cò Bê” có từ dạo đó.

Thấy mấy chú, mấy anh làm báo cực mà vui, ông thử viết về chính cuộc sống lang thang của mình và đám bạn bè cùng cảnh ngộ trước đây. Không ngờ chính từ thiên phóng sự “Sau ánh đèn điện Sài Gòn” ấy, ông gắn cuộc đời mình vào nghiệp báo, nghiệp văn. Càng không ngờ, chính từ thiên phóng sự ấy, ông chính thức trở thành người hoạt động cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng (Dân Chúng là cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng cộng sản Việt Nam).

Tháng 9-1939, Thế chiến thứ II nổ ra, thực dân Pháp đặt cộng sản và các hoạt động yêu nước ra ngoài vòng pháp luật. Tờ Dân Chúng ngưng xuất bản, rút vào hoạt động bí mật. Một số cây bút tiêu biểu của Dân Chúng bị thực dân Pháp bắt, ra tòa. ông – ở tuổi 15 – “vinh dự” trở thành “đồng phạm” của các tên tuổi lẫy lừng đương thời như các nhà cách mạng Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn An Ninh... Nhờ sự bào chữa miễn phí nhiệt thành của Luật sư Trịnh Đình Thảo, thực dân Pháp buộc phải tha bổng ông, do còn “ở tuổi vị thành niên, chưa lập thành tội phạm”.

Ra tù, trở về quê hương, ông được Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh Dương Quang Đông trực tiếp tìm đến bắt liên lạc, theo sự giới thiệu của Xứ ủy Nam kỳ. Ông hoạt động trong phong trào Thanh niên Tiền phong, tham gia giành chính quyền trong cuộc khởi nghĩa tháng 8-1945 tại Trà Vinh và trở thành cán bộ chỉ huy quân sự tại mặt trận vàm Trà Vinh trên cương vị Giám đốc Vệ binh cộng hòa (12-12-1945) khi thực dân Pháp nổ súng tái chiếm vùng đất này.

Sau đó, theo yêu cầu của Xứ ủy, ông lên đường “Xuyên Đông” lên chiến khu Đ bắt liên lạc với bộ đội Huỳnh Văn Nghệ tham gia xây dựng lực lượng vũ trang kháng Pháp, với cương vị Tỉnh đội phó Biên Hòa, rồi Giám đốc Công binh xưởng Khu 7. Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, ông đã sát cánh cùng với ông Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy những trận đánh nổi tiếng, khiến cho quân Pháp phải khiếp sợ ví dụ trận La Ngà lịch sử, trận Bàu Cá...

Trận La Ngà, đây là trận chiến đấu phục kích giao thông tại La Ngà, huyện Định Quán, Đồng Nai, tây nam Đà Lạt 200 km (trên đường Thành phố Hồ Chí Minh - Đà Lạt). Chi đội 10 Vệ quốc đoàn Biên Hoà và lực lượng vũ trang địa phương phục kích đoàn xe quân sự 70 chiếc chở nhiều sĩ quan cao cấp và yếu nhân chính trị Pháp, xuất phát từ Sài Gòn lên Đà Lạt, được máy bay hộ tống. Để cho đoàn xe Pháp lọt vào trận địa phục kích (dài khoảng 9 km), đúng giờ dự kiến (15 giờ ngày 1.3 là giờ bắt đầu có sương mù), bộ đội Việt Nam đã dùng lối tác chiến trì hoãn bằng các hoạt động phục kích, tập kích nhỏ, quấy rối, bắn tỉa, đánh mìn, vv. Sau gần 1 giờ chiến đấu, bộ đội Việt Nam đã diệt 59 xe, bắt sống gần 300 tên, diệt hàng trăm địch. Phía bộ đội Việt Nam, hi sinh 2, bị thương 2. Trận La Ngà đánh dấu sự trưởng thành trong tác chiến của bộ đội Nam Bộ; có ảnh hưởng chính trị và quân sự vang dội ở Đông Dương và Pháp. Chính sách nhân đạo đối với tù binh, hàng binh của bộ đội Việt Nam sau trận La Ngà đã góp phần quan trọng cảm hoá nhiều nhân vật trong chính giới Pháp và dư luận báo chí Pháp.

Năm 1947, ông gặp và kết hôn với bà Trần Thị An ngay tại Chiến khu Đ. Bà vốn là một tiểu thư học trường Pháp ở Sài Gòn khi đó, trốn gia đình lên chiến khu làm Y tá tham gia kháng chiến. Ba người con của ông đều sinh ra tại Chiến khu Đ.

Sau trận La Ngà, trên địa bàn Chiến khu Đ xuất hiện một con cọp ba móng, tinh quái và liều lĩnh. Chỉ trong vòng một thời gian ngắn nó đã ăn thịt mất khoảng 106 cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trong vùng khiến dư luận quân dân Chiến khu Đ khi đó rất hoang mang. Trước tình hình đó, ông được tư lệnh Trần Văn Lung giao cho trừ khử con cọp. Từ đó, ông mang biệt hiệu ‘’Võ Tòng chiến khu Đ’’.

Ông còn được coi là người khai sinh ra phương pháp đánh tháp canh của đặc công Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ bằng ba yếu tố : Nghiên cứu kỹ trận địa, sự chiến đấu gan dạ, yếu tố bất ngờ đối với địch.

Năm 1950, với quyết tâm cao nhằm đánh bại chiến thuật tháp canh Đờ La-Tua, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 giao cho Tỉnh đội Biên Hòa nghiên cứu cách đánh tháp canh. Ông, khi đó là tỉnh đội trưởng, đã cũng ông Trần Công An (sau này là Đại tá Anh hùng lực lượng vũ trang đặc công) phụ trách nghiên cứu cách đánh và tuyển chọn 300 du kích huẩn luyện suốt 3 tháng tại khu vực suối Đá một cách bí mật.

Đêm 21 rạng sáng 22 tháng 3 năm 1950, trên chiến trường Biên Hòa, các tổ du kích đồng loạt đánh vào 50 tháp canh dọc lộ 16, 15 và quốc lộ 1. Tường tháp canh bị thủng một lỗ với đường kính từ 0,6 mét đến 1,5 mét, song tháp canh không cái nào bị sập. Bọn lính giữ tháp ngủ trên sàn cao 7m đều bị chết; nhưng tên lính gác ở nóc tháp vẫn sống và dùng súng trường, lựu đạn đối phó với ta. Tình huống này không được dự kiến trước; các tổ du kích bất ngờ, lúng túng và kéo nhau về.

Tuy chưa giành được thắng lợi nhưng trận đánh đã gây một tác động mạnh đối với địch. Tướng Pháp Săng-xông phải đến Biên Hòa trấn an tinh thần quân ngụy. Sáng ngày 22 tháng 3 năm 1950, Sở thông tin quân đội Pháp đã ra thông báo thú nhận: “ đêm 21 rạng 22 tháng 3 du kích quân khởi cuộc tiến công thình lình các tháp canh dài theo các đường lộ ở Biên Hòa. Trên 30 tháp canh đồng bộ bị tấn công và nhiều chỗ bị tấn công mãnh liệt”

Sau trận chiến trên, Tỉnh đội phó Bùi Cát Vũ kiêm Giám đốc công binh xưởng Quân khu 7 được giao nhiệm vụ cùng ông Nguyễn Sỹ Hùng nghiên cứu chế tạo loại mìn đặc chủng ‘’mìn lõm’’ mìn FT-phá tường và Pêta. Đêm 18 tháng 4 năm 1950 do tổ du kích Tân Uyên dưới sự chỉ huy của ông Trần Công An và sự chỉ đạo của ông đã đột nhập và đánh sập tường tháp canh mẹ tại cầu Bà Kiên lần thứ hai nằm trên đường 16, ta diệt 16 lính trong tháp canh và thu toàn bộ vũ khí, đạn dược. Trận diệt tháp canh cầu Bà Kiêm mở ra một phong trào diệt tháp canh khá rộng rãi. Từ Tân Uyên, phong trào lan ra Vĩnh Cửu, Long Thành, Xuân Lộc, Sông Bé và các tỉnh khác trong toàn khu.

Trong kháng chiến chống Pháp, ông còn là người sáng lập và là ngòi bút chủ lực của các tờ báo Tiếng Rừng, Sứ Mệnh của Khu bộ 7. Đây là những tờ báo có mặt ngay tại chiến trường, kịp thời vận động, biểu dương quân dân, góp phần vào chiến thắng chung của “miền Đông gian lao mà anh dũng”.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, năm 1954, ông tập kết ra Bắc. Khi đi bộ đội ông mới là học sinh trường Bách Nghệ (hết cấp 2), những năm hòa bình đầu tiên trên miền Bắc ông tự học tiếng Trung Quốc, tiếng Nga, học hết cấp 3, rồi Đại học Tổng hợp Tóan.

Để chuẩn bị cho sự nghiệp chống Mỹ giải phóng miền Nam, ông được cử sang Liên Xô học tập và ông đã bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ (bây giờ là Tiến sĩ) chuyên ngành Khoa học quân sự pháo binh. Nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu của ông đã được các tạp chí khoa học quân sự của các nước Xã hội Chủ nghĩa đăng tải và đánh giá cao.

Giữa năm 1964, chiến tranh cách mạng ở miền Nam phát triển tới đỉnh cao và giành được những thắng lợi to lớn. Ðể cứu vãn sự thất bại ở miền Nam, đế quốc Mỹ đã mở rộng chiến tranh, dùng không quân và hải quân ném bom, bắn phá miền Bắc. Tháng 9/1964, ông, khi đó là Trưởng khoa pháo binh Học viện lục quân 1, cùng một số cán bộ cấp phó trưởng khoa của trường được điều động vào Nam chi viện. Một đêm cuối tháng 9/1964, con tàu "Phương Ðông 2" của Bộ Tư lệnh Hải quân rời cảng Hải Phòng đưa các đồng chí ra biển Ðông, vượt trùng dương đổ bộ lên một địa điểm thuộc tỉnh Cà Mau.

Tại Bộ Tư lệnh Quân giải phóng, ông được cử làm Tư lệnh pháo binh miền, Tham mưu phó Bộ tham mưu. Các trung đoàn pháo binh miền Đông, miền Trung Trung bộ được thành lập, góp phần xứng đáng vào các chiến thắng Khe Sanh, Đường Chín Nam Lào... Đặc biệt, chiến thắng sân bay Biên Hòa của lực lượng pháo binh quân giải phóng dưới sự chỉ huy của ông đánh vào căn cứ hậu cần không quân Mỹ mùa hè 1972 đã khiến cho giới quân sự phương Tây hết sức nể vì. Từ đó, ông còn có biệt danh khác là ‘’Trùm đại bác Đông dương’’.

Khi Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long) được thành lập, Bùi Cát Vũ là Phó Tư lệnh. Trên cương vị Phó Tư lệnh Quân đoàn, ông là một trong những vị chỉ huy có mặt tại Dinh Độc lập trưa ngày 30/4/1975.

Sau giải phóng, Bùi Cát Vũ được phong hàm Thiếu tướng, giữ nhiệm vụ Phó Tư lệnh Quân khu 7, trực tiếp phụ trách Mặt trận 479 và 779 khi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra. Trên cương vị đó, ông là một trong những tướng lĩnh đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam có mặt tại Phnom Penh ngay ngày 7-1-1979.

Trong lịch sử Quân đội Nhân dân Việt Nam có không ít những vị tướng đồng thời là nhà văn nhà thơ nổi tiếng. Riêng Nam Bộ, nếu như miền Đông có Huỳnh Văn Nghệ thì miền Tây lại có Bùi Cát Vũ. Cho đến bây giờ, ông là vị tướng chiến trường duy nhất của Việt Nam xin về hưu để…viết văn. Đối với ông, mỗi tác phẩm đến được với độc giả như một tấm huy chương công trạng.

Là nhà chỉ huy cao cấp trực tiếp cầm quân tại những điểm nóng nhất của chiến trường trong suốt 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, lại là nhà khoa học quân sự có nhiều đóng góp vào kho tàng lý luận và thực tiễn của ngành pháo binh Việt Nam nhưng không lúc nào tướng Bùi Cát Vũ rời tay bút. Trong kháng chiến chống Pháp, ông là người sáng lập và là ngòi bút chủ lực của các tờ báo Tiếng Rừng, Sứ Mệnh của Khu bộ 7. Đây là những tờ báo có mặt ngay tại chiến trường, kịp thời vận động, biểu dương quân dân, góp phần vào chiến thắng chung của “miền Đông gian lao mà anh dũng”.

Sau ngày tập kết ra Bắc, sang Liên Xô học rồi trở về miền Nam chiến đấu, Bùi Cát Vũ vẫn đều đặn gởi bài cộng tác với tạp chí Khoa Học Quân Sự, báo Quân Đội Nhân Dân, báo Quân Giải Phóng... Nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết của ông đã được các tạp chí chuyên ngành khoa học quân sự các nước xã hội chủ nghĩa đăng tải và được giới nghiên cứu khoa học quân sự các nước đánh giá cao. Sau ngày giải phóng, Bùi Cát Vũ vẫn là cây bút bình luận, ký sự sắc sảo trên báo Quân Đội Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng, Tuổi Trẻ... được độc giả yêu thích.

Là người lính làm báo và trưởng thành chính từ báo chí, tướng Bùi Cát Vũ có một thế mạnh ít ai sánh được là luôn có mặt tại những điểm nóng nhất của chiến trường trong suốt hơn 30 năm dài. Bước chân ông đã qua “Cửu Long dậy sóng”, “Trường Sơn vinh quang”, đến với những Khe Sanh, Đường Chín, Biên Hòa, Sài Gòn, Phnom Penh... Nguồn tư liệu ngồn ngộn ấy đã đi vào những tập ký sự dài hơi viết về người lính trước những chiến thắng quan trọng của dân tộc, của thời đại. Không những vậy, với sự uyên thâm của nhà khoa học quân sự, thông thạo nhiều ngoại ngữ như tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc, tiếng Khmer... đã giúp Bùi Cát Vũ có được cái nhìn khách quan từ nhiều phía, nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Ký sự “Đường tới thành phố” của Bùi Cát Vũ hoàn thành năm 1975, được trao giải cao nhất của Hội Nhà văn Việt Nam năm đó, qua hơn 30 năm vẫn còn tươi nguyên giá trị dưới góc nhìn của người trong cuộc về chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ký sự “Đường vào Phnom Penh”, Bùi Cát Vũ hoàn thành vào năm 1979, đã tạo sự xúc động mạnh mẽ nơi người đọc về tội ác diệt chủng của bọn Khmer đỏ và sự hồi sinh mãnh liệt của nhân dân Campuchia, dưới sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam. Năm 1988, ông hoàn thành tập ký sự “Buổi đầu chập chững”, ghi lại bức tranh toàn cảnh Chiến khu Đ những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Những ký sự ấy đã đưa tên tuổi Bùi Cát Vũ vào hàng ngũ không nhiều những nhà văn Việt Nam thành công với mảng đề tài chiến tranh cách mạng.

Từ lĩnh vực báo chí, văn học, tướng Bùi Cát Vũ bước luôn vào thế giới điện ảnh và, thật đáng nể, trên lĩnh vực này ông cũng có những thành công đáng ghi nhận. Phim tài liệu lịch sử “Thành phố không có người” (đạo diễn Huy Thành) và phim truyện “Cơn lốc đen” (đạo diễn Thùy Vân) dàn dựng từ kịch bản văn học của ông đã giành giải thưởng chính thức tại Liên hoan Phim toàn quốc 1987 diễn ra tại thành phố Huế. Nhân kỷ niệm 25 năm thành lập Sư đoàn 9 – Sư đoàn chủ lực đầu tiên trên chiến trường miền Đông Nam bộ, kịch bản phim tài liệu lịch sử “Sư đoàn 9 anh hùng” của ông được Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh hoàn thành vào tháng 8-1990. Bộ phim này được giới điện ảnh quân sự Việt Nam xem là phim tài liệu lịch sử quân sự kinh điển.

Như những người dân bình thường khác được sinh ra và lớn lên tại vùng sông nước miền Tây, Bùi Cát Vũ rất ham thích, say mê loại hình nghệ thuật ca cổ – cải lương. Tuy chỉ là “thuận tay làm chơi” – như chính cách nói của ông – nhưng một số bài ca cổ của tác giả Bùi Cát Vũ như “Bác Hồ của chúng con ơi!”, “Về lại quê hương”... cũng có sức phổ biến khá sâu rộng bởi chính chất tự sự và tình cảm chân thật mà ông gởi gắm trong đó.

Xuất thân và trưởng thành từ mặt trận báo chí của Đảng giai đoạn 1936 - 1939, Bùi Cát Vũ trở thành một nhân vật có nhiều cống hiến cho đất nước, cho dân tộc cả trên lĩnh vực chính trị – quân sự lẫn báo chí – văn học nghệ thuật.

Bài viết : Theo Báo điện tử Đồng Nai.

huy thanh
28-06-2009, 10:27 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Nguyen-Minh-Chau.jpg

Thượng tướng Nguyễn Minh Châu (20/8/1921-5h 23/10/1999), nguyên Tư lệnh Quân khu 6, nguyên Tham mưu trưởng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, nguyên Tư lệnh Đoàn 232 trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, nguyên Tư lệnh Quân khu VII, nguyên Phó Tổng thanh tra Quân đội, nguyên Trưởng đại diện Bộ quốc phòng tại phía Nam. Ông là một trong 10 Thượng tướng được đề bạt Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam phong quân hàm Đại tướng.

“ Đồng chí Năm Ngà, một con người cần cù và dũng cảm, xem trọng nghĩa tình, đã có nhiều kinh nghiệm về chỉ huy chiến đấu của chủ lực từ cuộc kháng chiến chống Pháp ở cực Nam Trung bộ...” (Thượng tướng Trần Văn Trà)

“Cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang Quân khu 6 trìu mến gọi Thượng tướng Nguyễn Minh Châu, vị tư lệnh yêu quí của mình là: Anh Năm Ngà! Cái tên đã gắn bó với bao nhiêu chiến công oanh liệt trên chiến trường Khu 6 đầy gian lao và anh dũng. Họ kính trọng và tôn vinh anh là người anh cả của mình bởi đức độ, tài năng và sự đóng góp to lớn của anh đối với trang sử vẻ vang của các lực lượng vũ trang Quân khu 6” (Thiếu tướng Phùng Đình Ấm)
Thượng tướng Nguyễn Minh Châu (bí danh Năm Ngà), sinh tại xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Tuổi thơ ông gặp rất cơ cực và khó khăn. Mới được mấy tháng tuổi thì mẹ mất; lên sáu tuổi, bắt đầu cắp sách đến trường làng, nhưng học được vài năm thì nạn đói hoành hành khắp nơi, Nguyễn Minh Châu cùng hai người anh phải nghỉ học, phụ cha làm lụng kiếm sống. Trước cảnh túng bấn, côi cút của gia đình, cha ông quyết định đi bước nữa. Người mẹ kế trông nom nhà cửa, ruộng vườn. Cha con ông đi làm xa, chạy ăn từng bữa. Nhưng cơm vẫn không đủ ăn, có lúc phải ăn củ nần cả tháng.

Năm mười sáu tuổi(1937), ông liều lĩnh trốn nhà ra đi, với hy vọng tìm một việc làm tốt hơn nghề nông, có thể thay đổi phần nào cuộc sống của mình và gia đình! Không có chỗ dựa quen biết, không tiền bạc và nhất là chưa có giấy thuế thân, Nguyễn Minh Châu chỉ quanh quẩn làm lụng ở Tây Ninh, nên nửa năm sau người nhà kiếm bắt về...

Đến năm mười tám tuổi (1939), ông kiếm đủ tiền đóng lấy giấy thuế thân, lại âm thầm chuẩn bị... trốn nhà lên Sài Gòn xin vào Hãng Delagat vừa học vừa làm công thợ điện. Nhưng mới gần một năm, thấy mình chẳng học được gì, ngoài việc chỉ biết quay cho máy nổ và bị sai vặt: xúc than, gánh nước đổ lò..., Nguyễn Minh Châu bèn xin nghỉ.

Cuối năm 1940, quân phiệt Nhật ồ ạt xua quân vào nước ta, tuyên truyền đánh đổ thực dân Pháp, giành độc lập cho Việt Nam. Sau khi dựng lên Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim, quân phiệt Nhật tiến hành thành lập các trường thanh niên tiền tuyến đào tạo lính đánh thuê bản xứ.

Tưởng quân Nhật thực lòng giúp Việt Nam giành độc lập, ông đăng kí 3 tháng quân trường, rồi xin chuyển sang học nghề. Nhưng làm mới được một tháng, nghe ngóng tình hình, biết là quân phiệt Nhật giả dối, nên ông rủ một người bạn làm chung bỏ trốn. Được bốn ngày thì quân Nhật tình cờ bắt gặp, đưa ông cùng bạn học về xí nghiệp súng đạn ở Xóm Chiếu làm lại. Khoảng bốn tháng sau ông tìm cách trốn một lần nữa. Sau đó, ông xuống Sáu Kho ở Tân Thuận, Nhà Bè xin việc. Từ đây ông bắt đầu được giác ngộ hoạt động bí mật.

Cuối năm 1943, ông cùng một người bạn tên Đức quê ở Bình Định tham gia dán truyền đơn, khẩu hiệu cho Việt Minh. Rồi được tổ chức giao thêm nhiệm vụ quan sát kho tàng súng đạn của quân Nhật, ăn cắp mang về cất giấu.

Tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền ở Sài Gòn trong Tổng khởi nghĩa Cách mạng, rồi sau đó tham gia Quân đội.

Ngày 23/9/1945, quân Pháp núp bóng quân Anh quay trở lại xâm lược Nam Bộ. Ông từ trinh sát viên trở thành chỉ huy tiểu đội, trung đội đánh nhau với quân Pháp giữ cầu Thị Nghè, cầu Bông. Nhưng trước sức mạnh áp đảo của đối phương, theo lệnh của Ủy ban Kháng chiến hành chính miền Đông Nam bộ, các đơn vị bộ đội tạm thời rút lui khỏi thành phố.

Chuyển quân về Xuân Lộc, rồi Phan Thiết, ông được lệnh giao bộ đội tiếp viện cho mặt trận Nha Trang tỉnh Khánh Hòa. Xong nhiệm vụ, ông từ Phan Thiết quay về Biên Hòa tập hợp những người ốm đau còn lại, tự trang bị vũ khí để chiến đấu. Đơn vị khoảng năm mươi người, bầu ông làm trung đội trưởng, hoạt động độc lập. Tình hình hết sức phức tạp. Súng đạn thiếu thốn. Không có sự chỉ đạo thống nhất. Trung đội của ông thường bị quân Bình Xuyên tước vũ khí. Cuối cùng, ông đưa đơn vị gia nhập đoàn quân Nam tiến. Ông trở thành đại đội trưởng Đại đội Hoàng Hoa Thám làm chủ vùng Hàm Thuận tỉnh Bình Thuận. Nhưng trước sự lấn chiếm của quân Pháp, tri thức quân sự còn yếu, bộ đội rơi vào tình trạng đói khát và bị bế tắc về chiến thuật. Trước tình hình đó, ông nghĩ đến cách đánh lấy đồn mà ít tiêu hao về lực lượng và vật chất kỹ thuật nhất. Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng, ông cho đánh đồn Phú Hài ở Lầu Ông Hoàng, Phan Thiết. Đây là trận đánh rất có ý nghĩa về mặt chiến thuật, làm thay đổi cả tình hình quân sự trong tỉnh lúc ấy. Đồn Phú Hài là đồn bị quân ta lấy đầu tiên trong chống Pháp ở Bình Thuận. Sau này các nhà nghiên cứu khoa học quân sự gọi cách đánh đó là chiến thuật kỳ tập.

Suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, ông tham gia chỉ huy và chiến đấu tại chiến trường khu 6.

Năm 1953, Binh đoàn 100 là lực lượng cơ động mạnh của quân đội Pháp vừa tham chiến ở Triều Tiên trong lực lượng Liên Hiệp Quốc, được tăng cường cho Đông Dương vào cuộc chiến cuối cùng của kế hoạch Navarre. Tư lệnh Binh đoàn 100 là viên Quan năm Baroux được đề bạt xét thăng quân hàm cấp tướng. Lúc ấy, quân ta tổ chức phản công liên tục trên chiến trường Tây Nguyên và Nam Trung bộ để phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ. Chiến dịch Atlante bị ta bẻ gãy. Navarre lên kế hoạch rút bớt quân khỏi Tây Nguyên để chi viện cho các hướng và co cụm lực lượng hình thành các khu vực phòng ngự mạnh. Tinh thần quân Pháp suy sụp.

Đầu năm 1954, ông từ Trung đoàn 108 được điều về khôi phục củng cố lại Trung đoàn 96 trên cương vị trung đoàn trưởng, hoạt động liên tục trên Đường 19, đánh thắng nhiều trận ở Hà Tam, Măng Giang. Trung đoàn 96 được giao nhiệm vụ sẵn sàng đánh phá tiểu khu An Khê và tiêu diệt địch rút chạy trên Đường 19. Trung đoàn đã đánh nhiều trận trên đoạn Măng Giang - An Khê, nhưng đoạn suối Dăkpơ thì chưa đánh trận nào. Tuy hiểm trở, nhưng đoạn đường cầu Dăkpơ lại nằm giữa hai cứ điểm của địch. Quân Pháp luôn tăng cường trinh sát bằng không quân, biệt kích thám báo. Từ quan sát hiện trường, ông đã chọn đoạn suối Dăkpơ về phía đông để làm yếu điểm phục kích chờ địch. Đoạn này dài tám trăm mét do Tiểu đoàn 79 phụ trách. Còn đoạn phía Tây suối Dăkpơ do Tiểu đoàn 40 phụ trách. Những đơn vị khác cũng được bố trí ở những điểm có thể phát huy tối đa khả năng tác chiến.

Sáng ngày 24-6-1954, khi nghe tin đoàn xe hơn hai trăm chiếc của Binh đoàn 100 đã rời An Khê đến Kà Tung, cách Dăkpơ khoảng bảy cây số, ông liền mở cuộc họp chớp nhoáng với ban tham mưu và ra quyết định cụ thể cho từng đơn vị. Trận đánh bắt đầu vào lúc 12 giờ 30 ngày 24-6 và kết thúc vào 12 giờ trưa ngày hôm sau. Chiến sự hết sức ác liệt. Dù bị đánh bất ngờ, đội hình rối loạn, nhưng nhờ có kinh nghiệm trận mạc và hỏa lực mạnh nên địch chống trả quyết liệt, gây cho ta nhiều khó khăn, trước khi chúng hoàn toàn bất lực chấp nhận đầu hàng.

Sau khi địch buông vũ khí, ông đích thân cùng ban chỉ huy trung đoàn đi quan sát trận địa. Trên 900 quân Pháp bị tiêu diệt, gần 600 bị thương nằm rải rác. Quan năm sắp được thăng tướng Baroux và Bộ chỉ huy Binh đoàn 100 cùng 1.280 quân bị bắt sống; 375 xe các loại bị cháy, bị hư hỏng; 229 xe còn nguyên hoặc hư hỏng ít... Trung đoàn 96 tiêu diệt hoàn toàn cánh quân địch rút chạy và giải phóng tiểu khu An Khê. Trong khi đó, Binh đoàn cơ động 42 của địch do Quan năm Sockel chỉ huy từ Pleiku xuống đón Binh đoàn 100 đã bị Trung đoàn 108 của ta do Trung đoàn trưởng Đoàn Khuê (sau là Đại tướng Bộ trưởng Bộ quốc phòng) chỉ huy chặn đánh tơi bời, phải tháo chạy thoát thân.

Trận phục kích Dăkpơ gây chấn động không chỉ ở Đông Dương mà lan sang cả nước Pháp, góp phần làm suy sụp tinh thần quân đội viễn chinh. Đây là trận đánh được giới chuyên gia quân sự xem là lớn nhất, oanh liệt nhất ở Trung và Nam bộ trong kháng chiến chín năm chống Pháp. Sau khi trận đánh kết thúc, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã điện khen ngợi và Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định trao Huân chương kháng chiến hạng nhất cho Trung đoàn 96.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông chuyển quân tập kết ra Bắc, khi đó ông là Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Bình Thuận.

Năm 1958, sau một thời gian ra Bắc làm sư đoàn phó Sư đoàn 305, Nguyễn Minh Châu được phong quân hàm thượng tá. Tháng 4-1963, ông trở về Nam nhận nhiệm vụ Tư lệnh Quân khu 6 và đến tháng 5-1965 được thăng quân hàm đại tá. Tháng 4-1974, ông được thăng thiếu tướng lúc đang giữ trọng trách tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam.

Đầu năm 1975, Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam quyết định thành lập Đoàn 232 tương đương một quân đoàn, trên cơ sở Sư đoàn 5 và Sư đoàn 302 cùng các binh chủng phối thuộc, nhằm chuẩn bị lực lượng cho hướng tấn công phía Tây vào Sài Gòn khi thời cơ đến. Thượng tướng Tư lệnh Miền Trần Văn Trà giao cho ông làm tư lệnh Đoàn 232, Thiếu tướng Trần Văn Phác làm chính ủy, Thiếu tướng Nguyễn Văn Nghiêm làm phó tư lệnh. Khi tiếng súng Chiến dịch Hồ Chí Minh nổ ra, Đoàn 232 là một trong năm cánh quân từ hướng Tây tấn công vào Sài Gòn. Lực lượng Đoàn 232 lúc này còn được bổ sung thêm Sư đoàn 9 của Quân đoàn 4 cùng một số trung đoàn phối thuộc và bộ đội địa phương.

Trên đường tiến về Sài Gòn, đầu tiên Đoàn 232 đột phá tuyến phòng thủ thứ nhất từ dòng sông Vàm Cỏ Đông tới biên giới Campuchia với các tiểu khu, chi khu dày đặc như Long An, Hậu Nghĩa, Bến Lức, Đức Hòa, Thủ Thừa,... Tiếp theo là đập tan tuyến phòng thủ thứ hai của địch gồm các chiến đoàn ngụy phòng ngự hướng Tây Nam, cắt đứt Đường 4 (nay là Quốc lộ 1) giải phóng dân, hỗ trợ nhân dân nổi dậy. Cuối cùng, tiêu diệt hệ thống phòng thủ ven đô kiên cố của địch.

Cuộc chiến đấu tại vùng ven thành phố diễn ra hết sức gay go ác liệt. Địch cố chặn bước tiến của đại quân, hòng bảo vệ bằng được Sài Gòn. Nhưng đã muộn. Sư đoàn 9 làm nhiệm vụ mũi nhọn, thần tốc đánh chiếm Biệt khu Thủ đô, phối hợp với Quân đoàn 3 đánh sân bay Tân Sơn Nhất. Sư đoàn thiếu của Quân khu 8 từ hướng Nam đánh lên Chợ Gạo, chiếm hai chi khu Cần Giuộc và Cần Đước, vượt cầu Nhị Thiên Đường, cầu chữ Y đánh chiếm Tổng nha Cảnh sát và Tổng kho xăng dầu Nhà Bè. Sau khi đã hoàn thành các mục tiêu, Sư đoàn 302 tiếp tục truy quét tàn quân ngụy phản kích. Sư đoàn 5 thì chặn đánh địch từ Sài Gòn chạy về miền Tây và từ miền Tây kéo lên Sài Gòn.

Sài Gòn hoàn toàn giải phóng. Khoảng hơn 12 giờ ngày 30-4-1975, ông có mặt ở Dinh Độc Lập. Sau đó ông nhận công tác quân quản, truy quét tàn quân địch, ổn định an ninh trật tự ở ngoại ô Sài Gòn.

Tháng 6-1981, sau khi hoàn thành nhiệm vụ từ chiến trường Campuchia trở về, ông được thăng Trung tướng - Phó Tư lệnh Quân khu 7. Đến tháng 1-1986, ông được thăng Thượng tướng - Tư lệnh Quân khu 7, rồi Phó Tổng thanh tra Quân đội. Tháng 5-1988, ông được cử làm Trưởng đại diện Bộ Quốc phòng tại phía Nam và là một trong mười Thượng tướng được đề bạt Nhà nước thăng quân hàm Đại tướng.

Thượng tướng Nguyễn Minh Châu được coi là một trong những vị tướng thuộc hàng ngũ ‘’khai quốc công thần’’. Không những với đồng cấp hoặc cấp trên, mà đối với cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền, tướng Năm Ngà cũng là con người luôn “xem trọng nghĩa tình”. Từ một người lính trải qua máu lửa chiến trường trở thành một tướng lĩnh cao cấp, ông rất am hiểu tâm thế của người lính. Vị tướng này từng nói: “Không có ông tướng nào đem lại cho tôi sự khâm phục bằng hình ảnh người lính. Họ hồn nhiên, trong sáng, quả cảm, không hề biết run sợ trước cái chết. Và chính nhờ sự hy sinh to lớn của hàng vạn người lính mới sản sinh ra được những vị tướng”! Yêu thương lính, nên tướng Năm Ngà cũng được lính hết sức thương yêu kính trọng.

Bài viết và Nguồn ảnh : Báo điện tử Cần Thơ

huy thanh
28-06-2009, 10:31 PM
http://img301.imageshack.us/img301/7748/trungtuongphamkietyy5.jpg

Trung tướng Phạm Kiệt (1910-13h ngày 23/1/1975), nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Lực lượng công an vũ trang, nguyên Cục phó Cục bảo vệ Tổng cục chính trị. Ông là chỉ huy đầu tiên của Đội du kích Ba Tơ.

Ngoài ra ông cũng từng là Thứ trưởng Bộ công an, Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đại biểu Quốc hội khóa 3 và 4.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương chiến công hạng Nhất…

Ông được phong quân hàm Trung tướng năm 1974.

Trung tướng Phạm Kiệt sinh ra trong một gia đình lao động nghèo nhưng rất giàu nghĩa khí anh hùng cách mạng tại xã An Phú, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Mẹ ông tham gia phong trào văn thân chống Pháp. Bốn anh em đều hoạt động bí mật cho Đảng, đều bị tù đầy, tra tấn dã man nhưng không ai khuất phục kẻ thù. Riêng ông, năm 15 tuổi (1925) đã tham gia các hoạt động yêu nước ở quê hương.

Năm 1929, 19 tuổi, ông vào tổ chức Việt Nam Cách mạng thanh niên (Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội). Ngày 17/1/1931, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, là Huyện ủy viên phụ trách Công hội đỏ và chỉ huy Đội xích vệ xã. Do tuyên truyền, cổ động nhân dân huyện nhà sôi nổi ủng hộ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, ông bị thực dân Pháp bắt giam qua các nhà lao ở Quảng Ngãi và đày đi Buôn Ma Thuột, bị án tử hình sau giảm xuống tù chung thân.

Tại nhà lao Buôn Ma Thuột, ông là người dám vung xẻng phang một đòn chí mạng vào vai tên cai ngục đang đánh đập tàn nhẫn đồng chí mình làm xâu, khiến hắn vô cùng khiếp đảm, từ đó về sau chùn tay và hễ thấy ông là vội lảng tránh đi nơi khác. Ông cũng là người đã lập kế hoạch cho các ông Nguyễn Chí Thanh và Lê Tất Đắc trốn khỏi nhà lao Buôn Ma Thuột. Về sau, khi phát hiện ông là kẻ chủ trò, địch đã tra tấn, đánh đập anh một trận thập tử nhất sinh, nhưng khi tỉnh dậy vẫn bình thản nói với đồng chí: "Thà mình chết, đừng để cho Đảng bị thiệt hại".

Năm 1943, mãn hạn tù, thực dân Pháp đưa ông về quản thúc ở căng an trí Ba Tơ, nhằm cô lập, cách ly người cộng sản với quần chúng nhân dân, giết dần giết mòn trong lao động khổ sai và bệnh tật. Ông nuôi vịt đồng để dễ bắt liên lạc với đồng chí. "Anh chăn vịt" này đã đem những điều tâm đắc học hỏi được ở các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Bùi San, Lê Chưởng, Trương Quang Lệnh, Trần Mạnh Quỳ trong nhà lao Buôn Ma Thuột, truyền đạt lại cho đồng chí mình rằng : ‘’Thời cơ lớn đã đến. Phát xít Đức, Ý, Nhật nhất định thất bại hoàn toàn. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chưa chết như địch tung tin vịt, đã trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Phải gấp rút xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, sâu rộng trong nhân dân và trong binh lính địch. Lập căn cứ địa và xây dựng lực lượng vũ trang. Khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa…’’

Cũng chính ông, ngày Nhật đảo chính Pháp 9/3/1945, theo sự phân công của Tỉnh ủy Quảng Ngãi lâm thời, đã trở thành người Chỉ huy trưởng làm nên thắng lợi lịch sử của cuộc khởi nghĩa Ba Tơ nổi tiếng (những người lãnh đạo khởi nghĩa Ba Tơ khi đó là ông, Trung tướng Nguyễn Đôn, Đại tá Nguyễn Khoách-cùng với Thiếu tướng Võ Bẩm là hai người tiên phong mở đường Trường Sơn sau này).

Ðội du kích Ba Tơ và cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ. Từ sự phát triển của phong trào quần chúng cách mạng, sau khi bàn bạc, thống nhất kế hoạch đánh chiếm đồn địch, kế hoạch khởi nghĩa, ngày 11-3-1945, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi quyết định thành lập đội võ trang xung kích, gồm 17 người tuyển chọn từ các tù chính trị ở căng an trí Ba Tơ; đồng thời chỉ định ông làm chỉ huy trưởng, ông Nguyễn Ðôn làm chính trị viên. Vũ khí trang bị phần lớn là gươm, giáo và bảy khẩu súng.



Ngay buổi tối hôm đó, đội du kích đã đột nhập Nha Kiểm lý, nhanh chóng thu toàn bộ súng đạn, hồ sơ và bắt Bùi Danh Ngũ, Tri châu Ba Tơ và một số binh lính; rồi dùng vũ khí thu được, có sự hỗ trợ của đông đảo quần chúng, đội lập tức tiến công đồn Ba Tơ thắng lợi. Sáng 12-3-1945, trong không khí hào hứng và trang nghiêm của cuộc mít-tinh mừng thắng lợi của cuộc khởi nghĩa, Ðội du kích Ba Tơ chính thức ra mắt trước quần chúng nhân dân. Ðây là đội vũ trang tập trung đầu tiên của nhân dân Quảng Ngãi do Ðảng cộng sản Việt Nam trực tiếp tổ chức và lãnh đạo.

Giữa tháng 6-1945, Tỉnh ủy lâm thời quyết định thành lập Ban quân sự đồng thời là Ban chỉ huy Ðội du kích Ba Tơ. Ông Nguyễn Chánh được chỉ định làm Trưởng ban, ông và ông Nguyễn Ðôn làm Phó ban. Du kích Ba Tơ là đội vũ trang tập trung đầu tiên ở Nam Trung Bộ không chỉ kịp thời đáp ứng yêu cầu phát triển của phong trào cách mạng ở tỉnh Quảng Ngãi, mà còn có tác dụng mạnh mẽ, góp phần tích cực vào việc thúc đẩy phong trào đấu tranh chống phát-xít Nhật, cứu nước của nhân dân các tỉnh Nam Trung Bộ.

Đội du kích Ba Tơ, là nòng cốt cho nhân dân Quảng Ngãi vùng lên tổng khởi nghĩa vào ngày 14/8/1945 - một trong số ít địa phương cướp được chính quyền về tay nhân dân sớm nhất trong cả nước. Khi đó, ông là Ủy viên Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Quảng Ngãi.

Cuối tháng 9/1945, Xứ ủy và Uỷ ban Nhân dân Trung bộ thành lập Ủy ban Quân chính Nam Phần Trung bộ do ông, ông Nguyễn Đôn, ông Trần Quang Giao phụ trách bao gồm các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Đắc Lắc và 4 tỉnh cực Nam Trung bộ: Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng nhằm bảo đảm hành lang và bàn đạp chuyển lực lượng Nam tiến và vũ khí của Trung ương và các tỉnh phía Bắc vào Nam bộ; đồng thời sẵn sàng đối phó với những cuộc tiến công của Pháp và chuẩn bị đưa lực lượng của mình vào tham chiến ở Nam bộ.

Năm 1946, ông là Đại đoàn trưởng Đại đoàn 31 thuộc Liên khu V.

Năm 1950, ông được triệu tập ra chiến khu Việt Bắc để đi nước ngoài bồi dưỡng quân sự. Ông gặp lại người bạn tù mà ông đã từng tổ chức vượt ngục cho đó là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh. Ông đề nghị anh Chủ nhiệm cho được phục vụ các chiến dịch để học hỏi thêm kinh nghiệm và sẽ đi học sau.

Từ 1952 - 1959, ông được bố trí làm Cục phó rồi Cục trưởng Cục Bảo vệ, Bí thư Đảng ủy Tổng cục Chính trị. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông được Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp cử đi kiểm tra công tác chuẩn bị chiến trường ở phía Đông Bắc. Ông đã đến tận trận địa pháo binh, phát hiện sự nguy hiểm khi bố trí trận địa pháo dã chiến tại một địa bàn tương đối bằng phẳng. Ông là người duy nhất lúc đó vì nghĩa lớn đã nói lên sự thật không ngần ngại, đã đề nghị Tổng tư lệnh xem xét lại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh.

Tháng 8/1960, ông được Bác Hồ và Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Công an. Tháng 4/1961, ông được thăng cấp Thiếu tướng và được giao làm Tư lệnh kiêm Chính ủy một tổ chức an ninh mới ra đời, còn non trẻ: Lực lượng Công an nhân dân vũ trang.

Trên cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy Công an vũ trang, ông luôn khiêm tốn, chân tình đoàn kết chặt chẽ trong lãnh đạo Bộ Công an, điềm tĩnh, dân chủ, chịu khó lắng nghe ý kiến cấp dưới; tìm hiểu rất kỹ con người và sự việc; kiên trì sự thật và chân lý. Nhờ đó, ông đã góp phần cùng Công an nhân dân luôn hoàn thành xuất sắc công tác an ninh nội địa và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não và những chuyến công tác quan trọng của lãnh đạo Đảng, Chính phủ. Ông cũng đặc biệt tập trung sức xây dựng, củng cố vững mạnh hệ thống tổ chức an ninh biên giới, sông biển, hải đảo. Nhờ đó, gián điệp, thám báo, biệt kích, người nhái… do giặc Mỹ tung vào miền Bắc, hầu như bị xa lưới gần hết.

Ông còn chăm lo công tác an ninh cho miền Nam. Những năm 1963-1964, được trên chấp nhận, ông cho tuyển chọn con em miền Nam vào Công an nhân dân vũ trang, mở trường đào tạo và chi viện hàng trăm chiến sỹ an ninh cho chiến trường miền Nam. Ông hết lòng yêu thương chiến sỹ, ngày đêm lo toan cho cuộc sống của chiến sỹ. Ông luôn nhắc đồng chí Bí thư riêng cố gắng sắp xếp 1/3 thời gian trong năm để đi công tác cơ sở, đặc biệt là đi những đơn vị, những địa bàn xa xôi, gian khó nhất.

Năm 1967, bất kể đạn bom, ông đi thăm các đồn biên phòng phía Tây, thăm đội nữ pháo binh Ngư Thủy, Quảng Bình, tặng quà và động viên chiến đấu. Mùa đông năm 1968, ông đi hàng tháng liền trong tiết trời lạnh buốt; kiểm tra các đồn biên phòng suốt từ Lai Châu, Lào Cai đến Quảng Ninh. Đi đến đâu, ông cũng nhắc nhở chỉ huy đơn vị phải sắm đủ màn chống muỗi, chống sốt rét, làm nệm cỏ, tìm cách sưởi ấm, tăng gia sản xuất thêm.

Mùa hè năm 1973, dấu hiệu của căn bệnh ung thư đã rõ. Thế nhưng, ông vẫn trực tiếp tháp tùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Chủ tịch Fidel Castro của Cuba đi thăm chiến trường Quảng Trị và đường Hồ Chí Minh. Trên đường về, Tê Đơ lại ghé thăm đơn vị nữ pháo binh Ngư Thủy, xem chị em sống ra sao, có đề đạt nguyện vọng gì...

Tháng 4/1974, ông được thăng cấp Trung tướng. Ông căn dặn các cán bộ làm công tác chế độ, chính sách nhất thiết không được mua sắm, trang bị vật dụng gì thêm cho ông, cho dù không phải là những tiện nghi sang trọng và đắt tiền.

13h ngày 23/1/1975, trái tim giàu chất sử thi anh hùng và nhân hậu của Trung tướng Phạm Kiệt ngừng đập!

Trung tướng Phạm Kiệt là một người có công lớn đối với sự hình thành và phát triển của Đội du kích Ba Tơ, các nhà nghiên cứu sử học và quân sự đánh giá rất cao vai trò của ông. Ông cũng được Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đánh giá rất cao vì là người góp phần quan trọng trong việc Đại tướng ra quyết định cuối cùng là chuyển phương châm từ ‘’đánh nhanh thắng nhanh’’ sang ‘’đánh chắc tiến chắc’’, một người có tư duy quân sự nhạy bén, cẩn trọng có tinh thần trách nhiệm cao, dám nói khi mà phần lớn bộ chỉ huy chiến dịch đã nhất trí kế hoạch ‘’đánh nhanh thắng nhanh’’. Ông cũng là người có công lao rất lớn đối với lực lượng Công an vũ trang từ khi mới được thành lập(tiền thân của Bộ đội biên phòng). Là người lãnh đạo lâu nhất của lực lượng này, ông đã lãnh đạo một lực lượng mới ra đời hoành thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới, anh ninh của miền Bắc trong hoàn cảnh chiến tranh phá hoại. Ông còn là một vị tướng có tấm lòng nhân ái, hết mực yêu thương và quan tâm đến cấp dưới, một tác phong lãnh đạo sâu sát gắn bó với quần chúng. Một người luôn luôn cống hiến tâm huyết và trí tuệ cho sự nghiệp chung của tổ quốc. Ông xứng đáng được xếp vào hàng ngũ ‘’công thần’’ của nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

huy thanh
28-06-2009, 10:36 PM
http://img208.imageshack.us/img208/6716/thieutuonggsnguyenthucmkb3.jpg

Thiếu tướng Giáo sư Bác sĩ Nguyễn Thúc Mậu (1919-1989), nguyên Giám đốc Học viện Quân y Quân đội Nhân dân Việt Nam.


Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhất…


Ông được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1983.

Thiếu tướng Nguyễn Thúc Mậu sinh ngày 12 tháng 11 năm 1919 tại thôn Cao Bộ, xã Thanh Cao, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (sau này xã Thành Cao, thôn Cao Bộ và thôn Thanh Thần từ năm 1966 đến năm 1969 là nơi sơ tán của Viện quân Y 103).


Năm 1939, ông đỗ tú tài và thi vào Trường Y Đông dương. Cách mạng tháng Tám năm 1945, khi đó đang là sinh viên năm cuối trường Y, ông hăng hái tham gia các phong trào đoàn thể cũng như phong trào tình nguyện ‘’Diệt giặc đói, truyền bá quốc ngữ, diệt giặc dốt’’, vừa tích cực học tập hoàn thành khóa học.


Sau khi gia nhập vệ quốc đoàn, ngày 27/5/1946 ông được Giám đốc Ban y khoa đại học Giáo sư bác sĩ Hồ Đắc Di trực tiếp trao bằng bác sĩ. Từ đây, ông bắt đầu phục vụ cho sự nghiệp Quân y chiến trường trong kháng chiến chống Pháp rồi cho đến kháng chiến chống Mỹ và hai cuộc chiến tranh biên giới.


Tháng 6 năm 1946, ông được cử làm Trưởng ban Quân y Trung đoàn 28 Lạng Sơn, hành trang của ông trên chuyến tàu Hà Nội-Lạng Sơn đầu tháng 6/1946 không phải là quần áo, tư trang và các tiện nghi sinh hoạt, mà là bên túi sách nội khoa, ngoại khoa; bên túi trang bị y tế, thuốc men cần thiết do ông tìm mua, hoặc do bạn bè mua giúp trước lúc lên đường.

Tháng 11/1946 ông là chỉ huy Quân y của Trung đoàn phục vụ trận chiến đấu đầu tiên, khi quân Pháp nổ súng chiếm Lạng Sơn. Ông là người chỉ huy quân y chiến trường đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ban Quân y trung đoàn lúc ấy chỉ có hơn chục người gồm 1 bác sĩ, 2 quân y sĩ và 12 y tá, hộ lý, đóng quân ở trong thành Lạng Sơn. Khó khăn buổi ban đầu nhiều, mà thời gian thì khẩn trương, phải chuẩn bị mọi mặt phục vụ chiến đấu. Ông đã đề xuất một kế hoạch trước mắt và được Ban chỉ huy trung đoàn đồng ý đó là phải bồi dưỡng những vấn đề chuyên môn cơ bản nhất cho từng cán bộ nhân viên. Ông trực tiếp hướng dẫn các thao tác sơ cứu, cấp cứu và xử trí các chấn thương cho các quân y sĩ và y tá; đồng thời giao cho 2 quân y sĩ là Nguyễn Sĩ Quốc và Đặng Văn Việt hướng dẫn cụ thể việc thực hiện băng bó từng loại vết thương, cách vận chuyển thương binh cũng như chăm sóc thương binh nặng, các vết thương phải cố định cho y tá và hộ lý. Ông còn tranh thủ tình hình còn ổn định, phân công một số cán bộ về Cục Quân y xin bổ sung trang bị, thuốc men, bàn phối hợp chặt chẽ với y tế địa phương để tăng cường nhân lực, cơ sở vật chất phục vụ chiến đấu.

Từ cuối tháng 10, đầu tháng 11/1946, quân Pháp ngày càng có những hoạt động khiêu khích, lộ rõ ý đồ muốn đánh chiếm thị xã. Trung đoàn 28 trong tư thế sẵn sàng chiến đấu cao. Đêm 24 rạng ngày 25/11/1946, quân Pháp bất ngờ từ các điểm cao phía Tây Nam bắn pháo vào thị xã, đồng thời cho quân tiến dọc theo Quốc lộ 1A vào chiếm các vị trí vòng ngoài. Trung đoàn 28 đã chiến đấu kiên cường, đánh bật các mũi tiến công của quân Pháp. Ông lệnh cho quân y bám sát các mũi, đôn đốc các đội tải thương đưa hết thương binh và tử sĩ ra khỏi trận địa, đồng thời tổ chức sơ cứu kịp thời và đưa thương binh về bệnh xá trung đoàn nhanh nhất để xử lý các vết thương.

Quân Pháp quyết tâm chiếm thị xã Lạng Sơn nên tăng thêm viện binh, bắn cấp tập phi pháo vào thị xã và một số vị trí của bộ đội. Lệnh của Khu bộ chỉ để một số lực lượng chốt chặn không cho quân Pháp tự do tiến vào thị xã, còn đại bộ phận trung đoàn rút về hậu cứ bảo toàn lực lượng chiến đấu lâu dài. Ban Quân y cũng được lệnh rút toàn bộ về Ba Xã, huyện Điềm He. Do số thương binh nhiều, nên bệnh xá không di chuyển được một số trang thiết bị y tế và thuốc men. Chiều tối 25/11, ông cho hội ý toàn Ban lấy tinh thần xung phong trở lại thành Lạng Sơn mang hết trang thiết bị y tế và thuốc men ra địa điểm sơ tán. Ông cùng 6 y tá nam khỏe mạnh vượt vòng vây vào thành di chuyển bằng hết trang bị y tế, bông băng, thuốc men qua tường thành; số y tá, hộ lý và thanh niên tình nguyện dùng quang gánh đón ở ngoài tường thành tiếp nhận chuyển đi.

Tháng 5/1947, ông được bổ nhiệm làm Quân y vụ trưởng Khu 12 rồi đến tháng 3/1949 ông là Quân y vụ trưởng Liên khu 1.

Ngày 16/7/1949, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Tháng 12/1949, ông được bổ nhiệm làm Trưởng phòng lưu động Cục Quân y. Trên cương vị công tác, ông đã được giao làm Phó trưởng ban Quân y các chiến dịch Biên Giới (1950). Trưởng ban Quân y chiến dịch Hoàng Hoa Thám (1950), chiến dịch Hà Nam Ninh (5/1951), chiến dịch Hòa Bình và Trung du Bắc Bộ (11/1951), chiến dịch Tây Bắc (10/1952). Ông cũng là thành viên trong Ban Quân y trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Hòa bình lập lại trên miền Bắc, từ năm 1955 đến năm 1958, ông được Quân đội cử đi học ngành Tổ chức chuyên ngành Tổ chức chỉ huy Quân y ở Liên Xô.

Tháng 8 năm 1958, ông về nước và được cử giữ chức vụ Trưởng phòng huấn luyện Cục quân y.

Tháng 10/1960, ông được bổ nhiệm làm Phó Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Quân y, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Y học Quân sự, Phó Hiệu trưởng thứ nhất Trường Đại học Quân y kiêm Chủ nhiệm Khoa Tổ chức và Chỉ huy Quân y.

Từ tháng 10/1969 đến 4/1976, ông là Phó Trưởng phòng Quân y miền Nam.

Từ 5/1976 đến 2/1979, ông là Phó Hiệu trưởng thứ nhất rồi tháng 3/1979 ông là Hiệu trưởng và Giám đốc Học viện Quân y (11/1981). Cũng trong năm 1981, ông được nhà nước phong hàm Giáo sư ngay trong đợt phong hàm đầu tiên của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Thiếu tướng Nguyễn Thúc Mậu là một cán bộ Quân y lão thành của ngành Quân y Việt Nam.Trong sự nghiệp xây dựng ngành Quân y Việt Nam, ông đã gắn bó chặt chẽ sự nghiệp xây dựng môn học tổ chức chiến thuật quân y do ông là người khởi đầu và là người chỉ đạo. Với sự nghiệp huấn luyện đào tạo đội ngũ cán bộ quân y tại chiến trường cũng như tại nhà trường (Trường sĩ quan quân y-Đại học quân y-Học viện quân y). Trong đời sống sinh hoạt giản dị gương mẫu, điềm đạm, luân quan tâm đến đồng đội, đồng chí, thân mật cởi mở của Thiếu tướng Nguyễn Thúc Mậu là tấm gương sáng cho cán bộ chiến sĩ ngành Quân y noi theo.

Là người tham giả đảm bảo quân y hầu hết các chiến dịch trong 2 cuộc kháng chiến, tuy sức khỏe của ông có hạn, nhưng ông vẫn giành nhiều công sức vào hoàn chỉnh các công trình nghiên cứu tổng kết quân y, trong đó có công trình trọng điểm của Bộ Quốc phòng như : Tổng kết công tác bảo đảm quân y ở chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ 1954-1975. Qua các công tác nghiên cứu tổng kết, ông cùng cộng sự đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm quý, nâng lên thành các phương châm, nguyên tắc chỉ đạo của Ngành, góp phần vào việc hình thành nghệ thuật chỉ huy quân y nói riêng và nghệ thuật quân sự Việt Nam nói chung. Tất cả những nội dung quan trọng này đã được biên soạn thành sách giáo khoa, giáo trình giảng dạy và tập huân cho cán bộ chi huy quân y các cấp. Vì vậy những đóng góp của ông về xây dựng chuyên ngành Tổ chức chỉ huy Quân y là to lớn và có giá trị.

Bài viết : Thiếu tướng Giáo sư Bác sĩ Nguyễn Thúc Mậu (Thiếu tướng Giáo sư Bác sĩ Lê Thế Trung, Hoàng Ngọc Vân).

Nguồn ảnh : Viện bỏng Việt Nam.

huy thanh
28-06-2009, 10:38 PM
http://img208.imageshack.us/img208/3985/thieutuongtrandainghiaqz7.jpg

Thiếu tướng Giáo sư Viện sĩ Trần Đại Nghĩa (13/9/1913-16h20’ngày 9/8/1997), Anh hùng lao động (1/5/1952-Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua đầu tiên), Giải thưởng Hồ Chí Minh, nguyên Cục trưởng Cục quân giới (đầu tiên) (12/1946-5/1954), nguyên Cục trưởng Cục pháo binh (8/1949-11/1951), nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần (8/1966-1/1977) Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông được phong quân hàm Thiếu tướng ngay trong đợt phong quân hàm tướng đầu tiên (năm 1948).

Ông còn giữ các chức vụ Thứ trưởng Bộ công nghiệp (9/1950-9/1960), Thứ trưởng Bộ công nghiệp nặng (9/1960-2/1963), Phó Chủ tịch ủy ban kiến thiết nhà nước (2/1963-3/1972), Chủ nhiệm Ủy ban khoa học nhà nước (10/1965-8/1966), Viện trưởng Viện khoa học Việt Nam (nay là Trung tâm Khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia (1/1977-1/1983), Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các hội khoa học kĩ thuật Việt Nam (1983-1988). Ông là Đại biểu Quốc hội khóa 2 và 3.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng ba và Huân chương Chiến công hạng nhất…

‘"Anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa là một đại trí thức, mang một lòng nhiệt thành về phụng sự Tổ quốc, phục vụ kháng chiến’’ (Chủ tịch Hồ Chí Minh)

‘’Ông Phật làm súng’’ (Đại tướng Tổng Tư lệnh, Võ Nguyên Giáp)

Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa (tên thật là Phạm Quang Lễ), quê tại xã Chấn Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long nhưng sinh ra tại quê mẹ ấp 6, xã Xuân Hiệp, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

Cha ông là thầy giáo nghèo yêu nước Phạm Quang Mùi (1882-1920), một người am hiểu Nho giáo, khi chuyển sang học tiếng Pháp đỗ Thành chung rồi về Vĩnh Long dạy học. Ở Vĩnh Long lúc bấy giờ ông được coi là người uyên thâm nho nhã, am hiểu thế sự, nhân uyên cuộc đời: “trên hiểu thiên văn,dưới tường địa lý, giữa biết lòng người”. Mẹ ông là cụ Lý Thị Diệu (1881-1941), một người phụ nữ tần tảo mộ đạo Phật. Ông có một chị gái là bà Phạm Thị Nhẫn.

Năm 1920, cha ông mất khi ông mới 7 tuổi. Chị gái ông phải xin nghỉ học ở nhà cùng với mẹ tần tảo tạo điều kiện cho ông học hành đến nơi đến chốn.

Hè năm 1926, ông tốt nghiệp bậc tiểu học hạng ưu, rồi thi đỗ hạng ưu vào trường Trung học đệ nhất cấp Mỹ Tho, nay thuộc tỉnh Tiền Giang. Ông được nhận học bổng trong 4 năm học tại đây, từ năm 1926 – 1930. Năm 1930, thi đỗ vào trường Trung học đệ nhị cấp, ông lên trường Petus Ký (nay là trường PTTH chuyên Lê Hồng Phong –TP. HCM) và vẫn là học trò tuy nghèo nhưng học giỏi nhất lớp, đậu học bổng liên tục 3 năm liền. Đến 1933, ông đỗ đầu kì thi tú tài bản xứ, sau đó thi tú tài Pháp ban toán cũng đỗ đầu rồi tú tài Pháp ban triết đỗ hạng ưu. Tiếng học trò Lễ từ Vĩnh Long lên Sài Gòn học giỏi ai cũng biết.


Cũng trong thời kỳ ông học Trung học đệ nhị cấp Pê-trus Ký, có nhiều hoạt động chống thực dân Pháp nổ ra như hoạt động của nhà yêu nước Phan Bội Châu, phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930-1931), các cuộc bãi công, bãi thị do Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức, khởi nghĩa Yên Bái… Các sự kiện đó khơi sâu lòng yêu nước trong giới học sinh. Tuy nhiên, hầu hết đều bị thực dân Pháp đàn áp dã man và bị thất bại. Một trong những nguyên nhân thất bại là vấn đề vũ khí: lực lượng cách mạng không có vũ khí trong khi quân đội thuộc địa được “trang bị đến tận răng”. Muốn thắng thực dân đế quốc, ngoài những người lo về chính trị, phải có người lo về quân sự, về khoa học, về vũ khí. Cho nên, ông đã sớm xác định hướng đi cho mình là học giỏi, nhất là các môn khoa học tự nhiên để sau này nghiên cứu về vũ khí giúp cho công cuộc giải phóng dân tộc.


Cùng học với ông tại trường nổi tiếng Petrus Ký còn có các học sinh Phạm Văn Thiện (tức ông Phạm Hùng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng), ông Huỳnh Tấn Phát, ông Nguyễn Tấn Ghi Trọng, ông Đặng Văn Chung…là những học trò xuất sắc của khoá học.


Do nhà nghèo, không đủ tiền đi Hà Nội học tiếp, từ năm 1933 đến năm 1935, ông quyết định đi làm giúp mẹ giúp chị nuôi chí vươn lên, chờ thời cơ. Thời gian này, ông làm cho tòa sứ Mỹ Tho.


Năm 1935, ông gặp nhà báo Dương Quang Ngưu (1897-1938) một Việt kiều từ Pháp về vào làm việc ở tòa bố Mỹ Tho. Nhận thấy những tư chất thông minh hiếm có cùng quyết tâm đi xa hơn học hành để giúp đất nước của ông lại được biết ông là con của thầy giáo Mùi, nhà báo Dương Quang Ngưu đã vận động Hội ái hữu trường Chasseloup Laubat cấp cho ông một năm học bổng học tại Paris.

Ngày 5/9/1935, ông xuống tàu tại Bến cảng Nhà Rồng để sang Pháp du học. Từ Sài Gòn sang cảng Marseille (Pháp) con tàu phải đi vòng qua nhiều nơi, mất hết 21 ngày, sau khi ghé nhiều nước châu Á, Phi, qua kênh đào Hồng Hải, kênh Suez, rồi vào Địa Trung Hải. Qua những nơi đó, ông thấy rõ hơn những bất công, sự tàn bạo của thực dân đế quốc, chủ nô, chúa đất và sự cùng khổ của người dân các nước ấy đều giống như ở Việt Nam.


Từ Marseille, ông lên Paris trên một chiếc tàu hoả tốc hành. Để có đủ tiền cho 2 năm học tại Paris, trong khi học bổng của Chasseloup Laubat chỉ cấp cho 1 năm, ông phải dồn sức làm 16 tiếng/ngày cho đủ tiền trang trải mọi thứ cuộc sống. Và thế là ông quyết chí học rút ngắn thời gian 2 năm học làm một, để chỉ 1 năm thôi là đủ điều kiện vào trường Đại học tại Paris.


Suốt 11 năm ở Pháp (1935-1946) ông chỉ theo đuổi một mục tiêu duy nhất là học cho kỳ được cách chế tạo vũ khí của phương Tây. Nhưng thực dân Pháp đâu phải điên đến mức để cho người Việt Nam ta – kể cả những người đã mang quốc tịch Pháp – được vào học ở các trường dạy nghề về vũ khí hay vào làm việc ở các viện nghiên cứu, các nhà máy sản xuất vũ khí. Vì thế, trong suốt 11 năm, ông chỉ có thể mò mẫm tự học một cách âm thầm, đơn độc và bí mật hoàn toàn.


Từ năm 1936, ông đã được nghe biết đến tên tuổi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Từ thời điểm này, tư tưởng yêu nước của Nguyễn Ái Quốc đã định hướng về mặt chính trị cho người thanh niên ông.


Muốn nắm vững kỹ thuật quân sự, trước hết, phải tinh thông kỹ thuật dân dụng, ông thi đỗ vào Trường đại học quốc gia Cầu – Đường, một “trường lớn” của nước Pháp. Vì thế, bộ thuộc địa phải cấp học bổng cho ông. Sau đó, ông còn theo học các trường Điện, Mỏ, Bách khoa, Học viện Kỹ thuật hàng không, Học viện Thống kê, Viện khí động học... Ông đỗ nhiều bằng kỹ sư, đồng thời, thi lấy nhiều chứng chỉ về khoa học cơ bản ở Trường đại học Tổng hợp Xoóc-bon. Sau giờ học, ông thường đến các thư viện để tra cứu sách liên quan đến chế tạo vũ khí. Ông cũng tìm đến những hiệu sách cũ để tìm những quyển sách về đề tài này. Ngoài ra, ông còn tham dự các buổi thực nghiệm, đi tham quan các nhà máy, các viện nghiên cứu... nhất là các viện bảo tàng vũ khí.


Trong lĩnh vực vũ khí quân sự, Đức là nước đạt nhiều thành tựu. Để đọc thẳng sách về vũ khí bằng tiếng Đức, ông đã tự học thứ tiếng này. Trong ba ngày, ông học hết những nguyên tắc cơ bản của văn phạm và bắt đầu đọc sách. Sau một tháng, ông học và nhớ được khoảng 4000 từ.


Ngoài nghiên cứu về sản xuất vũ khí, ông còn tìm hiểu thêm môn khoa học quản lý. Ông cũng nhận thấy phải giữ bí mật cho những công việc của anh. Vì thế, ông đã tìm đọc những sách nói về công tác phản gián. Ông cần biết các điệp viên thường làm những gì khi điều tra đối tượng của họ, để ông giữ mình... Ông làm việc kín đáo đến mức: công việc ông làm trong mười một năm vẫn không ai hay, trừ một vài người bạn.


Sau khi tốt nghiệp các trường đại học, ông đã lần lượt làm việc tại ba công ty chế tạo máy bay của Pháp. Trong thời gian này, ông đã thu thập thêm kiến thức về pháo, súng máy và bom mìn đồng thời quan sát các ụ súng của quân đội Pháp chuẩn bị để ứng chiến với phát xít Đức. Qua mối quan hệ rộng rãi, ông lặng lẽ tìm kiếm các bí mật quân sự, các bản thiết kế vũ khí. Dần dà ông thu thập được hơn 30 nghìn trang tài liệu về vũ khí, hầu hết là tài liệu mật.


Năm 1946, ông có mặt trong đoàn đại biểu Việt kiều đến thăm chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Pháp. Khi chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi ông ‘’Nguyện vọng của chú lúc này là gì ?’’. Cảm động trước sự quan tâm của chủ tịch đối với mọi người và bản thân ông, ông trả lời điều mà ông ôm ấp từ khi dời bến cảng Nhà Rồng sang Pháp "Kính thưa Cụ. Nguyện vọng cao nhất của cháu là được trở về Tổ quốc cống hiến hết năng lực và tinh thần". Sau đó, chủ tịch Hồ Chí Minh lại hỏi tiếp ông.


Câu thứ nhất: "ở nhà cực khổ lắm, chú về có chịu được không?" – Ông thưa: "Chịu nổi".

Câu thứ hai: "Bây giờ ở nhà kỹ sư, công nhân về vũ khí không có, máy móc thiếu, liệu chú có làm được việc không?" - Ông nói: "Thưa cụ, tôi đã chuẩn bị mười một năm rồi và tôi tin là làm được."


Và từ đó, từ bỏ chức vụ kỹ sư trưởng ở một hãng nghiên cứu - chế tạo máy bay với đồng lương tương đương 22 lạng vàng một tháng, ông quyết định theo chủ tịch Hồ Chí Minh cùng một số trí thức khác về nước (9/1946), chỉ mang theo duy nhất những tài liệu mà ông thu nhặt được trong suốt 11 năm (gần 1 tấn tài liệu).

huy thanh
28-06-2009, 10:41 PM
Bẩy ngày sau khi về nước (27/10/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao nhiệm vụ cho ông lên Thái Nguyên cùng cán bộ công nhân xưởng Giang Tiên tiến hành nghiên cứu chế tạo đạn badôca, một loại vũ khí mới chủ yếu đánh xe tăng thời đó. Tháng 11 năm 1946, ông đã chỉ đạo xưởng Giang Tiên sản xuất thành công một khẩu súng badoca 60 mm và 50 quả đạn. Khi bắn thử đạn nổ nhưng chưa xuyên.


Ngày 5/12/1946, chủ tịch Hồ Chí Minh gặp trực tiếp giao trọng trách cho ông làm Cục trưởng Cục quân giới, đồng thời đặt tên cho ông là Trần Đại Nghĩa để nhắc nhở ông trách nhiệm vô cùng quan trọng của mình đồng thời cũng là bảo vệ gia đình ông ở miền Nam.


Cuối tháng 2 năm 1947, công binh xưởng dưới sự chỉ đạo của ông đã sản xuất thành công súng badôca với độ xuyên sâu 75cm trên tường thành gạch xây tương đương với sức nổ xuyên của đạn badôca do Mỹ chế tạo. Ngày 5 tháng 3 năm 1947, đạn badôca vừa xuất xưởng đã được sử dụng bắn cháy 2 xe tăng của quân Pháp tại vùng chùa Trầm (Hà Đông). Chiến công này góp phần bẻ gẫy cuộc tấn công của quân Pháp ra vùng Chương Mỹ, Quốc Oai (trích lịch sử ngành kĩ thuật QĐNDVN-tập1,NXB QĐND 1996, trang 60). Trong chiến dịch Thu Đông (1947), súng badôca còn bắn thủng cả tàu chiến Pháp ngược dòng sông Lô lên Việt Bắc. Vũ khí của Việt Nam lúc này rất hiếm, riêng badôca là loại vũ khí quí. Trong lịch sử chiến tranh badôca xuất hiện lần đầu tiên trên thể giới vào năm 1943, đối với một đất nước vừa thoát khỏi cảnh thuộc địa và nửa phong kiến đã chế tạo thành công loại vũ khí hiện đại này, quả là một huyền thoại (badôca cũng là một loại tên lửa, sau khi đạn bay ra khỏi nòng động cơ của quả đạn vãn tiếp tục hoạt động).


Đánh địch cố thủ trong lô-cốt bê-tông cốt thép, bộ đội Việt Nam cho nổ bộc lôi cỡ lớn hoặc mìn lõm cỡ lớn. Cách đánh đó nguy hiểm cho xung kích, bộ đội phải ém sát đối phương. Các nước, người ta dùng đại bác hạng trung và hạng nặng hoặc đạn bay. Lúc bấy giờ, bộ đội Việt Nam chưa có đạn bay. Còn đại bác, thì chỉ trong những chiến dịch lớn, mới lôi ra dùng, vì nó nặng quá. Ông nghĩ đến việc chế tạo một loại súng nhẹ, có thể vận chuyển dễ dàng trên đôi vai bộ đội, nhưng lại có sức công phá ngang một cỗ đại bác sáu tấn thép. Ông nghĩ tới súng không giật (SKZ). Đây là loại vũ khí hiện đại, mới xuất hiện lần đầu trong trận quân Mỹ đổ bộ lên đảo Ô-ki-na-oa (Nhật Bản) cuối chiến tranh thế giới thứ hai. Tất nhiên, mọi kết quả tìm tòi, nghiên cứu, thiết kế về thứ súng ấy đều được giữ bí mật hoàn toàn. Ông cùng các cộng sự gần gũi như Nguyễn Trinh Tiếp phải lặp lại các công việc của nhà sáng chế – phát minh, độc lập với người Mỹ. Cuối cùng, ông đã thành công. Chỉ sau SKZ của Mỹ mấy năm, SKZ Việt Nam xuất hiện lần đầu trong trận Phố Lu, đánh phá tan tành các lô-cốt của Pháp có tường bê-tông dày hơn một mét. Sau SKZ, ông tiếp tục nghiên cứu và chế tạo đạn bay. Và ông cũng đã thành công loại tên lửa nặng 30 ki-lô-gam có thể đánh phá các mục tiêu cách xa bốn ki-lô-mét.


Năm 35 tuổi, ông được phong quân hàm Thiếu tướng (một trong 10 vị tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, được phong năm 1948).


Năm 36 tuổi ông là Cục trưởng Cục quân giới kiêm chức vụ Cục trưởng Pháo binh (8/1949-11/1951). Ông đã góp phần quan trọng xây dựng lực lượng pháo binh để tham gia chiến dịch Biên giới năm 1950, và sau này là chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch Đông Xuân 1953-1954.


Tháng 9 năm 1950, ông được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ công thương. (Ông giữ chức vụ này cho đến tháng 9 năm 1960).


Ngày Quốc tế lao động năm 1952, ông được tuyên dương Anh hùng lao động trong số bảy Anh hùng của Đại hội chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc được tổ chức tại Việt Bắc.


Hòa bình lập lại, ông được điều ra khỏi quân đội phụ trách công nghiệp và xây dựng. 15/10/1956, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội được thành lập, ông được cử giữ chức vụ hiệu trưởng đầu tiên của trường.


Miền Bắc bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và chuẩn bị cho kế hoạch giải phóng miền Nam, ông được cử giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng (9/1960-2/1963).


Từ tháng 2 năm 1963 đến tháng 3 năm 1972, ông là Phó Chủ nhiệm ủy ban kiến thiết nhà nước kiêm Phó Trưởng ban cơ khí Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ 10/1965 đến 8/1966, ông là Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước.


Năm 1966, ông được bầu làm Viện sĩ nước ngoài Viện Hàn lâm khoa học Liên xô, danh vị cao nhất của những người làm công tác khoa học thời kì đó.


Đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, ông được điều trở lại quân đội giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục hậu cần phụ trách kĩ thuật rồi sau đó kiêm chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục kĩ thuật Quân đội Nhân dân Việt Nam từ năm1972 đến năm 1977. Trong thời kì này, ông có những đóng góp không nhỏ trong việc cải tiến vũ khí, kĩ thuật nhằm chống lại chiến tranh phá hoại do Mỹ gây ra.


Đất nước thống nhất, tháng 3 năm 1977 ông chuyển ngành và được cử giữ chức Viện trưởng Viện khoa học Việt Nam cho đến tháng 1 năm 1983. Đây chính là tiền thân của Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ quốc gia ngày nay.


Năm 1983, ông nhận nhiệm vụ vận động đội ngũ trí thức trong tất cả các ngành khoa học và công nghệ thành lập Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp hội). Giáo sư Trần Đại Nghĩa trở thành Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp hội, nhiệm kỳ 1983-1988. Đồng thời, ông còn là Chủ tịch Ủy ban nghiên cứu vũ trụ Việt Nam.


Là một trí thức đi học ở Châu Âu đã nhiều năm, mang một lòng nhiệt tình về phụng sự tổ quốc, phục vụ kháng chiến, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa đã có công to trong việc xây dựng quân giới, luôn luôn gần gũi, giúp đỡ, dạy bảo và học hỏi những người công nhân, đã thắt chặt lý luận với thực hành. Ông là một người sống rất giản dị, mẫu mực, hiền lành bao dung với mọi người được nhân dân cả nước và đồng nghiệp yêu quý, mến phục. Ông còn là người đại diện xuất sắc cho đội ngũ khoa học Việt Nam. Dù ở cương vị nào ông cũng qui tụ được đội ngũ trí thức, đoàn kết họ, hướng họ vào mục tiêu xây dựng một nền khoa học Việt nam hiện đại, đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra. Ông đã thu phục được nhiều người nhờ đức đọ, trí tuệ của mình. Các công trình nghiên cứu của ông còn được quốc tế đánh giá cao.


Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa là một nhà khoa học lớn rất yêu nước, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hết và thiết tha với sự nghiệp khoa học. Cả cuộc đời, ông đã luôn chăm lo, bồi dưỡng và đặt nhiều kỳ vọng vào lớp trí thức trẻ góp sức làm vinh quang cho Tổ quốc.’’ Nhiệm vụ của Bác giao cho tôi và tập thể các nhà khoa học Việt nam là tham gia về mặt vũ khí và khoa học quân sự trong hai cuộc kháng chiến đã được hoàn thành. Từ nay đến hàng nghìn năm sau chúng tôi xin bàn giao lại nhiệm vụ bảo vệ Tổ Quốc cho thế hệ ngày nay và thế hệ mai sau.’’ (Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa đã ghi những dòng này vào sổ tay ngày 30/4/1975).

huy thanh
28-06-2009, 10:43 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Le-Ngoc-Hien.jpg

Thượng tướng Lê Ngọc Hiền (1928-18/4/2006), nguyên : Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1974-1995), Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Căm-pu-chia-Mặt trận 719 (1986-1988), Tham mưu trưởng Chiến dịch Hồ Chí Minh (4/1975), Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (1970-1974), Cục trưởng Cục tác chiến Bộ tổng tham mưu (1964-1969), Cục trưởng Cục quân huấn (1960) Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ngoài ra Thượng tướng Lê Ngọc Hiền còn giữ các chức vụ Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (dự khuyết khóa 4, chính thức khóa 5 và 6).

Ông được phong quân hàm Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1986).

Huân chương Độc lập hạng Nhất, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương chiến công hạng Nhất, Huân chương chiến thắng hạng Nhất, Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất của Nhà nước Cam-pu-chia.

Thượng tướng Lê Ngọc Hiền (tên thật là Nguyễn Ngọc Thiện) sinh tại xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây.

Tháng 10 năm 1944, ông tham gia công tác in ấn và phát hành báo Độc Lập tại thành phố Hà Nội. Sau đó, tháng 3 năm 1945, ông tham gia Hội thanh niên cứu quốc trên cương vị Bí thư thanh niên cứu quốc Thị xã Sơn Tây.

Tháng 5 năm 1945, ông được cử đi học lớp Quân chính kháng Nhật, là đội viên của đội công tác xây dựng cơ sở giao thông từ chiến khu Việt Bắc về Hòa Bình. Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông tham gia khởi nghĩa ở khu vực thị xã Sơn Tây.

Từ tháng 8/1945 đến tháng 4/1947, ông tham gia bộ đội địa phương thuộc các tỉnh Sơn Tây, Ninh Bình, Nam Ðịnh.


Từ tháng 5/1947 đến tháng 2/1955, ông lần lượt giữ các cương vị Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng các Trung đoàn 48, Trung đoàn 64 và Trung đoàn 66 thuộc Ðại đoàn 320, tháng 11/1953 là Tham mưu trưởng Ðại đoàn 320 cho đến đến tháng 2-1955.


Từ tháng 3 năm 1955 đến năm 1956, ông là Phó cục trưởng Cục Quân huấn. Từ năm 1957 đến năm 1959, ông được cử đi học tại Học viện Quân sự cấp cao Trung Quốc. Năm 1960, về nước, ông là Cục trưởng Cục Quân huấn. Năm 1961, ông lại được cử đi học tại Học viện Quân sự Phunde Liên Xô. Sau khi từ Liên Xô về, từ năm 1962 đến năm 1964, ông được cử giữ chức vụ Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Từ năm 1964 đến năm 1969, ông là Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu. Năm 1967,ông được cử là phái viên của Bộ Tổng Tham mưu tham gia chỉ huy tác chiến ở Khu Đông chiến dịch Đường 9 là chiến dịch Đường 9 Khe Sanh trên cương vị Phó Tư lệnh Mặt trận Trị Thiên (B5).

Từ tháng 8 năm 1970 đến đầu năm 1974, ông làm Phái viên của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đi truyền đạt nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Trung ương Đảng cho Trung ương cục Miền. Sau đó ở lại chiến trường miền Nam, được cử giữ chức Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam.

Tháng 4 năm 1974, ông được Trung ương lệnh ra Bắc gấp. Sau 11 năm mang quân hàm Đại tá (1963-1974) ông được phong quân hàm Thiếu tướng, được bổ nhiệm giữ chưc Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Đích thân Đại tướng Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đã thông báo quyết định này đông thời giao nhiệm vụ cho ông trách nhiệm khó khăn là chủ trì Soạn thảo kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975 và 1976 đệ trình Bộ chính trị và Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam.

Bản kế hoạch giải phóng miền Nam do ông chủ trì được Bộ chính trì đánh giá cao và thông qua đặc biệt là việc chọn Tây Nguyên làm chiến trường trọng điểm có tính chất đột phá, và chỉ yêu cầu bổ sung thêm cho chi tiết.


Ngày 16 tháng 1 năm 1975, ông vào chiến trường Tây Nguyên tham gia thiết lập Sở chỉ huy phía trước của Bộ Tổng Tham mưu nhằm chuẩn bị chiến trường cho trận đánh có tính chất quyết định-cú đấm chiến lược làm thay đổi nhanh chóng cục diện chiến trường, triển khai kế hoạch giải phóng miền Nam do chính ông chủ trì. Sau chiến thắng Buôn Mê Thuột ông vào chiến trường miền Đông Nam Bộ và được cử làm Tham mưu trưởng chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, có nhiệm vụ vạch kế hoạch tác chiến cho trận đánh lịch sử này.

Từ năm 1977 đến năm 1986, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng thường trực chỉ huy tác chiến tại Sở chỉ huy Bộ Tổng Tham mưu ở phía Nam. Năm 1980, ông được phong quân hàm Trung tướng. Từ cuối năm 1986, ông được chỉ định làm Tư lệnh Mặt trận 719 (Quân tình nguyện Việt Nam tại Căm Pu Chia).

Từ tháng 8 năm 1988 đến ngày 30 tháng 10 năm 1995, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam phụ trách tổng kết, chỉ đạo chiến tranh. Năm 1996, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu.

Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp là người rất yêu mến Thượng tướng Lê Ngọc Hiền, bởi sự tận tụy của một người làm công tác tác chiến và sự kiên định của ông. Trong một bức thư tay gửi cho ông ngày 7/3/1975 , Đại tướng Tổng tư lệnh viết hết sức thân tình :

“Cậu Hiền-nhân dịp anh Sáu và cậu Võ Quang Hồ vào, viết thư Văn thăm chúng mày, chào mừng quân ta ra quân đại thắng trên hướng Tây Nguyên. Chúc mày và anh em khoẻ hăng, đánh giỏi sắp tới góp phần cống hiến xứng đáng vào cuộc quyết chiến chiến lược lịch sử giành lại thắng lợi. Mình vẫn khoẻ. Võ Quang Hồ đi ở nhà cũng vất vả thêm chút ít, mong nó về sớm. Có ý kiến gì Hồ sẽ nói lại”

Cái biệt danh ‘’Hiền tác chiến’’ bạn bè đặt cho ông là vì lí do, trong cuộc đời binh nghiệp 50 năm của mình thì có đến phân nửa thời gian ông làm công tác tác chiến.

Bài viết và ảnh : Theo Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam

huy thanh
28-06-2009, 10:45 PM
http://img156.imageshack.us/img156/3969/tranvantrayn3.jpg

Thượng tướng Trần Văn Trà (1919-1996), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Ủy viên thường trực Quân ủy Trung ương (5/1978-1982), Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7 (5/1976-1978), Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố Hồ Chí Minh (5/1975), Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam tại Ủy ban liên hợp đình chiến bốn bên ở Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh), Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam Phó Bí thư Quân ủy miền Nam, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1955-1962) kiêm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn (1958) kiêm Giám đốc Học viện Quân chính và Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương (3/1961), Phó Tư lệnh Nam Bộ kiêm Tư lệnh Phân khu miền Đông Nam Bộ (1951-1954), Tư lệnh kiêm Chính ủy khu Sài Gòn Chợ Lớn, Tư lệnh liên khu 7 (1949-1950), Chính trị viên Giải phóng quân Liên quân Hóc Môn-Đức Hòa-Bà Điểm (1945-1946), Khu trưởng khu 8 (3/1946-1948).

Ngoài ra ông cũng từng giữ các chức vụ Phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam (1992-1996), Đại biểu Quốc hội Khóa 6, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (dự khuyết khóa 3, chính thức khóa 4), Ủy viên Trung ương cục miền Nam (1966-1972), xứ Ủy viên Nam Bộ (1946-1948), Ủy viên kì bộ Việt Minh Nam Bộ (1945-1946).

Ông được phong quân hàm Trung tướng (năm 1959), Thượng tướng (năm 1974).

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất ...

Thượng tướng Trần Văn Trà (tên thật : Nguyễn Chấn, bí danh : Tư Chi, Ba Trà, Tư Nguyễn), sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Long Tịnh, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một vùng quê nghèo khó nhưng giàu tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau ở vùng duyên hải miềnn Trung, một vùng mà phong trào cách mạng rất cả kể cả thời Văn Thân cho đến phong trào do Đảng cộng sản lãnh đạo.


Thượng Tướng Trần Văn Trà (Nguyễn Chấn) sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Tịnh Long. Gia đình ông không có ruộng, cha ông làm thợ xây, còn mẹ ông mua gánh bán bưng nuôi anh em ông ăn học. Cha ông tham gia phong trào cách mạng 1930-1931. Thuở thiếu thời từng chứng kiến cảnh thực dân Pháp đàn áp, bắn giết những người tham gia biểu tình, những người yêu nước ở quê hương cùng ảnh hưởng của văn thơ yêu nước cho nên ông luôn mơ ước làm việc gì đỏ để giải phóng dân tộc.

Năm 1936, ông thi vào học Trường kỹ nghệ Huế và ông tham gia phong trào học sinh yêu nước đòi dân sih dân quyền khi đang học ở trường kỹ nghệ thực hành Huế. Năm 1938, ông được chi bộ trường kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Học xong, ông tham gia dậy học ở trường Kỹ nghệ.


Năm 1939, ông vào Sài Gòn làm công nhân hỏa xa và tiếp tục hoạt động cách mạng. Tháng 12 năm 1939 ông bị địch bắt tại Sài Gòn và bị đưa về giam tại nhà lao Huế và nhà lao Thừa Thiên, sau 5 tháng được trả lại tự do nhưng bị quản thúc vô thời hạn ở quê. Tháng 3 năm 1941, ông trốn lên Đà Lạt tiếp tục hoạt động rồi về Nha Trang, sau đó trở lại Sài Gòn thì bắt được liên lạc với Cách mạng. Ông được giao phụ trách Giải phóng và cơ quan ấn loát của Kỳ Bộ Việt Minh. Tháng 11 năm 1944 ông bị địch bắt lần thứ hai và bị giam tại Khám Lớn Sài Gòn.


Ngày 22 tháng 8 năm 1945, chỉnh phủ Trần Trọng Kim phóng thích tù chính trị, ra khỏi tù ông tham gia Tổng khởi nghĩa và là Uỷ viên Kỳ bộ Việt Minh Nam Bộ do ông Nguyễn Văn Nguyễn phụ trách.

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp tái chiếm Nam Bộ, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ông trở thành người lính tham gia trận đánh đầu tiên giữ mặt trận Cầu Bông trong nội thành Sài Gòn. Mặt trận Sài Gòn vỡ, cơ quan lãnh đạo chuyển về My Tho. Ông xin ở lại Sài Gòn chiến đấu. Trung ương tăng cường cho Nam Bộ lực lượng Nam tiến. Ông Nguyễn Bình vào chỉ huy Khu 7, Đào Văn Trường chỉ huy khu 9, ông Vũ Đức (tức Hoàng Đình Giong) chỉ huy Khu 9. Với tư cách là chính trị viên ông đưa Giải phóng quân liên quận Hóc Môn Bà Điểm Đức Hòa về tăng cường chấn chính khu 8, lập Chi đội 14 do ông làm Chi đội trưởng và bắt đầu xây dựng căn cứ địa Đồng Tháp Mười.

Tháng 9 năm 1946, ông được Trung ương chỉ định làm Khu trưởng Khu 8, ông Trương Văn Giàu làm khu phó, ông Nguyễn Văn Vịnh làm Chính ủy. Cuối năm 1947, đơn vị chủ lực cơ động đầu tiên của Nam Bộ được thành lập, tiểu đoàn 307 thuộc khu 8.

Giữa năm 1948, ông dẫn đầu đoàn đại biểu Quân dân chính Nam Bộ ra Việt Bắc báo cáo tình hình với Trung ương. Trước khi về Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đích thân trao tặng ông thanh gươm và dặn: "Bác trao cho chú thanh gươm qúy này để đưa cho đồng bào miền Nam diệt thù. Các chú báo cáo với đồng bào rằng lòng Bác, lòng Đảng lúc nào cũng bên cạnh đồng bào. Chúng ta đồng lòng vì nước, nhất định chúng ta thắng".

Ngày 31 tháng 3 năm 1949 ông được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cử làm Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Nam Bộ do tướng Nguyễn Bình làm Tư lệnh. Tướng Nguyễn Bình hy sinh, khi đó Nam Bộ được chia ra làm hai phân liên khu: miền Đông, miền Tây. Ông là Tư lệnh miền Đông do ông Phạm Hùng làm Chính ủy, Nguyễn Văn Vịnh Phó Tư lệnh. Từ năm 1950 đến năm 1954 ông là Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Nam Bộ kiêm Tư lệnh và Chính uỷ Khu Sài Gòn - Chợ Lớn; Khu uỷ viên; Tư lệnh Phân liên khu miền Đông Nam Bộ; Phân liên Khu uỷ.

Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông chỉ huy lực lượng tập kết ra Bắc và được cử giữ chức vụ Phó Tổng tham mưu trưởng (1955). Từ năm 1956-1958, ông sang học ở Liên xô cùng các ông Nam Long, Vũ Lăng, Vũ Yên, Nguyễn Văn Minh, Đỗ Đức Kiên. Đây là đoàn cán bộ quân sự Việt Nam đầu tiên sang học ở Học viện Cao cấp Liên Xô, nhưng sau đó bị bệnh ông phải quay trở lại Việt Nam, mãi đến năm 1960-1961 ông mới qua học lại.

Năm 1958, ông được phong quân hàm Trung tướng tháng 4 năm 1958 ông được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bổ nhiệm giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn. Từ năm 1959, nghị quyết 15, ông xin vào Nam chiến đấu nhưng do bệnh chưa lành cho nên không đi đuợc.

Năm 1959, việc tổ chức lực lượng cán bộ tập kết ra Bắc trở vào Nam được đặt ra. Ông và ông Nguyễn Văn Vịnh đề bạt với tổng bí thư và được chấp nhận. Ông đựoc Trung ương và Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ chọn, huấn luyện, đưa cán bộ tập kết trở về chiến đấu và tổ chức đường mòn Hồ Chí Minh. Bên cạnh việc giao cho ông Võ Bẩm tìm cách mở đường Trường Sơn ông cũng giao cho ông Võ Bẩm tổ chức vận tải trên biển cho khu 5 lấy tên là 759, nhưng thất bại. Đến năm 1960-1961, một số ghe thuyền do Trung ương cục miền Nam phái ra xin vũ khí, ông nghiên cứu phương án khả thi và tổ chức đường 759 trên biển trở lại. Chuyến đầu tiên đi bằng tàu gỗ, khởi hành năm 1962, chở 28 tấn vũ khí, cập bến Rạch Gốc thuộc Cà Mau thành công. Sau ông chỉ đạo đóng tàu sắt chở 100 tấn. Ông mời ông Nguyễn văn Đảnh cục trưởng Cục đuờng biển tham gia đóng tàu. Ông trực tiếp lo tổ chức vẩn chuyển người và vũ khí cả hai đường 559 và 759 cho đến năm 1963 khi ông trở lại miền Nam trực tiếp chỉ huy chiến đấu mới giao lại cho Bộ Tổng Tham mưu phụ trách.


Năm 1962 ông là Giám đốc Học viện Quân chính và Chánh án Toà án Quân sự Trung ương. Năm 1963 ông được Trung ương cử vào miền Nam đảm nhiệm chức vụ: Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Phó Bí thư Quân uỷ Quân giải phóng miền Nam, Uỷ viên Trung ương Cục miền Nam.


Ngày 1 tháng 3 năm 1973 ông là Trưởng đoàn đại biểu Quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại Ban Liên hợp Quân sự bốn bên ở Sài Gòn, Phó bí thư Quân uỷ Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Tháng 11 năm 1974, ông và ông Phạm Hùng ra Bắc họp. Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng có lãnh đạo và chỉ huy các chiến trường tham dự vào tháng 12 năm 1974, đã hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975-1976. Ta phải đánh mạnh vào năm 1975 mới kết thúc thắng lợi năm 1976, thời cơ nhằm vào năm 1975.


Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (4/1975) ông là Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ngày 5 tháng 12 năm 1975 ông là Chủ tịch Uỷ ban Quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định.


Sau chiến tranh chống Mỹ cứu nước, từ năm 1976 đến năm 1978 ông là Tư lệnh kiêm Chính uỷ Quân khu 7. Từ năm 1978 đến năm 1982 ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.


Năm 1982, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, ông từng là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam dự khuyết khoá III (năm 1960), chính thức khoá IV (năm 1976) và là Đại biểu Quốc hội khoá VI.


Từ năm 1993 đến năm 1996 ông là Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam, kiêm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi ông mất, gia đình ông đã giành một quỹ để giúp đỡ học sinh sinh viên, cựu chiến binh…có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống.

Bài viết: theo Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

huy thanh
28-06-2009, 10:47 PM
http://img156.imageshack.us/img156/1506/tuongphungchikienwg4.jpg

Tướng Phùng Chí Kiên (1901-22/8/1941), liệt sĩ, chỉ huy Chiến khu Bắc Sơn-Võ Nhai và Trung đội cứu quốc quân 1 (1941). Ông được coi là nhà lãnh đạo quân sự đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tướng Phùng Chí Kiên cũng từng giữ chứ vụ Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam)

Ông được truy phong quân hàm cấp tướng (không nói rõ cấp bậc cụ thể) năm 2003.

Tướng Phùng Chí Kiên (tên khai sinh là Nguyễn Vĩ, ông còn có tên khác là Mạch Văn Liễu) sinh tại làng Mỹ Quan, tổng Vạn Phần (nay là xã Diễn Yên), huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Tuy nhà nghèo, nhưng ông vẫn được cha mẹ cho đi học sớm. Lớn lên, là một thanh niên có học, ông sớm giác ngộ cách mạng và tích cực tham gia nhóm đọc sách báo tiến bộ ở quê nhà. Nhà ông là một cơ sở của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội.

Năm 1925, ông ra làm thuê cho một thương nhân người Hoa ở ga Yên Lý, thuộc huyện Diễn Châu, nằm trên tuyến đường sắt Hà Nội-Sài Gòn. Thời gian này, tổng bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội ở Quảng Châu (Trung Quốc) đã cử cán bộ về Nghệ Tĩnh hoạt động. Nhiều thanh niên, học sinh ở đây được giác ngộ và đưa sang Quảng Châu học tập. Là một thanh niên có học, nhạy bén với thời cuộc, tháng 10/1926, ông cùng một số hội viên được giới thiệu sang Quảng Châu tham dự khóa huấn luyện đầu tiên của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc rồi sau đó được vào học tại trường võ bị Hoàng Phố của chính phủ Tôn Trung Sơn.

Năm sau, Tưởng Giới Thạch phản bội, nhà trường bị đóng cửa, ông cùng với cán bộ cách mạng Việt Nam đứng về phía Đảng Cộng sản Trung Quốc chống lại hành động phản cách mạng của bọn quân phiệt. Phùng Chí Kiên gia nhập quân cách mạng và tham gia khởi nghĩa Quảng Châu (12/12/1927) do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa thất bại, quân cách mạng rút về xây dựng khu Xô Viết ở hai huyện Hải Phong và Lục Phong. Với cương vị là đại đội trưởng quân cách mạng, ông đã cùng cán bộ Đảng cộng sản Trung Quốc chịu đựng gian khổ, kiên trì bảo vệ cách mạng.

Tháng 2 năm 1931, được sự giới thiệu của Nguyễn Ái Quốc, ông sang học tài trường đại học Phương Đông của Quốc tế cộng sản. Đến Mãn Châu, ông bị phát-xít Nhật bắt giam gần một năm. Ra tù, ông đổi tên là Can rồi tiếp tục lên đường sang Liên Xô học. Tại đây ông học tập chủ nghĩa Mác Lênin và nghiên cứu kinh nghiệm đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước của nhân dân Liên Xô để sau này áp dụng vào Việt Nam.

Đầu năm 1934, ông về Hương Cảng (Trung Quốc) tham gia Ban lãnh đạo ở nước ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương do nhà cách mạng Lê Hồng Phong đứng đầu. Đến đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng họp ở Ma Cao (3/1935), ông được bầu vào ban chấp hành Trung ương Đảng, được cử làm Ủy viên thường vụ Đảng.

Tháng 8/1936, ông được cử về Sài Gòn cùng ông Hà Huy Tập trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước theo tinh thần nghị quyết lần thứ 7 của Quốc tế cộng sản và Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 16/7/1936. Một năm sau, do yêu cầu mới, ông Lê Hồng Phong về Sài Gòn hoạt động còn ông lại sang Trung Quốc chỉ đạo công tác Đảng ở nước ngoài với tấm thẻ căn cước Phùng Ngươn Vĩnh.

Đầu năm 1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến Côn Minh, ông được cử đi báo cáo với lãnh tụ về tình hình hoạt động của Đảng ở nước ngoài. Trong thời gian này, ông nhiều lần đi cùng lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đi công tác ở các nơi nhu Mông Tự, Nghi Lương, Khai Viễn, Chi Thiện…thuộc tỉnh Vân Nam.

Tháng 6/1940, Pháp đầu hàng Đức, Nhật nhảy vào Đông Dương. Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ông họp Banh lãnh đạo của Đảng ở nước ngoài bàn việc vận động thành lập Hội Việt Nam độc lập đồng minh, đồng thời khẩn trương chuẩn bị cho lãnh tụ về nước. Ông cùng với lãnh tụ chuyển tới Tĩnh Tây-một thị trấn thuộc tỉnh Quảng Tây giáp biên giới Việt Trung.

Nhận được tin lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về đến Tĩnh Tây, Trung ương Đảng ở trong nước cử ông Hoàng Văn Thụ sang đón. Sau khi thống nhất kế hoạch với ông Hoàng Văn Thụ, ông đã tập hợp bốn mươi thanh niên để lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc huấn luyện thành những cán bộ cốt cán, đưa về Cao Bằng xây dựng thí điểm các đoàn thể Việt Minh, lập căn cứ cách mạng. Dựa theo tài liệu huấn luyện của lãnh tụ, ông cùng với các ông Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp biên soạn thành bài giảng nhằm làm tài liệu huấn luyện cho các bộ khi về nước. Những tài liệu này sau được in thành sách với nhan đề ‘’Con đường giải phóng’’.

Ngày 28/1/1941, ông theo lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khi đó đã là Hồ Chí Minh về Pác Bó, tỉnh Cao Bằng. Ở đây, ông hoạt động cạnh Hồ Chí Minh và đóng góp phần quan trọng vào việc xây dựng, bảo vệ khu căn cứ.Ông đã tích cực tham gia vào việc tổ chức các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ Việt Minh cho các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn…và các tỉnh miền xuôi. Đến hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5/1941), ông tiếp tục là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, được cử phụ trách quân sự, trực tiếp chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn-Võ Nhai và trung đội Việt Nam cứu quốc quân.

Cuối tháng 6 năm 1941, quân Pháp mở cuộc càn quét lớn vào khu căn cứ cách mạng nhằm bắt các lãnh đạo của Đảng, tiêu diện cơ quan đầu não của Việt Minh và lực lượng vu trang cách mạng mới hình thành. Pháp huy động tới 4000 quân gồm đủ sắc lính tổ chức thành ba mũi tấn công vào khu căn cứ. Cánh quân từ Lạng Sơn kéo xuống càn quét các xã Hưng Vũ, Tân Lập, Vũ Lăng thuộc Bắc Sơn. Cánh quân thứ hai từ Thái Nguyên qua Đình Cả càn vào xã Trưưong Xá, Phú Thượng, La Hiên, Lũng Mười thuộc Võ Nhai. Cánh quân thứ ba từ Bắc Giang lên khép vòng vây ở huyện Hữu Lũng và Yên Thế. Quân Pháp bịt chặt đường ra lối vào, đi đến đâu đốt sạch làng bản, giết sạch gia súc và phá vườn cây ăn quả. Chúng triệt hạ các bản lẻ và thi hành chính sách tát nước bắt cá dồn dân tập trung vào các trại Đình Cả…

Không khí khủng bố căng thẳng đến nghẹt thở, hàng trăm gia đình chạy vào rừng sâu, sống trong hang động vô cùng thiếu thốn. Các cơ sở bí mật của Trung ương và Cứu quốc quân bị uy hiếp nghiêm trọng. Trong cuộc họp khẩn cấp tại Khuổi Nọi (xã Vũ Lễ), ban chỉ huy Cứu quốc quân quyết định cử một tổ bảo vệ và dẫn các lãnh đạo Trung ương qua Tràng Xá về xuôi an toàn. Còn toàn đội phối hợp với tự vệ chiến đấu hoạt động phân tán, bám dân, duy trì và bảo vệ cơ sở cách mạng. Ông Hoàng Quốc Việt, Ủy viên thường vụ Trung ương ở lại căn cứ đảng bộ Võ Nhai tổ chức lực lượng đối phó với quân Pháp. Phùng Chí Kiên chỉ huy đội Cứu quốc quân Bắc Sơn chiến đấu anh dũng, phá một số trận càn lớn của Pháp, góp phần giữ vững tinh thần cách mạng của nhân dân trong vùng, tiêu biểu là trận chống càn ở Gia Huần (Vu Lễ). Cứu quốc quân tuy cố găng nhưng phải di chuyển luôn, tiếp tế khó khăn, sức lực giảm dần. Ban lãnh đạo căn cứ Bắc Sơn Võ Nhai quyết định để lại một tiểu đội chặn quân Pháp, còn hai tiểu đội phá vòng vây của Pháp rút lên Cao Bằng để bảo toàn lực lượng.

Ngày 19/8/1941, cánh quân của ông và ông Lương Văn Tri qua châu Na Rỳ, Bắc Kạn thì bị phục kích nhưng đơn vị thoát được. Ngày 21/8, đơn vị lại bị phục kích tại xã Bằng Đức. Châu phủ huy động lính dõng khép kín vòng vây. Ông Lương Văn Nho trúng đạn rồi hy sinh, mặc dù bị thương nặng ông vẫn giữ chặt khẩu súng, bắn chặn để cho đồng đội thoát khỏi vòng vây. Bắn hết đạn ông bị bắt.

Châu phủ gán cho ông là tướng cướp và để cho quân lính mặc sức hành hung. Ông bình tĩnh giải thích :

- Chúng tôi là người yêu nước đi đánh Pháp đuổi Nhật để giải phóng đồng bào. Chúng ta là người Việt Nam, cần đoàn kết chống kẻ thù chung.

Lời giải thích của ông làm thức tính một số lính dõng. Ngay lập tức Châu phủ ra lệnh chặt đầu ông rồi đem cắm ở đầu cầu Ngân Sơn để uy hiếp tinh thần cán bộ, nhân dân địa phương.

Tướng Phùng Chí Kiên không những là nhà lãnh đạo quân sự đầu tiên của Đảng mà còn là người có công xây dựng, phát triển nền quân sự cách mạng Việt Nam cũng như đào tạo đội ngũ cán bộ quân sự lớp đầu tiên của Cách mạng Việt Nam. Là một nhà chính trị đồng thời là nhà quân sự được đào tạo bài bản tại Trung Quốc và Liên Xô, ông được phát hiện và dìu dắt bởi Bác Hồ và là học trò thế hệ đầu tiên của Người. Để đánh giá tài năng và công lao của ông, người ta vẫn thường nói rằng nếu ông còn sống thì Việt Nam sẽ có hai Võ Nguyên Giáp.

Bài viết : Báo điện tử Quân đội Nhân dân Việt Nam (bản cũ)

huy thanh
28-06-2009, 10:49 PM
http://img156.imageshack.us/img156/4459/daituongchuhuymanwy7.jpg

Đại tướng Chu Huy Mân (17/3/1913-1/7/2006), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Nhì), Huân chương chiến công (hạng Nhất, hạng Nhì), Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương chiến thắng hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.

Ông được phong quân hàm Thiếu tướng (1965), Thượng tướng (vượt cấp-1974), Đại tướng (1982).

‘’Đại tướng Chu Huy Mân là một cán bộ lãnh đạo cấp cao tiêu biểu của Đảng và Nhà nước, một tướng lĩnh xuất sắc, chính trị, quân sự song toàn của quân đội ta, là một tấm gương sáng cho toàn quân, toàn dân ta học tập…Đối với tôi, Đại tướng Chu Huy Mân là người đồng chí, người bạn chiến đấu thân thiết, người cán bộ mà tôi đặt nhiều niềm tin khi đồng chí được giao những nhiệm vụ quan trọng’’ (Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp)Đại tướng Chu Huy Mân (Tên thật : Chu Văn Điều. Bí danh : Vũ Chân, Lê Thế Mỹ, Trần Thanh Lạc, Hai Mạnh, Thao Chăn) sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Hưng Hòa, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.

Bố ông mất sớm, khi ông mới 14 tháng tuổi. Mẹ ông một mình tần tảo nuôi tám người con ăn học. Lên 7 tuổi, ông đi học chữ Hán ở trường làng. bấy giờ thuộc xã Yên Lưu, tổng Yên Trường, phủ Hưng Nguyên (nay thuộc TP Vinh, Nghệ An).

Hồi đó, học sinh trường làng thường hay giao lưu với học sinh Quốc học Vinh vào giao lưu. Qua những lần giao lưu ông biết đến đất nước ta bị giặc Pháp xâm lược, chia thành ba kỳ. Nhân dân khắp nơi lầm than, khổ cực, muốn thoát thân phận trâu ngựa thì phải vùng lên đánh đuổi thực dân, phong kiến. Bấy giờ ông đã thuộc lòng nhiều bài thơ, văn yêu nước của cụ Phan Bội Châu.

Năm 1925, ông mới bắt đầu giác ngộ cách mạng. Ông cũng bắt đầu nghe đến lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở nước ngoài, sắp về nước lãnh đạo cách mạng, giải phóng dân tộc. Cho đến những năm 1927 - 1928 lần đầu nghe bàn tán những từ "độc lập", "tự do", "canh tân". Một thời gian sau có thêm mấy từ "thanh niên yêu nước", "cộng sản".

Ông tham gia cách mạng từ rất sớm (1929). Đêm 30 tháng 1 âm lịch năm đó, ông được người anh họ rủ đi mít-tinh, nghe ông Trần Huy Trí diễn thuyết về cách mạng: đánh Pháp, lật đổ sự thống trị của phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Sau dó ông hòa vào dòng người tham dự mít-tinh chia thành ba đoàn rẽ đi các ngả biểu tình, hô vang các khẩu hiệu cách mạng. Đó cũng là lần đầu tiên phong trào cách mạng, phong trào cộng sản về tới làng ông. Một Chi bộ xã Yên Lưu được thành lập có ba đảng viên là các ông Trần Huy Trí, Dương Cu, Đinh Ái.

Trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930-1931), ông tham gia Tự vệ Đỏ và là Đội phó Đội tự vệ xã. Cuối năm 1930, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam khi mới 17 tuổi.

Đầu năm 1931, Pháp khủng bố mạnh nhằm dập tắt cao trào cách mạng, ông bị bọn bang tá bắt cùng với 50 người khác, bị đánh suốt ba đêm, ba ngày thậm trí chúng còn dùng roi mây ngâm nước mắm phơi khô vụt khắp người. Nhiều người không chịu nổi đã phải khai và quy thuận. Riên ông dứt khoát không khai nhận cũng không ký cam kết là sẽ không làm cách mạng. Thực dân Pháp phải thả nhưng chúng cử người theo dõi.

Cuối năm 1932, ông lại bị bắt rồi lại được thả. Đầu năm 1933, ông móc nối khôi phục cơ sở và được cử làm bí thư chi bộ xã Hưng Hòa, lúc đó mới 20 tuổi.

Sau đó thực dân Pháp đưa ông vào danh sách tình nghi cộng sản nên từ năm 1935-1939, hằng năm cứ đến các ngày 8-3, 1-5, 14-7 (Quốc khánh Pháp) và 12-9 (ngày nông dân Hưng Nguyên kéo lên Vinh biểu tình) ông phải trình diện và bị giữ lại suốt ngày hôm đó. Năm 1936, ông là Bí thư chi bộ xã Hưng Hòa rồi Bí thư phân Huyện ủy huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An.

Cuối năm 1939, ông bị bắt giam suốt bảy tháng liền ở nhà lao Vinh. Được thả ra ít ngày, đến tháng 5-1940, thực dân Pháp bắt và đưa ông đi đày ở Đắc Lây, Kontum.

Đầu năm 1943 khi tổ chức tạo điều kiện để ông vượt ngục an toàn cùng các ông Hà Thế Hạnh, Nguyễn Duy Trinh, Huỳnh Ngọc Huệ. Sau đó là những tháng ngày ông hoạt động cách mạng sôi nổi, liên tục, tham gia Ban vận động Việt Minh và Tỉnh ủy tỉnh Quảng Nam. Tổng khởi nghĩa tháng 8- 1945 thành công, ông được bầu làm Phó bí thư tỉnh ủy, rồi Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Nam. Cuối năm 1945, cấp trên điều ông ra Huế công tác, giữ chức chủ tịch Ủy ban quân chính khu C gồm bốn tỉnh Bắc Trung Bộ (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam), Chính trị viên Đường 9 Đông Hà Xa-va-na-khẹt.

Cuối năm 1946, ông được điều ra Bắc mới được ba tuần thì kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Theo các cơ quan chuyển lên căn cứ địa Việt Bắc, ông được phân công làm trưởng Ban kiểm tra xây dựng Đảng Quân khu ủy Việt Bắc, rồi sau đó chuyển sang quân đội làm trung đoàn trưởng các trung đoàn 72, 74 Cao Bằng, rồi làm chính ủy trung đoàn 174 Cao-Bắc-Lạng (1947-1949).

Ông tham gia chỉ huy Đại đoàn 316 tham gia nhiều chiến dịch (ví dụ : Tây Bắc-Thượng Lào 1952…), đặc biệt trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, Đại đoàn của ông được lệnh lên Tây Bắc rồi tham gia vào Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Đại đoàn của ông là Đại đoàn chủ lực được vinh dự đánh trận mở đầu của chiến dịch, tiêu diệt cứ điểm Him Lam (13/3/1954). Bước vào đợt 3 của chiến dịch, Đại đoàn của ông đã đánh khối bộc phá gần một tấn tại đồi A1 mở đầu cho toàn đợt. Rồi cũng Trung đoàn 174 của Đại đoàn là một trong hai Trung đoàn vào bắt sống tướng Đờ Cát (Trung đoàn còn lại là Trung đoàn 209 Sông Lô do ông Hoàng Cầm chỉ huy, thuộc Đại đoàn Chiến Thắng 312) (7/5/1954).

Tháng 8-1954, là Đoàn trưởng Bí thư Đảng ủy Đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào, giúp Cách mạng Lào xây dựng lực lượng vũ trang.

Năm 1957, ông giữ chức Chính ủy Quân khu IV; năm 1958, là Chính ủy Quân khu Tây Bắc kiêm Bí thư Khu ủy Tây Bắc.

Cuối năm 1959 đến tháng 12 năm 1960, ông được phân công là Trưởng đoàn Cố vấn chuyên gia giúp Cách mạng Lào xây dựng lực lượng vũ trang, giữ cương vị Đoàn trưởng Đoàn 100 (Đoàn chuyên gia Quân sự Việt Nam tại Lào, cố vấn cho chính phủ liên hiệp của Thủ tướng Xuvana Phuma).

Năm 1961 ông làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân khu 4. Năm 1962, ông được cử đi học tại Học viện Quân sự mang tên Phờ-run-đe của Liên Xô.

Tháng 9 năm 1963, ông được điều vào chiến trường Quân khu 5 lần lượt giữ các chức vụ: Trưởng đoàn kiểm tra của Đảng ủy quân sự Trung ương nghiên cứu tình hình khu 5, Phó Bí thư rồi Bí thư Quân ủy khu 5.

Tháng 8-1965, làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Mặt trận B3 - Tây Nguyên. Từ năm 1967 đến năm 1975, ông là Tư lệnh Quân khu 5, Phó bí thư Đảng ủy Quân khu. Tài thao lược của ông ở hai mặt trận Khu 5 và B3 đã góp phần làm nên nhiều chiến công vang dội, nổi bật như chiến thắng Ba Gia tiêu diệt chiến đoàn quân Việt Nam cộng hòa, chiến thắng lừng lẫy Plây Me – Iadrang, tiêu diệt chiến đoàn thiết giáp Việt Nam cộng hòa và lần đầu tiên tiêu diệt 1 tiểu đoàn quân Mỹ, chiến thắng giải phóng Đà Nẵng , Chiến dịch Sa Thầy v.v…

Từ 1975 đến 1976, ông là Chính uỷ, kiêm Tư lệnh, Bí thư Đảng uỷ Quân khu 5. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, ông là Chính ủy chiến dịch Huế- Đà Nẵng. Tư lệnh là Trung tướng Lê Trọng Tấn (sau này là Đại tướng-Tổng tham mưu trưởng), khi đó đang trên đường từ Bắc vào cho nên về thực tế ông là người trực tiếp chỉ huy.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng năm 1976, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị và được cử giữ chức Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Trưởng ban Kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (1977-1986), phụ trách công tác giúp Cách mạng Lào, Giám đốc Trường Nguyễn Ái Quốc (năm 1980).

Ông là đại biểu Quốc hội khoá II,VI,VII, được Quốc hội bầu làm Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước khóa VII (1981-1986), là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá III, IV, V, Ủy viên Bộ Chính trị khoá IV,V.

Ðại tướng Chu Huy Mân là một tài năng quân sự và kiên định của đất nước, có tầm chiến lược và cũng rất giỏi về chiến dịch và chiến thuật. Trong hơn 11 năm ở Quân khu V, các chiến dịch do ông trực tiếp chỉ huy đều giành thắng lợi. Là vị tướng chiến lược, ông không những là một người chỉ huy sắc sảo mà còn là một người có biệt tài về xây dựng, xây dựng bản lĩnh chính trị và quân sự, niềm tin và đạo đức cho các đơn vị và cấp dưới thuộc quyền.

Trí tuệ quân sự mẫn tiệp, rất thực tiễn, rất sinh động, là ông đã chân thành học hỏi trí tuệ và bản lĩnh của nhân dân, của cấp dưới và chiến sĩ. Trí tuệ ấy tỏa sáng và hấp dẫn được cán bộ và chiến sĩ tự nguyện sôi nổi và hào hứng tiếp thu. Ông thường mở ra những phương cách tiến công và xây dựng mới mẻ, giải quyết tỉnh táo và thanh thoát khó khăn, dẫn dắt tư duy và hành động mọi người sáng tạo, xông pha trận mạc, không một chiều, không trừu tượng, không bức xúc, thống nhất được lý trí và tình cảm, mục tiêu và biện pháp, trước mắt và lâu dài. Từ đó cùng với đơn vị và nhân dân tạo dựng những ngọn cờ đầu có sức lay động lớn. Ba Gia, Vạn Tường, Plây-me, chiến dịch Bắc Bình Ðịnh Xuân hè 1972..

Ðó là một trí tuệ văn hóa sâu sắc, đầy sức sống, được thử thách đối kháng trong chiến tranh ác liệt với kẻ thù hung bạo nhất, rất nhuần nhuyễn và góp phần bồi đắp triết lý giữ nước của dân tộc ta, thấm đượm Văn hiến Việt Nam.

Đại tướng Chu Huy Mân là vị tướng gắn bó nhiều với đất nước Triệu Voi với Cách mạng Lào. Ông có công rất lớn trong việc giúp nước bạn xây dựng Quân đội, xây dựng lực lượng kháng chiến giành độc lập, đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng và độc lập. Là một trong những người có công lớn trong việc xây dựng tình đoàn kết Lào Việt anh em. Ông là ‘’Cố vấn lỗi lạc’’, ‘’Cố vấn hay nhất mọi thời đại’’ của nhân dân các bộ tộc Lào. Ít ai biết rằng, ngay những ngày đầu năm 1946, ông đã có mặt bên dòng sông Sê-pôn Hạ Lào.

Suốt cuộc đời, Đại tướng Chu Huy Mân đã đem hết ý chí, sức lực và trí tuệ góp phần vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc; cho đến những ngày cuối đời, ông vẫn suy nghĩ, lo lắng nhiều đến nhiệm vụ xây dựng chỉnh đốn Đảng, trăn trở trước vận mệnh của Tổ quốc.

huy thanh
28-06-2009, 10:51 PM
http://img156.imageshack.us/img156/4615/trungtuongtrinhtrando4.jpg

Trung tướng Trịnh Trân (28/11/1928-6h10’ 14/9/2006), nguyên Tư lệnh Bộ đội biên phòng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ngoài ra ông từng là : Đại biểu Quốc hội kiêm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng An ninh Quốc hội khóa 9, Ủy viên Đảng ủy Công an Nhân dân.

Huân chương Quân công (hạng Nhì, hạng Ba), Huân chương Chiến công (2 hạng Nhất, 2 hạng Nhì, 1 hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Ông được phong quân hàm Thiếu tướng (4/1984), Trung tướng (12/1992).

Trung tướng Trịnh Trân (tên thật là Trịnh Ngọc Chân, bí danh : Thanh Tùng, Võ Thiết Sơn), sinh tại thôn Cự Đà, xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây nhưng do hoàn cảnh gia đình nghèo khó gia đình ông phải chuyển lên sinh sống ở khu phố Vườn Cam, thị xã Cao Bằng-đây cũng là nơi gắn bó với tuổi thơ của ông.

Ngày 8/2/1941, lãnh tụ Hồ Chí Minh về Pác Bó, Cao Bằng chỉ đạo cách mạng trong nước. Phong trào cách mạng phát triển nhanh chóng khắp cả nước đặc biệt là Cao Bằng, ông tham gia biểu tình chống lại sự đàn áp hà khắc của Thực dân Pháp.

Tháng 4/1945, ông tham gia Thanh niên cứu quốc rồi gia nhập Mặt trận Việt Minh thuộc khu vực Nước Giáp. Ngày 21/8/1945, ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại thị xã Cao Bằng.

Cách mạng tháng 8 thành công, ông tham gia Vệ quốc đoàn tại Chi đội A Cao Bằng và được cử đi học lớp quân chính. Sau đó, ông được cử về thị xã Cao Bằng xây dựng tự về, tham gia hoạt động địa phương như phong trào Bình dân học vụ.

Tháng 1/1947, ông được cử đi học ở Trường võ bị Trần Quốc Tuấn khóa 2 (nay là Trường sĩ quan lục quân 1). Tháng 10/1947, ông tốt nghiệp về Cao Bằng tham gia chiến dịch Việt Bắc Thu Đông 1947, bảo vệ căn cứ địa Việt Bắc.

Từ tháng 11/1947 đến 12/1949, ông lần lượt giữ các chức vụ Trợ lý tham mưu tác chiến, Chỉ huy Liên đội vũ trang, Đội trưởng Đội Biệt động thuộc E74 Cao Bằng, làm nhiệm vụ phá tề trừ gian trong vùng địch hậu.

Từ tháng 1/1950 đến 6/1953 - Chính trị viên C674, Chính trị viên phó, Chính trị viên Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174, Sư đoàn 316.

Từ tháng 7/1953 đến 8/1954, ông được cử đi học lớp Bổ túc chính trị trung cấp. Sau khi tốt nghiệp ông là Đội trưởng Đội phát động giảm tô đợt 1, 2 rồi sau đó là cán bộ Cục Địch vận Tổng cục Chính trị.

Từ tháng 9/1954 đến 9/1959, ông là Trưởng ban Tuyên huấn Phòng Chính trị Sư đoàn 350, Phó phòng Địch vận Tổng cục Chính trị.

Lực lượng Công an Nhân dân Vũ trang (tiền thân của Bộ đội Biên phòng) được thành lập. Từ tháng 10/1959 đến 10/1961, ông là Trưởng phòng Dân vận Cục Chính trị Công an Nhân dân vũ trang. Từ tháng 11/1961 đến 4/1963, ông giữ chức Phó Văn phòng Bộ Tư lệnh Công an Nhân dân Vũ trang.

Trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từ tháng 5/1963 đến 11/1974 ông được cử giữ chức vụ Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Công an Nhân dân Vũ trang rồi cử đi học ở Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc. Sau khi tốt nghiệp, ông được cử giữ chức Trưởng ban Nghiên cứu Khoa học Biên phòng.

Từ tháng 12/1974 đến 11/1980, ông là Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Công an Nhân dân Vũ trang. Từ tháng 12/1980 đến 4/1990, do sắc sảo trong công việc, nhạy bén trong chỉ đạo ông được cử gữ chức vụ Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ đội Biên phòng. Đây là thời kì mà tình hình biên giới Việt Nam có rất nhiều căng thẳng.

Đất nước bước vào giai đoạn đổi mới và mở cửa, từ tháng 5/1990 đến 8/1991 ông là Quyền Tư lệnh Bộ đội Biên phòng. Từ tháng 9/1991 đến 11/1998, ông là Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương kiêm Bí thư Đảng ủy và Tư lệnh Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng.

Từ tháng 9/1991 đến tháng 11/1998, ông là Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng an ninh Quốc hội khóa IX.

Trên cương vị là Tư lệnh Bộ đội Biên phòng với tầm cao chiến lược, Trung tướng Trịnh Trân nhận thức sâu sắc rằng, biên giới - bờ biển, hải đảo, mảnh đất phên giậu của nước ta có vị trí chiến lược về an ninh, quốc phòng và đối ngoại. Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta mà trước hết là người dân nơi tuyến đầu biên giới đã đoàn kết một lòng, hy sinh xương máu để giữ gìn từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.

Từ thực tế sinh động của phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, ông đã cùng tập thể Đảng ủy, Bộ Tư lệnh tham mưu cho Hội đồng Bộ trưởng, nay là Chính phủ ban hành Quyết định 16, lấy ngày 3/3 hàng năm là "Ngày Biên phòng toàn dân" huy động sức mạnh cả nước vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới.

Để cụ thể hóa ngày Biên phòng trong tình hình mới, Trung tướng Trịnh Trân ngày đêm trăn trở, cùng Bộ Tư lệnh đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 15, tăng cường chỉ đạo, xây dựng phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh ở các xã, phường biên giới, biển đảo. Qua 17 năm thực hiện Ngày Biên phòng và 8 năm thực hiện Chỉ thị 15 của Thủ tướng Chính phủ, thế trận biên phòng được củng cố và nâng lên tầm cao mới, phong trào bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, tạo thành sức mạnh to lớn để quân, dân biên giới ngày đêm vững vàng bám trụ nơi biên cương Tổ quốc.

Dấu chân của Trung tướng Trịnh Trân đã in đậm trên khắp nẻo đường biên giới, hải đảo với tâm niệm là xây dựng, củng cố và nâng cao hiệu quả phòng tuyến biên phòng. Trên 40 năm gắn bó với lực lượng, Trung tướng Trịnh Trân đã xây dựng cho Bộ đội Biên phòng lớp cán bộ, chiến sĩ bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên trì bám đất, bám dân, vượt qua mọi hy sinh, thử thách, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới.

Tuy được Nhà nước cho nghỉ, nhưng Trung tướng Trịnh Trân vẫn dành thời gian nghiên cứu các tài liệu, tổng kết thành bài học, giúp cho Bộ đội Biên phòng những kinh nghiệm quý báu về công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới. Trải qua nhiều cam go thử thách, đảm nhận nhiều cương vị công tác khác nhau, Trung tướng Trịnh Trân là một vị Tư lệnh giỏi cả về chính trị và quân sự, luôn kiên định vững vàng trước phong ba, bão táp.

Bài viết và Nguồn ảnh : Báo Điện tử Công an Nhân dân.

huy thanh
28-06-2009, 10:54 PM
Thiếu tướng liệt sĩ Dương Văn Dương (1900- 8h30’ 16/1/1946), nguyên Khu Bộ phó Khu 7, Chỉ huy trưởng Bộ đội Bình Xuyên.

Ông được truy phong Quân hàm Thiếu tướng (5/8/1948) và là Thiếu tướng đầu tiên của Nam Bộ.

Thiếu tướng Dương Văn Dương (thường gọi là Ba Dương) sinh ra trong một gia đình nghèo ở Cù lao Minh, tỉnh Bến Tre. Ông là con của cụ ông Ngô Văn Mà và cụ bà Dương Thị Biểu.

Cụ Ngô Văn Mà có tinh thần chống Pháp, nên là đối tượng theo dõi của chính quyền Pháp thuộc. Mồ côi cha khi mới 3 tháng tuổi, Dương Văn Dương mang họ mẹ và theo mẹ tha phương cầu thực. Mẹ ông đi bước nữa, người cha kế thương ông như con ruột và nuôi dưỡng, đùm bọc ông thời niên thiếu ở cầu Rạch Đỉa, làng Tân Quy, huyện Nhà Bè (nay là quận 7, thành phố Hồ Chí Minh). Chính vì vậy mà trước đây nhiều tài liệu vẫn ghi ông quê ở huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.

Ông có tính tự lập cao và thích ngao du từ nhỏ. Hoàn cảnh nghèo nên ông nghỉ học sớm, xa gia đình khi vừa học xong cấp tiểu học nhưng vẫn lạc quan học ở trường đời và kiên trì trong cuộc sống lao động lương thiện, rày đây mai đó. Trong những năm sống lăn lộn ở khắp đồng ruộng Nhà Bè, Cần Giuộc, Cần Đước, Gò Công, Bến Tre… Ông không hề ngán ngại gian khổ, luôn vui sống trong cảnh “điếm cỏ cầu sương”, hòa lòng với tiếng hò trên sông nước. Ngao du đây đó, nhưng mỗi khi nghe có ông thầy nào có miếng võ gia truyền “độc chiêu” là ông liền tới làm quen, xin làm đệ tử. Ông có nhiều thầy nổi tiếng như thầy Ba Thi ở Chợ Lớn và thầy Sáu Lầu ở Bình Chánh rất giỏi quyền cước, thầy Bộ Dực ở Bình Khánh, Mỏ Cày, Bến Tre là bậc siêu đẳng về roi, … Nhờ vậy mà nghề võ của ông nổi trội hơn số anh chị ở Sài Gòn – Chợ Lớn.

Học được rồi thì truyền lại cho thanh niên quanh vùng. Dần dà dưới tay hảo hán Ba Dương có hàng trăm em út. Thời kỳ này, ở Nam bộ không chỉ có Ba Dương mà còn rất nhiều dân “anh chị” có “bệnh giang hồ” cũng muốn học làm hảo hán, theo gương những “anh hùng Lương Sơn Bạc”, như Hai Soái, Hai Vĩnh, Ba Bang, Ba Bay, Tư Ca Rê …

Năm 1936, khi người cha kế mất, Ba Dương trở về trụ lại ở cầu Rạch Đỉa làng Tân Quy, mở lò luyện võ và trở thành một võ hiệp giang hồ, dạy võ với tấm lòng giúp người dân lương thiện tự bảo vệ, không để ai ức hiếp. Tập hợp giới giang hồ mã thượng thực hiện tước đoạt của cải người giàu do bóc lột mà có để trang trải lại cho người nghèo. Riêng cuộc sống phong lưu của Ba Dương dựa vào mối khác: nghề “bảo hiểm bình dân” của giới anh chị là “bảo kê” cho dân thương hồ vận chuyển lương thực, hàng hóa từ lục tỉnh về Sài Gòn trên kinh Cây Khô.

Năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tác động sâu sắc đến cuộc đời của Ba Dương. Cuộc khởi nghĩa thất bại. Giặc Pháp đàn áp khốc liệt không những đối với cán bộ cách mạng mà cả với giới giang hồ. Năm 1941, Ba Dương bị Pháp bắt 2 lần và bị tra trấn dã man. Trong nhà tù của thực dân, Ba Dương mến phục tư cách các tù nhân chính trị nên chủ động làm quen và được tù chính trị cảm hóa.

Ra tù, Ba Dương phải lánh mặt ở một vùng hẻo lánh thuộc biên giới Việt Nam – Campuchia. Năm 1943, Ba Dương trở lại Tân Quy. Một bước ngoặt đã mở ra trong đời Ba Dương khi ông được các đảng viên cộng sản như Ba Của, Hai Lân, Tư Huệ móc nối giác ngộ. Ba Dương thầu bảo vệ bãi chứa gỗ của hảng đóng tàu Ni-chi-năn (Nhật) làm chỗ dựa, tập hợp, cảm hóa các nhóm giang hồ và truy tầm vũ khí.

Đang đứng giữ bến xe Pháp Ninh – Nam Vang thì thực dân Pháp ban hành tình trạng khẩn cấp, gom bắt hết các phần tử nguy hiểm như Cộng sản, Cao Đài, Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tịnh Độ Cư Sĩ và bắt luôn dân giang hồ, Dương Văn Dương phải chạy về Cần Giuộc. Không thoát khỏi chỉ điểm, Ba Dương bị bắt giải về quận. Tên chủ quận buộc Ba Dương nuốt cả một chùm tóc mới thả. Tóc cắt nhỏ uống vào người sẽ phá nát bộ tiêu hóa, gây cái chết lần hồi. Nhưng không còn cách nào khác, Ba Dương đành phải thi hành bản án. May mắn thay, Ba Dương có học trò trung thành lãnh về chạy thuốc gia truyền, nhờ đó mà không chết.

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh Pháp. Tại Nhà Bè, được sự hướng dẫn của các đảng viên cộng sản, Ba Dương vận động, tập hợp và thống nhất nhiều băng nhóm giang hồ như Mười Lực, Chín Hiệp, Sáu Thơ, bắt đầu hoạt động bằng cách lập tiệm cơm, quán nhậu thu hút lính Pháp, lính Nhật để gạ mua hoặc dùng mưu và sức mạnh tước vũ khí trang bị cho mình, đột nhập vào nhà tay sai, ác bá trừng trị và tước súng.

Từ tháng 5-1945 đến tháng 8-1945, Ba Dương đã phối hợp với lực lượng “Thanh niên tiền phong” và các nhóm giang hồ khống chế, thủ tiêu hàng trăm mật thám, chỉ điểm, cảnh sát ở địa phương. Đầu tháng 8-1945, nhóm vũ trang Ba Dương đã quy tụ được 70 anh em, trang bị 50 súng, có cả trọng liên 13,2 ly và đại bác nòng đôi 20 ly, trở thành nhóm vũ trang mạnh nhất ở vùng Sài Gòn lúc bấy giờ.

Cách mạng tháng Tám nổ ra, nhận được chủ trương của Xứ Ủy về Tổng khởi nghĩa qua Chi bộ Đảng ở Nhà Bè, Ba Dương bí mật tập họp toàn bộ thủ lĩnh các băng nhóm giang hồ ở Nhà Bè, phổ biến kế hoạch và phân công phối hợp hoạt động. Các nhóm trên đã hoàn thành việc chiếm lĩnh các mục tiêu được phân công như Tòa án, Khám lớn Sài Gòn, Bót số 6, …giải thoát được các tù nhân bị Pháp, Nhật giam giữ.

Cách mạng tháng Tám thành công, Ba Dương lập “Thanh niên cảm tử đoàn” toàn dân “anh chị" tại Tân Quy (Nhà Bè). Nhóm Ba Dương bỏ hãng đóng tàu Ni-chi-năn để về Tân Quy tiếp tục chiêu mộ binh lực. Với tư cách là đàn anh trong vùng, Ba Dương tiếp xúc với các nhóm vũ trang lân cận và nhanh chóng thống nhất lực lượng lại thành một khối. Anh em “giang hồ tứ chiếng” liên kết lại lập bộ đội Xóm Cỏ, thống nhất tôn Ba Dương làm thủ lĩnh. Ba Dương thấy tên Xóm Cỏ, Hố Bần nghe không được “oai” cho lắm, nên mới chọn tên ấp Bình Xuyên thuộc làng Chánh Hưng để đặt. Tên này nghe “oai” hơn, vì “Bình là dẹp bằng, Xuyên là ngang dọc”, phù hợp với tôn chỉ của hảo hán. Danh xưng “bộ đội Bình Xuyên” có từ ngày ấy. Xóm cầu Rạch Đỉa trở thành Tổng hành dinh bộ đội Bình Xuyên của Ba Dương. Bộ đội Ba Dương chủ động liên kết với bộ đội Thủ Thiêm của Mười Lực, liên quân với bộ đội Hai Vĩnh đánh nhiều trận gây thanh thế.

Qua một thời xưng hùng, xưng bá, gặp dòng xoáy cách mạng cuốn hút, lực lượng Bình Xuyên đã chuyển hóa, phát triển thành những đơn vị Vệ quốc đoàn. Nhiều thủ lĩnh Bình Xuyên như Dương Văn Dương (Ba Dương), Huỳnh Văn Trí (Mười Trí), Mai Văn Vĩnh (Hai Vĩnh), Dương Văn Hà (Năm Hà, em ruột của Ba Dương)…là những người có uy tín, chân thành học hỏi các chiến sĩ cách mạng và quyết tâm phục vụ đất nước.

Dương Văn Dương kêu gọi binh sĩ Bình Xuyên “hãy tỏ rõ mình là chiến sĩ cách mạng”, tước khí giới những nhóm giang hồ nào chưa chịu từ bỏ giang hồ, đặt hình phạt đối với những người rượu chè, bê tha, ức hiếp quần chúng…

Ngày 23-9-1945, Pháp gây hấn, nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Toàn Nam bộ vùng lên kháng chiến. Phối hợp với hoạt động của các lực lượng vũ trang trong nội thành, xung quanh Sài Gòn hình thành 4 mặt trận bao vây quân địch. Cuối tháng 9-1945, mặt trận phía nam Sài Gòn-Chợ Lớn còn được gọi là mặt trận số 4 được thành lập do đảng viên kỳ cựu Nguyễn Văn Trân được cử làm Ủy trưởng quân sự. Ba Dương trực tiếp chỉ huy bộ đội Nhà Bè, Tân Thuận, Bình Đông kiêm trưởng ban do thám của mặt trận. Đến tháng 11-1945, Ba Dương được cử làm chỉ huy trưởng mặt trận số 4.

Pháp tung hết lực lượng quyết chiếm Sài Gòn và vùng phụ cận. Sau khi mặt trận số 4 bị vỡ, lực lượng Bình Xuyên không chạy dài như Đệ nhị, Đệ tam, Đệ tứ sư đoàn. Ba Dương lệnh các đơn vị rút về Phước An, Long Thành để chấn chỉnh lực lượng. Tại Ba Doi, Ba Dương thống nhất và củng cố các đơn vị bộ đội Thủ Thiêm, Tân Thuận, Nhà Bè, Phú Nhuận… và chọn Rừng Sác làm căn cứ kháng chiến.

Tình hình chiến sự ngày càng gay go, Pháp quyết tâm chiếm lại Nam bộ. Sài Gòn như chảo dầu sôi, quyết bảo vệ nền độc lập mới giành được. Từ chiến khu Đông Triều – Hải Phòng, Tư lệnh Nguyễn Bình vâng lệnh Hồ Chủ tịch vào Nam thống nhất các lực lượng vũ trang. Nguyễn Bình hối hả vượt đường thiên lý vào chiến trường Nam bộ. Trên đường đi, ông cố thu thập tin tức và rất mừng khi biết Bình Xuyên là một lực lượng đáng kể trong số các lực lượng ở miền Đông. Ông nghe tiếng Ba Dương từ trước và tính ngay tới việc liên kết với Ba Dương để có thế lực ngay từ đầu.

Trong khi đó, quân đội Anh-Ấn của tướng Gracey không thực hiện đúng chỉ thị của đồng minh giải giới quân Nhật, mà sử dụng quân Nhật kiềm hãm các hoạt động của dân quân, giúp bọn Pháp ngóc đầu dậy. Quân Nhật chiếm giữ các vị trí quan trọng ở ngoại thành như cầu Nhị Thiên Đường, cầu Chữ Y, cầu Rạch Ong. Bộ đội của Ba Dương đóng ở hãng Ni-chi-năn phải cấp tốc dời về cầu Rạch Đỉa. Tại đây, Ba Dương vạch kế hoạch đánh chớp nhoáng vào nhiều vị trí quan trọng trong nội thành. Những trận đánh này cùng các trận quấy rối của các cánh quân khác đã làm cho các tướng lĩnh tự cao tự đại của Pháp thấy rõ dân Sài Gòn không bó tay để chúng ngang nhiên cướp nước lần thứ hai.

huy thanh
28-06-2009, 10:57 PM
Tháng 10-1945, thực hiện chủ trương của đảng bộ, Ba Dương thuyết phục các băng nhóm thống nhất lại thành lực lượng vũ trang Nhà Bè do đích thân ông làm chỉ huy trưởng, Đinh Văn Nhị làm ủy viên chính trị, Từ Văn Ri tham mưu trưởng, quân số lên đến 2.000 người, trang bị 1.300 súng, có 2 đại bác, 7 trọng liên 13,2 ly, 15 trung liên. Khác với quân của Bảy Viễn (Lê Văn Viễn) chỉ lo bảo toàn lực lượng, chạy dài khi đối phương tấn công, bộ đội Nhà Bè chủ động đánh nhiều trận, trong đó có trận Cây Khô do Ba Dương trực tiếp chỉ huy, có sự phối hợp của bộ đội Tám Mạnh, phục kích tiêu diệt gọn đoàn tàu, diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, thu một tàu kéo, một xà lan và 4 ghe đầy lương thực, thực phẩm. Sau trận đánh, Khu bộ trưởng Nguyễn Bình gởi thư khen:

“…Toàn quốc nghe tin bộ đội Bình Xuyên đánh giặc dũng cảm. Các anh em xứng đáng với tên Giải phóng quân Nam bộ. Nhân danh Khu bộ trưởng, tôi gởi lời khen và số tiền 3.000 đồng để ủy lạo anh em.”

Giữa tháng 12-1945, Khu bộ trưởng Khu 7 Nguyễn Bình thăm sở chỉ huy Bình Xuyên tại Phước An, quyết định bổ nhiệm Dương Văn Dương làm Khu bộ phó Khu 7 và giao nhiệm vụ Ba Dương chỉ huy một bộ phận quan trọng lực lượng Bình Xuyên xuống chi viện cho chiến trường Khu 8 ở đồng bằng sông Cửu Long, đánh giặc trên đường đi và thống nhất lực lượng vũ trang nơi đơn vị đến.

Theo yêu cầu chi viện của Khu bộ phó Khu 8 Trương Văn Giàu, đầu năm 1946, Ba Dương triệu tập hội nghị tại Rạch Su trình bày việc đưa quân xuống tăng cường chiến khu Bến Tre, tiếp cứu mặt trận An Hóa – Giao Hòa bị Pháp uy hiếp nặng. Thực hiện mệnh lệnh của Khu bộ trưởng Nguyễn Bình, Ba Dương chỉ thị chọn các đơn vị có thành tích lập liên quân gồm 5 đại đội đi Bến Tre, đích thân Ba Dương chỉ huy. Đơn vị liên quân tổ chức ăn tết trước đồng bào 3 ngày. Đêm 30 tết liên quân vượt sông Soài Rạp, xuyên qua Bình Phục Nhất, Chợ Gạo, vượt Cửa Tiểu qua An Hóa. Vừa đi vừa đánh tạo khí thế. Cánh Nhà Bè đánh Cần Giuộc, cánh Tân Thuận đánh Cần Đước, cánh Tân Quy đánh Chợ Trạm. Sau đó hợp quân tại Chợ Gạo trước khi hành quân vào Bến Tre. Nhưng khi đến bờ nam Cửa Tiểu thì được tin mặt trận An Hóa – Giao Hòa đã mất. Bộ chỉ huy quyết định tổ chức đánh đoàn tàu thực phẩm của địch, sau đó kéo quân về xã Châu Bình (Giồng Trôm) cùng hội quân với lực lượng Cộng hòa Vệ binh, Quốc gia Tự vệ cuộc của Trương Văn Giàu và Nguyễn Văn Quạn, bàn kế hoạch mở mặt trận đánh Pháp và phối hợp giải tán Đệ Tam Sư đoàn đã có hành động quân phiệt làm nhân dân ta thán.

Đang hội nghị thì được tin Pháp sắp tấn công. Đơn vị của Ba Dương ở ấp Bình Khương (Châu Bình) chưa kịp triển khai phòng tuyến thì bị bao vây tứ phía. Nhận thấy tình hình nguy ngập, một cán bộ tham mưu đưa ra một xấp giấy thuế thân để Ba Dương và một số anh em giả dạng thường dân bảo toàn lực lượng. Nhưng ônh xé giấy thuế thân và trả lời người cận vệ:

“Cảm ơn anh đã lo cho tôi, nhưng kẻ làm tướng mà bỏ quân chạy trước là tướng hèn. Tôi quyết không nghe theo lời anh”.

Hai chiếc Spitfire bắn phá dọn đường cho bộ binh Pháp. Ba Dương xoay quanh cây rơm sau nhà trú quân, vừa tránh đạn vừa ra lệnh cho đơn vị triển khai chiến đấu. Không may, Ba Dương trúng đạn hy sinh lúc 8 giờ 30 phút ngày 16 tháng Giêng năm Bính Tuất (1946), an táng tại Châu Bình và hài cốt được cải táng về nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh sau ngày miền Nam giải phóng.

Thiếu tướng Dương Văn Dương là tiêu biểu cho giới hảo hạn trọng nghĩa khí, vì quốc gia đại cuộc. Trong giới “hảo hán” theo cách mạng, có lẽ Ba Dương là người tiêu biểu cho sự tự rèn luyện, phấn đấu vươn lên và cũng là người đại diện tiêu biểu có đóng góp cho sự thành công của sự nghiệp cách mạng, mà mọi người vẫn gọi là sự nghiệp của quần chúng. Khi Ba Dương trở thành người chỉ huy quân đội, ông là vị chỉ huy gương mẫu, dũng cảm, được anh em tin yêu. Nhưng cuộc đời binh nghiệp của ông lại ngắn ngủi, để lại niềm tiếc thương vô hạn đối với cán bộ chiến sĩ Bình Xuyên cách mạng và nhiều người ngưỡng mộ ông.

Dương Văn Dương có vóc người tầm thước, tính tình nghiêm nghị, ít nói, luôn có thái độ lễ phép, hòa nhã. Chính điều đó làm cho mọi người và số anh chị giang hồ phải kính nể. Thì ra, muốn làm anh chị không chỉ nhất thiết phải “hét ra khói, nói ra lửa” như những tay dao búa ở bến đò, bến xe. Điều căn bản là tài, đức phải đi đôi và Ba Dương hội đủ hai điều đó. Chẳng những thế, Ba Dương còn là người quân tử hiếm có. Có nhiều rất nhiều câu chuyện kể về ông, xin nêu ra đây hai câu truyện tiêu biểu cho tính cách của con người ông.

Trong một lần quân Pháp bất ngờ đánh úp một đơn vị bộ đội do Năm Hà (em cùng mẹ khác cha của ông), Năm Hà chưa đánh đã cho quân rút lui. Khi biết vậy, ôn rút sung bắn Nắm Hà và nói:

Nhân dân che trở đùm bọc, ơn đó chưa trả nay Pháp tới chưa đánh mà đã chạy tội đáng chết.

Rất may là Năm Hà nhanh cho nên mới tránh kịp.

Trong cách mạng tháng Tám, viên Chủ quân lên trình diện chính quyền cách mạng chợt thấy Ba Dương nay là Chỉ huy trưởng, viên chủ quận mặt xanh như tàu lá, quỳ lại Dương Văn Dương như tế sao. Nhưng Ba Dương xử sự đúng người quân tử:

“Tội của ông lẽ ra tôi phải chặt 10 cái đầu mới hả dạ. Nhưng bây giờ đổi đời rồi. Ông mất hết chức hết quyền, trả thù là khi ông còn ngon lành kia, còn bây giờ tôi trả thù ông để làm gì?. Tôi tha chết cho ông đó…”.

Thái độ quân tử của Ba Dương làm cho chủ quận thức tỉnh, không hợp tác với Pháp khi Pháp quay lại tái chiếm Nam bộ, ngược lại còn động viên nhiều con cháu tham gia cách mạng.

Trong mật điện số 946/TRT năm 1946 gởi Khu 7, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi lời chia buồn với gia quyến Dương Văn Dương. Năm 1947, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam bộ quyết định lấy tên Dương Văn Dương đặt cho một con kênh đào dài nhất ở Đồng Tháp Mười (45 km) nối từ huyện Tân Thạnh (Long An) sang tỉnh Đồng Tháp. Kinh Dương Văn Dương thay cho tên Lagrange, nguyên là chủ tỉnh Long An thời Pháp thuộc. Ngoài ra, Trung đoàn 300 – Trung đoàn nam tiến đánh giặc giỏi còn được vinh dự mang tên Dương Văn Dương.

Khi còn đương thời, các tướng Trần Văn Trà, Tô Ký, Đồng Văn Cống, Nguyễn Thị Định…đều xem Dương Văn Dương là bậc đàn anh của các tướng lĩnh Nam bộ. Thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có tên Dương Văn Dương trong Bách Khoa Quân sự Việt Nam, mặc dù ông là thiếu tướng đầu tiên của Nam bộ và cuốn đại tự điển này được tái bản lần thứ hai. Ở Bến Tre (nơi ông sinh ra và hy sinh) và Nhà Bè, Quận 7 (nơi ông lớn lên, trụ lại và nổi danh Ba Dương) vẫn chưa có con đường nào mang tên ông – Dương Văn Dương.

Khi bản than có hỏi một anh bạn, vì anh này có cuốn Bách Khoa Quân sự Việt Nam, là xem có tên tướng Dương Văn Dương, tướng Huỳnh Văn Nghệ (Tám Nghệ, quân hàm cao nhất của ông khi rời quân đội là Thượng tá), tướng Bùi Cát Vũ trong đó không thì rất buồn là tên ba người đều không có. Những ai đọc tác phẩm người Bình Xuyên hẳn sẽ thấy tên họ được nhắc đến trong tác phẩm này. Thiếu tướng Dương Văn Dương thì qua phần tiểu sử này hẳn chúng ta cũng thấy rõ vai trò của ông như thế nào với Nam bộ trước, trong và sau cách mạng tháng Tám. Tướng Huỳnh Văn Nghệ thì nếu nói về Chiến khu Đ, về Nam Bộ kháng chiến thì không thể không nhắc tới, người đã làm điên đảo các tướng Pháp từng tham chiến trên chiến khu Đ. Còn tướng Bùi Cát Vũ người được mệnh danh là Trùm đại bác Đông Dương, người “thợ rèn sung” cho Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp và là một trong hai vị tướng pháo binh nổi tiếng của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Rồi một vị tướng nữa (mặc dù quân hàm thực của ông là Đại tá) là Thân Trọng Một nổi danh ở Huế trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cũng không có tên trong đó.

Bài viết: Theo Trang Thông tin Điện tử tỉnh Bến Tre

huy thanh
29-06-2009, 08:30 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Vu-Van-Can.jpg

Thiếu tướng Bác sĩ Vũ Văn Cẩn (15/10/1915-13/6/1982), nguyên: Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Cục trưởng Cục Quân y đầu tiên Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ngoài ra ông còn là: Bộ trưởng Bộ Y tế, Đại biểu Quốc hội từ Khóa 3 đến Khóa 7.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Giải thưởng nhà nước về Khoa học và Công nghệ.

Ông được phong Quân hàm Thiếu tướng (1974).

Thiếu tướng Vũ Văn Cẩn quê tại xã Bạch Sam, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Năm 1936, ông tốt nghiệp tú tài, thi đỗ vào Đại học Y khoa Hà Nội và tốt nghiệp năm 1943 với luận văn "Góp phần nghiên cứu mổ quặm mi sẹo do mắt hột".

Là một thanh niên có lòng yêu nước, sớm nhận thấy bản chất xâm lược của giặc Pháp, Nhật ông tích cực tham gia phong trào Hướng đạo Việt Nam trong Tráng đoàn Lam Sơn cùng với các tên tuổi như Phạm Biểu Tâm, Bửu Lư, Hồ Văn Huê, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Sĩ Dinh, Hoàng Đình Cầu, Lê Văn Phụng, Tú Vinh, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Văn Tốt, Huỳnh Văn Nhu…

Từ năm 1942, ông giác ngộ và tích cực hoạt động trong Tổng hội Sinh viên mà ông là một trong những người góp phần sáng lập và tham gia lãnh đạo, kết hợp đấu tranh chính trị bài trừ giặc Pháp, Nhật, ủng hộ phong trào Việt Minh. Lãnh đạo Tổng hội sinh viên khi đó gồm các trí thức như Vũ Đình Hoè, Phan Anh, Dương Đức Hiền, Huy Cận, Vũ Văn Cẩn, Đỗ Đức Dục, Phan Mỹ...

Ông nổi tiếng trong nhóm sinh viên yêu nước. Tờ báo "Tiếng gọi sinh viên thời đó, được coi như bó đuốc soi đường cho sinh viên, học sinh đương thời. Ông đặc trách mục: "Truyền bá vệ sinh và tân y dược học" trong tờ tạp chí Thanh Nghị, tờ báo có tiếng của giới tri thức Việt Nam. Ngoài ra, ông còn vận động sinh viên, học sinh tham gia phong trào truyền bá chữ quốc ngữ, tuyên truyền nếp sống vệ sinh trong nhân dân.

Cuối năm 1944, thực dân Pháp tập trung ông cùng một số bác sỹ vào Quân đội Pháp, được 3 tháng thì xẩy ra đảo chính Nhật - Pháp. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân Pháp buộc ông chạy sang Trung Quốc, ông trốn được chạy về Hà Nội tiếp tục hoạt động trong Tổng hội sinh viên. Do chống đối thuyết Đại Đông Á của Nhật, ông bị phat-xít Nhật bắt giam tại Nhà Dầu SHELL (ở phố Trần Hưng Đạo).

Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, ông được giải thoát khỏi nhà giam. Ngày 24/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh số 66 cho phép Bộ Y tế được quyền trưng dụng các y bác sĩ, dược sĩ được vào làm việc trong các cơ quan của Bộ Y tế và Bộ Quốc phòng ông được cử làm Giám đốc Ban y tế Giải phóng quân. Tháng 12/1945, Bộ trưởng Y tế đã quyết định thành lập Ban Y tế vệ quốc đoàn toàn quốc và cử ông làm Giám đốc đầu tiên. Tháng 3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 34, tổ chức lại bộ máy Bộ Quốc phòng, thành lập các Cục trong Bộ Quốc phòng, trong đó có Cục Quân y; Sắc lệnh số 35 cử các Cục trưởng trong Bộ Quốc phòng và ông được cử giữ chức Cục trưởng Cục Quân y đầu tiên.

Ngày 25/3/1946, ông được phong quân hàm Đại tá theo sắc lệnh 35/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí. Trong điều kiện khó khăn về dụng cụ, thuốc men, ông đã tổ chức quyên góp thuốc men tại các Bệnh viện Đồn Thuỷ, Bạch Mai, xây dựng ngành quân y từ con số không mà lên, kịp thời phục vụ cứu chữa thương bệnh binh trong những ngày Thủ đô kháng chiến.

Ngày 21/1/1947, Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế đã triệu tập hội nghị liên tịch tại Việt Bắc, hội nghị quyết định xây dựng một chương trình phối hợp công tác giữa Quân y với Dân y trong các lĩnh vực sử dụng và điều động cán bộ, nhân viên, phân phối thuốc men, dụng cụ hiện có, đặt tại mỗi kỳ một Uỷ ban liên bộ Quốc phòng- Y tế để điều hành việc phối hợp hoạt động. Uỷ ban liên bộ ở Bắc kỳ do Bác sỹ Vũ Đình Tụng đại diện Dân y và ông là đại diện Quân y.

Cũng trong năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi Cục Quân y chuyển lên Việt Bắc ông tham gia thành lập Phòng Quân y dược. Ông đã góp phần tạo dựng một đội ngũ cán bộ quân y kịp thời phục vụ các chiến trường ở các thời điểm ác liệt nhất.

Trong kháng chiến chống Pháp từ năm 1947 đến năm 1954, ông cũng trực tiếp tham gia nhiều chiến dịch phục vụ cứu chữa bộ đội từ chiến dịch Biên Giới, Trung Du đến chiến dịch Điện Biên Phủ.

Hòa bình được lập lại trên miền Bắc, năm 1960,ông được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ y tế. Bước vào giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, năm 1965 ông được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu Cần kiêm Cục trưởng Cục Quân y. Sau đó, năm 1971, ông giữ chức quyền Bộ trưởng Bộ y tế. Ông đặc biệt quan tâm đầu tư để phát triển ngành Quân y lớn mạnh đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc đấu tranh giải phóng ở miền Nam và chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Trong kháng chiến chống Mỹ, sự kết hợp Quân y và Dân y ngày càng được hoàn thiện cả về lý luận và hình thức tổ chức.

Đất nước thống nhất, từ năm 1975 đến năm 1982 được cử giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ y tế. Trong điều kiện thời bình, ông quan tâm chỉ đạo công tác kết hợp Quân Dân y toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, nhưng thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực phòng chống dịch bệnh, cấp cứu và cứu chữa nạn nhân khi có thiên tai, thảm hoạ... và đặc biệt là chăm sóc sức khoẻ nhân dân vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và vùng dân tộc thiểu số.


Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta là một pho sử bằng vàng, trong đó lịch sử chống ngoại xâm là những trang sử vẻ vang nhất và chói lọi nhất. Chính hoàn cảnh lịch sử ấy đã đòi hỏi phải có lực lượng vũ trang nhân dân làm lực lượng nòng cốt của cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Lực lượng vũ trang nhân dân là con em của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ. Cũng chính hoàn cảnh đó đã dẫn đến một tất yếu phải có người làm công tác y tế trong lực lượng vũ trang (sau đây gọi chung là Quân y), do vậy Quân y cũng từ Dân y mà ra. Kết hợp Quân Dân y là một yêu cầu lịch sử trong thời chiến khi mà toàn dân, toàn quân ta đồng tâm, hiệp lực, đoàn kết để đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, giữ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc. Kết hợp Quân Dân y là một lĩnh vực trong chiến lược kết hợp Quân Dân. Kết hợp Quân Dân y còn là một đòi hỏi tự nhiên của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, của bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.


Kết hợp Quân Dân y trong quá trình cách mạng là sự kết hợp của hai bộ phận có cùng một nguồn gốc, có cùng một mục đích là chăm sóc sức khoẻ nhân dân và các lực lượng vũ trang cách mạng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, kết hợp Quân Dân y là một sự kết hợp toàn diện, lâu dài và vững chắc. Vai trò của Thiếu tướng Bác sĩ Vũ Văn Cẩn, người nhiều năm giữ chức vụ Cục trưởng Cục Y tế rồi Bộ trưởng Bộ Y tế, trong công tác này không nhỏ. Trong thời kì hiện nay, mô hình Quân dân Y kết hợp “Kết hợp Quân Dân y xây dựng nền quốc phòng toàn dân và phục vụ sức khoẻ nhân dân” (Chương trình Y tế 12 giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế) với mô hình kết hợp ở 4 cấp trung ương, tỉnh, huyện, xã và những nội dung hoạt động cơ bản là tham gia củng cố y tế cơ sở, phòng chống dịch bệnh, khám chữa bệnh và đào tạo cán bộ y tế đã trực tiếp phát huy thành quả và mô hình được đề ra bởi các bậc tiền nhiệm mà Thiếu tướng Bác si Vũ Văn Cẩn là một trong những người đi tiên phong.


Bài viết và Nguồn ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 08:32 PM
http://img263.imageshack.us/img263/8446/thieutuongnguyentrongxutf8.jpg

Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên (1926) nguyên : Thứ trưởng thường trực Bộ Quốc phòng, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 3, Tư lệnh Quân khu 6, Trưởng đoàn chuyên gia Quân sự Việt Nam tại Cuba.

Ngoài ra ông từng giữ các chức vụ : Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa 6, khóa 7), Đại biểu Quốc hội (khóa 8, khóa 9).

Ông được phong Quân hàm Thượng tướng (1992).

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Nhì), Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất…Huân chương Che Guevara của Nhà nước Cuba.

Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Mảnh đất Kim Động quê hương ông cũng là quê hương của 7 vị tướng trong Quân đội Nhân dân Việt Nam như Đại tướng Nguyễn Quyết (theo quan hệ họ hàng thì ông phải gọi bằng cậu), Thượng tướng Giáo sư Hoàng Minh Thảo.

Khi ông mới được ba tháng tuổi cha ông mất do bệnh tả vì cõng người anh họ bị bệnh tả về nhà để anh họ không phải chết ở nơi đất khách quê người (cha ông là người duy nhất trong dòng họ đủ can đảm để làm điều này). Mẹ ông tần tảo nuôi một mẹ chồng già và một con thơ.

Năm ông 13 tuổi, vì không thể tiếp tục cho ông ăn học lên nữa mẹ ông đem cầm cố mảnh ruộng duy nhất của gia đình lấy tiền cho ông sang Phnôm Pênh. 2 năm sau, mẹ ông mất vì bệnh tật trong nghèo khó. Mãi đến tận đầu năm 1944, khi bà nội mất, ông mới có dịp theo chân chú về quê.

Trở lại Phnôm Pênh, ông theo học nghề tại một xưởng may. Tại đây, ông có dịp tiếp xúc với một số người bị cách li khỏi cộng đồng bạn nghề vì là Đảng viên Đảng Cộng sản. Cuối năm 1944, chứng kiến cảnh những người Việt yêu nước đang là công chức tại các sở ở Phnom Penh sẵn sàng vứt bỏ tất cả để về quê hương chiến đấu chống Pháp, ông quyết định xin đi theo.

Trong những ngày đầu ở đất Sài Gòn, ông theo những bậc đàn anh tin tưởng vào thuyết Đại Đông Á sát cánh cùng quân Nhật chống Pháp. Khi Nhật đã hất cẳng Pháp, chứng kiến cảnh quân Nhật lật lọng lời nói "trao trả độc lập lại cho Việt Nam" và được giác ngộ về phong trào Việt Minh, ông rủ mọi người trốn khỏi trại lính Nhật để thành lập đơn vị theo Việt Minh.

Trong những ngày Cách mạng tháng Tám, mới chỉ 19 tuổi, ông đã đảm nhận chức vụ Trung đội phó của Chi đội Nguyễn Văn Vĩnh, lúc mà cao điểm nhất quân số lên tới 800 người với khoảng 500 khẩu súng các loại. Cho đến năm 1954, ông lần lượt giữ các chức vụ Trung đội trưởng rồi Tiểu đoàn trưởng.

Từ tháng 9 năm 1954 đến năm 1960, ông lần lượt giữ các chức vụ Tham mưu trưởng Trung đoàn, Trung đoàn phó, Tham mưu phó rồi Tham mưu trưởng Sư đoàn 305.

Từ năm 1961 đến năm 1975, ông lần lượt giữ các chức vụ Tham mưu trưởng Quân khu 6, Phó ban Quân sự Khu 10, Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Đảng ủy viên Quân khu ủy Khu 6.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn thống nhất, khu 5 và khu 6 sát nhập trở thành khu 5, từ 12/1975 tới 1976, ông là Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Quân sự tỉnh Thuận Hải và là Thường vụ tỉnh ủy. Ông được cấp trên giao cho nhiệm vụ chỉ huy bộ đội làm kinh tế (trồng bông) nhằm cung cấp 1/6 nhu cầu may mặc của nhân dân sau ngày giải phóng.

Sau đó, trong một lần vào làm việc tại tỉnh Thuận Hải, thấy Tư lệnh Khu 6 một thời đang khó nhọc chỉ đạo công tác trồng bông, Đại tướng Văn Tiến Dũng điều ông ra Hà Nội tham và được cử đi học khóa 1 Học viện Quân sự cấp cao.

Sau khi tốt nghiệp, từ tháng 3/1979 đến năm 1985, ông được cử giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân khu 3, phụ trách công tác quân sự địa phương, kinh tế và tài chính. Thời kì đó, Quân khu 3 trở thành một điển hình về phong trào ‘’làm giàu, đánh thắng’’ kết hợp tốt giữa quân sự, an ninh quốc phòng và kinh tế, là điển hình cho nhiều quân khu trong cả nước học tập và được bạn bè quốc tế đánh giá cao.

Sau chuyến thăm của Đoàn đại biểu Quân sự Cuba tại Quân khu 3, ông được điều sang Cuba làm Trưởng đoàn chuyên gia Quân sự Việt Nam (đoàn 385) tại đây (tháng 3 năm 1985). Những đóng góp của ông với Nhà nước Cuba đặc biệt là trong lĩnh vực kết hợp Quốc phòng và Kinh tế được đánh giá bằng tấm Huân chương Che Guevara của Nhà nước Cuba do đích thân Chủ tịch Phidel trao tặng.

Sau khi về nước, tháng 4 năm 1986 ông là Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu 3. Từ năm 1988 đến năm 1999 ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Từ năm 1988 đến năm 1993, ông kiêm chức vụ Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Bài viết: Theo Báo Công an Nhân dân

huy thanh
29-06-2009, 08:34 PM
http://img263.imageshack.us/img263/984/thieutuonghuynhdachuonget1.jpg

Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương (1922), nguyên : Trưởng đoàn chuyên gia kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào (1972-1975), Phó Chính ủy Quân khu Tây Bắc (1968-1971), Phó Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên (1965-1967), Cục trưởng Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị (1958).

Ngoài ra ông từng giữ các chức vụ : Thứ trưởng Bộ thương binh và xã hội (1975-1978 và 1984-1990). Ông cũng từng là cố vấn cho các ông Khăm-tày Xi-phăn-đon, Cay-xỏn Phôn-vi-hẳn hai lãnh tụ của Cách mạng Lào. Hiện nay, ông là Trưởng ban liên lạc Cựu chiến binh Quân tình nguyện và chuyên gia tại Lào.

Ông được phong Quân hàm Thiếu tướng (1974).

Huân chương : Quân công hạng Nhất, Chiến công hạng Nhất, Chiến thắng hạng Nhất…

Thiếu tư­ớng Huỳnh Đắc H­ương sinh tại phường Cẩm Phô, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam.

Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1936 tại Quảng Nam, thời kì Mặt tộc Dân tộc Dân chủ. Năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt và giam tại nhà lao Quảng Nam.

Chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra, vì lo sợ chiến tranh và đường đi châu Âu bế tắc, nhiều người Pháp và người Việt lên Lâm Đồng. Nhiều công trình được xây dựng, nhiều đồn điền được mọc thêm, nhất là ở dọc đường 20. Thực dân Pháp có ý đồ xây dựng Đà Lạt thành thủ đô chính trị ở Đông Dương và là nơi cố thủ chống Nhật. Vì vậy công nhân và người dân tộc đi làm thuê tăng lên. Dân số Đà Lạt từ 11.500 năm 1939 tăng lên 25.000 năm 1944, trong đó có 5.000 người Pháp.

Tháng 10-1940, Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 7 nhận định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương là đế quốc phát xít Nhật - Pháp và đề ra nhiệm vụ Cách mạng Việt Nam là chuẩn bị khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân. Phong trào Cách mạng trong nước phát triển. Ngoài Bắc có khởi nghĩa Bắc Sơn, Đô Lương. Trong Nam có khởi nghĩa Nam kỳ.

Sau khi ra tù, đầu năm 1941, ông cùng các ông Võ Văn Đặng, Trần Duy Mãi từ Hội An - Quảng Nam đến Đà Lạt liên lạc với các nhà cách mạng còn lại ở nhóm Tiến bộ-là một nhóm cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, lúc này ở xóm Lò gạch.

Tại Đà Lạt, các ông vừa đi làm thuê, vừa vận động quần chúng và đã gây cảm tình với số đông công nhân mà đa số đã tham gia phong trào Dân tộc Dân chủ trong thời kì Mặt trận bình dân ở Đà Lạt 1936-1939. Vì không có liên lạc được với cấp trên nên chưa biết tổ chức, hoạt động thế nào trong tình hình mới. Ngày 1-5-1941, các ông tổ chức mitting tại công trường xây dựng. Cuối năm 1941, các ông lại về Hội An bắt liên lạc.

Tại Quảng Nam, ông Võ Văn Đặng liên lạc được với ông Trương Văn Hoàn là Ủy viên Xứ ủy Trung Kỳ đang công tác tại đây. Sau khi nghe ông Võ Văn Đặng báo cáo tình hình Đà Lạt, ngày 24/2/1942, ông Trương Văn Hoàn thay mặt Xứ ủy thành lập chi bộ đặc biệt tại Đà Lạt gồm ông Võ Văn Đặng làm bí thư, ông Trần Duy Mãi và ông-Huỳnh Đắc Hương.

Trở lại Đà Lạt, ông cùng hai đồng chí của mình mang theo nhiều tài liệu và truyền đơn rồi họp chi bộ trên đồi cỏ cạnh sân đánh cù Đà Lạt để bàn công tác. Sau đó, trong lúc ông cùng các đồng chí của mình tiến hành gây lại phong trào Cách mạng thì cơ sở ở Quảng Nam bị vỡ, tháng 6/1942 thực dân Pháp truy nã và bắt ông cùng ông Võ Văn Đặng giam tại nhà giam Đà Lạt. Năm 1943, thực dân Pháp đưa hai ông về giam tại Hội An.

Đầu năm 1944, ông tham gia v­ượt ngục và bị bắt lại, bị giam tại nhà lao Đà Nẵng, sau đó bị giam tại nhà lao Phú Bài - Huế. Tại đây ông bị giam cùng với các ông Nguyễn Chánh, Tôn Quang Phiệt…

Trong cách mạng tháng Tám 1945, ông ra tù và là thành viên Ban vận động giành chính quyền Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng.

Tháng 10/1945, ông được điều vào công tác trong Quân đội. Từ năm 1947 đến năm 1953, ông giữ cương vị Phó phòng Chính trị Liên khu 5.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, năm 1954 ông là thành viên trong Ban liên hiệp đình chiến Liên khu 5. Năm 1956, ông tập kết ra Bắc và được cử làm Cục phó Cục Tổ chức trực thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam cho đến năm 1958 là Cục trưởng.

Chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, năm 1963 ông được cử làm Trưởng đoàn kiểm tra tình hình Nam Lào.

Từ năm 1965 đến năm 1968, ông được điều vào Chiến trường Tây Nguyên giữ cương vị Phó Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên và là cán bộ quân sự Việt Nam ở chiến trường Hạ Lào. Từ năm 1969 đến năm 1971, ông được điều ra Bắc giữ cương vị Phó Chính ủy Quân khu Tây Bắc phụ trách phối hợp với Bộ đội Pa-thét Lào tại Thượng Lào. Ông đã cùng các cán bộ quân sự Việt Nam cùng với chỉ huy bộ đội Pa-thét Lào tham gia và chỉ huy các chiến dịch lớn quan trọng ở đây như : Chiến dịch Cánh đồng Chum giải phóng Cánh đồng Chum, Sảm Thông, Loọng Khẹt, Chiến dịch Thà Khẹt…

Từ năm 1972 đến năm 1975, ông giữ cương vị Trưởng đoàn chuyên gia kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào. Ông là cố vấn cho các ông Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn Chủ tịch Đảng Nhân dân Cách mạng Lào), Khăm-tày Xi-van-đon (Tổng Chỉ huy Bộ đội Pa-thét Lào) là một trong hai lãnh tụ của Cách mạng Lào.

Đất nước thống nhất, từ cuối năm 1975 đến năm 1978, ông chuyển ngành sang làm Thứ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.

Chiến tranh Biên giới phía Bắc nổ ra, với những kinh nghiệm nhiều năm chỉ huy quân sự trên biên giới phía Bắc, ông được điều lại Quân đội trên cương vị Phó Chỉnh ủy kiêm Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 2.

Tháng 12 năm 1982 ông chuyển công tác về Bộ Lao động - Thư­ơng binh và Xã hội tiếp tục giữ chức vụ Thứ trưởng và nghỉ h­ưu năm 1990. Hiện nay, ông là Tr­ưởng ban liên lạc cựu chiến binh Quân tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào.

Thiếu tướng Huỳnh Quốc Hương luôn có mặt tại Lào trong những thời điểm khó khăn nhất, tại những mặt trận khó khăn nhất của công cuộc Cách mạng trên đất nước Triệu Voi. Lần thứ nhất là vào năm 1963 khi ông đi kiểm tra tình hình Nam Lào rồi liên tiếp trong các năm từ 1965 đến 1967 trên cương vị Phó Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên phối hợp với Mặt trận Hạ Lào. Đây là thời điểm Mỹ đổ quân vào Việt Nam trực tiếp tiến hành chiến tranh tại Việt Nam nói riêng và ba nước Đông Dương nói chung. Mặt trận Tây Nguyên và Nam Lào là những nơi quan trọng nhằm khống chế ngã ba Đông Dương. Lần thứ hai từ năm 1969 đến năm 1975, ông được điều lên làm Phó Chính ủy Quân khu Tây Bắc rồi là Trưởng đoàn chuyên gia và Chính ủy Bộ đội tình nguyện Việt Nam tại Lào. Đây là giai đoạn cuối mang tính quyết định đồng thời cũng là giai đoạn khó khăn nhất của Cách mạng Lào. Chính phủ Liên hiệp bị phá vỡ đồng thời Mỹ sử dụng lực lượng của tướng phỉ Vàng Pao khống chế khu vực Cánh đồng Chum, đặt đài quan sát hướng dẫn máy bay ngay tại đây nhằm khống chế toàn bộ ba nước Đông Dương. Ông có mặt bên cạnh các lãnh tụ của Cách mạng Lào nhằm đối phó với âm mưu thâm độc của Mỹ và tay sai, giữ vững bảo vệ đồng thời mở rộng căn cứ kháng chiến của bộ đội Pa-thét Lào. Cuối năm 1975, trước khi ông về nước, ông Khăm-tày Xi-van-đon có tặng ông một thanh kiếm với lời nhắn nhủ " Đây là tượng trưng cho tinh thần thượng võ của nhân dân các bộ tộc Lào gửi gắm cho người bạn tin cậy Việt Nam"

Những năm làm nhiệm vụ quốc tế và sát cánh với nhân dân các bộ tộc Lào ông đã làm tròn những gì mà Bác Hồ dậy ‘’Làm cách mạng giúp bạn cũng là giúp mình’’. Một trong những chi tiết cảm đông là trong lần thứ hai nhận nhiệm vụ chiến đấu bên Lào, cũng là thời điểm Bác mất. Ông lên đường nhận nhiệm vụ vào đúng hôm Bác ra đi. Cho nên, đọc hồi kí ‘’Ngày Bác ra đi’’ của ông hết sức xúc động.

Bài viết : Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 08:36 PM
http://img263.imageshack.us/img263/3884/thieutuongnguyenbaphatnv0.jpg

Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát (2/5/1921-1993), nguyên : Ủy viên Hội đồng Khoa học Bộ Quốc phòng, Tư lệnh Quân chủng Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam (1964-1975), Tư lệnh Hải quân tiền phương trong Chiến dịch Hồ Chí Minh (5/1975), Tư lệnh Quân khu Đông Bắc, Phó Cục trưởng Cục phòng thủ bờ biển (nay là Cục Hải quân) (1955-1964), Tham mưu trưởng Liên khu 5. Ông là một trong những vị tướng chỉ huy đầu tiên có công xây dựng và phát triển Quân chủng Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam đồng thời là vị tư lệnh của Quân chủng này trong suốt những năm tháng Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một vị tướng có công đầu đối với Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển.

Ngoài ra ông cũng từng giữ các chức vụ : Thứ trưởng Bộ Thủy sản (1976-1987), Đại biểu Quốc hội các khóa (III, IV, V, VI).

Ông được phong Quân hàm Đại tá (1958), Thiếu tướng (1974) (từ năm 1981 Quân hàm này được gọi là Chuẩn Đô đốc Hải quân Nhân dân Việt Nam).

Huân chương : Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Ba), Chiến công hạng Nhất, Chiến thắng hạng Nhất, Kháng chiến hạng Nhất…

Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát sinh ra tại thôn Trung Sơn, xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

Trước Cách mạng ông từng là lính thủy trong quân đội Pháp. Là một thanh niên yêu nước, được giác ngộ, tháng 7/1945, ông tham gia Đội tự vệ bí mật của Việt Minh chuẩn bị giành chính quyền ở tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng. Cách mạng tháng Tám thành công, ông được cử làm Ủy viên Ủy ban Nhân dân lâm thời xã Trung Sơn kiêm chỉ huy trưởng quân sự tổng Thái Hòa, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng.

Tháng 9 năm 1945, ông gia nhập Quân đội giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Thủy đội Bạch Đằng đánh quân Nhật tại nhà băng Quy Nhơn, phá đập Khánh Hòa…cho đến trước ngày toàn quốc kháng chiến tháng 12/1946.

Trong Kháng chiến chống Pháp ông tham gia chỉ huy bộ đội lập nhiều chiến công tại Chiến trưởng Liên khu 5 và Tây Nguyên. Từ năm 1946 đến năm 1949, ồng từng giữ các chức vụ : Chi đội phó Chi đội Phan Đình Phùng, Chỉ huy trưởng Mặt trận Buôn Ma Thuột và đường số 14, Phó chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng, Trung đoàn trưởng các Trung đoàn (96, 73, 126).

Từ năm 1950 đến năm 1954, khi cuộc Kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn mới-giai đọan phản công, ông lần lượt giữ các chức vụ : Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108, Tham mưu trưởng Mặt trận Bắc Tây Nguyên (hay còn gọi là Mặt trận Buôn Mê Thuột), Sư đoàn trưởng Sư đoàn 305, Tham mưu phó rồi Tham mưu trưởng Liên khu 5.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tập kết ra Bắc và được cử làm Đại đoàn phó Đại đoàn Quân tiên phong (Sư 308) tháng 10 năm 1954 và sau đó được điều về Ban nghiên cứu Thủy quân trực thuộc Bộ Quốc phòng.

Năm 1955, Cục Phòng thủ bờ biển (tiền phong của cục Hải quân) được thành lập, ông được cử làm Cục phó. Năm 1958, ông được phong Quân hàm Đại tá.

Sau phong trào Đồng Khởi, cuối năm 1961 có sáu đoàn tàu từ các tỉnh Cà Mau, Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Bà Rịa…ra Bắc an toàn. Trước chủ trương chiến lược thành lập tuyến đường trên biển nhằm chi viện cho quân dân miền Nam, ông được giao nhiệm vụ chỉ huy việc nghiên cứu, đóng và tổ chức đoàn tàu không số.

Quân chủng Hải quân Nhân dân Việt Nam được thành lập, tháng 1 năm 1964 ông được cử giữ chức Phó Tư lệnh Quân chủng. Ngay trong tháng 12 năm 1964, ông được cử làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân kiêm Tư lệnh Quân khu Đông Bắc (sau khi sát nhập), Ủy viên Hội đồng Khoa học Bộ Quốc phòng.

Năm 1974, ông được phong Quân hàm Thiếu tướng. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông được cửa làm Tư lệnh tiền phương Hải quân Việt Nam tham gia chỉ huy chi viện cho chiến trường miền Nam bằng đường thủy, trực tiếp chỉ huy các Đoàn (125,126 Hải quân) giải phóng Quần đảo Trường Sa…

Sau ngày đất nước thống nhất ông chuyển ngành giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ thủy sản kiêm Bí thư Đảng ủy cơ quan Bộ từ 9/1976 đến năm 1987 (là năm ông về hưu).

Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát là vị tướng trưởng thành từ một người lính thủy Pháp. Là một người yêu nước được giác ngộ cách mạng, ông đã sớm tham gia chỉ huy lực lượng thủy quân Việt Nam tại chiến trường Liên khu 5 ngay từ năm 1945-ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công trước khi Quân chủng Hải quân được thành lập rất lâu.

Ngoài ra ông còn là một vị tướng có công đầu đối với sự hình thành và phát triển của Quân chủng Hải quân Nhân dân Việt Nam anh hùng từ ngày đầu thành lập đến khi kháng chiến chống Mỹ kết thúc. Là một vị tướng chỉ huy Hải quân trong suốt những năm tháng kháng chiến chống Mỹ và là Tư lệnh Quân khu Đông Bắc, ông có những cống hiến không nhỏ đối với việc xây dựng đoàn tàu không số, chỉ đạo và phát triển đường mòn Hồ Chí Minh trên biển chi viện đắc lực cho chiến trường miền Nam, bảo vệ và phòng thủ bờ biển cũng như chống chiến tranh phá hoại và âm mưu phong tỏa bờ biển của đế quốc Mỹ đảm bảo tiếp nhận an toàn hàng viện trợ của nhân dân tiến bộ và các nước trên Thế giới.

Ông cũng là một trong các vị tướng được Bác Hồ tặng đồng hồ của Người vì tầm quan trọng đặc biệt của công việc ông làm. Xin trích câu nói của Bác trong tập hồi kí của Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát để nói lên mối quan tâm đặc biệt của Bác Hồ đối với ông: "Chú là "gốc" lính thủy Pháp, chú có nhiều kinh nghiệm đi biển, đánh thắng thằng Mỹ này phải khác với đánh thắng thằng Pháp. Chú đã có công quật ngã thằng Pháp ở dưới mặt biển, thì bây giờ chú phải quật ngã tiếp thằng Mỹ xâm lược này nữa chứ, chú Phát ".

Bài viết : Theo Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 08:38 PM
http://img521.imageshack.us/img521/7208/thieutuonglethiethungoz4.jpg

Thiếu tướng Lê Thiết Hùng (1908-1986), nguyên: Tư lệnh Binh chủng Pháo binh (1954-1963) (đầu tiên), Hiệu trưởng Trường Lục quân Việt Nam (1950-1954), Cục trưởng Cục Quân huấn, Hiệu trưởng Trường bổ túc cán bộ Quân đội trung cấp, Chỉ huy mặt trận Bắc Kạn-Tuyên Quang, Tổng thanh tra Quân đội, Tổng chỉ huy Tiếp phòng quân (3/1946), Khu trưởng Khu 4 (12/1945). Ông được coi là vị tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ngoài ra ông còn từng giữ các chức vụ: Đại sức đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Phó ban Đối ngoại Trung ương.

Ông được phong Quân hàm Thiếu tướng (1945-theo sắc lệnh số 185, ngày 24/9/1945 do Bộ trưởng Bộ nội vụ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Huỳnh Thúc Kháng), (1948-trong lần phong tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam).

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất...

Thiếu tướng Lê Thiết Hùng (tên thật là Lê Văn Nghiệm, ngoài ra ông còn có tên khác là Lê Quốc Vọng, Lê Như Vọng, Lê Trị Hoàn), sinh trong một gia đình nông dân ở làng Đông Thôn, xã Thông Lạng, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Cha ông là Lê Văn Nghiệm (tức Lê Bá Thi, người đã tham gia khởi nghĩa Phan Đình Phùng, sau đó ủng hộ phong trào Đông du của Phan Bội Châu).

Nối trí cha xuất dương tìm đường cứu nước

Gặp lãnh tụ, Lê Như Vọng theo cách mạng

Đầu năm 1923, vừa qua tuổi thiếu niên, được người cha khích lệ, Lê Văn Nghiêm đã cùng một đoàn 12 người sang Thái Lan, do ông Võ Trọng Ba, hội viên Quang Phục hội, dẫn đầu. Trong đoàn này có những người sau này rất nổi tiếng như Lê Huy Doãn (tức Lê Hồng Phong-chú họ của Lê Thiết Hùng) và Phan Đài (tức Phạm Hồng Thái)… Ông Lê Văn Nghiêm đã tiễn con trai một quãng đường dài. Để có tiền ăn đường, vợ chồng ông đã phải cầm một sào ruộng lấy mười đồng bạc. Trước khi ông lên đường, cha ông đổi tên ông thành Lê Như Vọng.

Một năm sau, Tâm Tâm xã (tổ chức vừa tách ra từ Quang Phục hội, được ông Lý Thuỵ-tức lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-hướng dẫn đi theo con đường cách mạng mới), từ Trung Quốc gửi thư về triệu tập một số thanh niên ưu tú nhất sang Quảng Châu hoạt động. Vì không đủ tiền lộ phí, nên chỉ có 3 người là Lê Hồng Phong, Phạm Hồng Thái và Lê Quảng Đạt đi trước… Thật bất ngờ, chỉ vài tháng sau đó, tiếng bom của liệt sĩ Phạm Hồng Thái cho nổ ngày 18-6-1924, nhằm giết tên toàn quyền Pháp Méclanh, đã dội về làm chấn động toàn cõi Đông Dương…

Mùa thu năm 1924, Lê Như Vọng cùng một người nữa là Trương Văn Lĩnh đến lượt được chọn. Hai người bí mật đến Băng Cốc rồi lên tàu biển đi Hồng Công. Sau đó, họ đáp canô đến Quảng Châu…Hai người ở Quảng Châu được ít ngày thì được ông Lý Thụy tìm gặp. Sau khi tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của mỗi người và tình hình trong nước, ông Lý Thuỵ đã hướng dẫn họ tự học bằng cách đọc các loại sách báo Trung Quốc…Sau đó, ông Lý Thụy giới thiệu ông vào Thanh niên Cách mạng đồng chí hội.

Vào Hoàng Phố tính sau này giúp cách mạng

Quảng Châu khởi nghĩa, may không bại lộ

Mùa hè năm 1925, Trường võ bị Hoàng Phố khai giảng khoá mới. Để có điều kiện học thêm tiếng Trung Quốc và tìm hiểu kiến thức quân sự sau này phục vụ cách mạng, Lê Như Vọng và một số thanh niên yêu nước Việt Nam khác được tổ chức bố trí dự thi và đã trúng tuyển.

Hồi đó, Trường quân sự Hoàng Phố là một trường võ bị của Quốc dân đảng, do Chính phủ của ông Tôn Dật Tiên (Tôn Trung Sơn) lập ra và có khá nhiều đảng viên Cộng sản tham gia lãnh đạo (trong đó có Chu Ân Lai). Hiệu trưởng nhà trường lúc ấy là Tưởng Giới Thạch và Giám đốc là Lý Tế Thâm. Nhà trường được tổ chức theo mô hình của Hồng quân Liên Xô, do các chuyên gia quân sự Liên Xô giảng dạy, và phần lớn trang bị kỹ thuật đều do Liên Xô giúp đỡ… Đó là điều làm Lê Như Vọng phấn khởi nhất, vì ông có mơ ước được sang Liên Xô từ lâu mà chưa có điều kiện.

Sau cái chết của ông Tôn Dật Tiên (3-1925)-người đứng đầu Quốc dân đảng-Tưởng Giới Thạch bắt đầu phản bội lại đường lối “thân Nga, dung Cộng, phù trợ công nông” và thực hiện mưu đồ tiếm quyền lãnh đạo Quốc dân đảng. Lợi dụng cương vị Tổng Tư lệnh quân đội và Hiệu trưởng Trường võ bị Hoàng Phố, Tưởng đã nhiều lần điều học viên đi tiễu phạt các đơn vị không chịu phục tùng ông ta… Và khoá của Lê Như Vọng đã bị điều đi đánh nhóm quân phiệt Trần Quýnh Minh…

Trong số 700 học viên theo học Trường võ bị Hoàng Phố cùng khoá đó thì có tới gần 100 là người Việt Nam. Đa số đó là những thanh niên cách mạng, nhưng cũng có cả một số phần tử cơ hội, phản động của Trương Bội Công và Nguyễn Hải Thần đưa vào, nhằm tự đề cao uy tín và chuẩn bị cho các hoạt động của họ về sau…

Nguyễn Hải Thần tự xưng là chủ tịch một bộ phận Quốc dân đảng ở Quảng Châu và đưa tướng phỉ Đàm Dăm Tây ở biên giới Việt-Trung về làm chỉ huy quân sự. Nguyễn Hải Thần nhiều lần tỏ ý muốn lôi kéo toàn bộ số thanh niên Việt Nam đang theo học Trường võ bị Hoàng Phố phục vụ tổ chức này. Lê Như Vọng đã báo cáo với cấp trên, đề nghị cho phá tan âm mưu của tổ chức phản động này vì họ chỉ quen ăn cướp, đầu cơ chính trị, đã lôi kéo, lừa phỉnh được khá nhiều người… Ông Lý Thuỵ đã ủng hộ kế hoạch đó và ông đã thành công.

Hai ngày sau, ông Lý Thụy tìm gặp ông biểu dương và quyết định giới thiệu ông vào Đoàn Thanh niên Cộng sản và đặt tên cho ông là Lê Quốc Vọng.

Ngày 11-12-1927, cuộc khởi nghĩa Quảng Châu đã nổ ra. Lực lượng chính là thợ thuyền, binh lính dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã vùng lên giành được chính quyền trong ba hôm. Một số chiến sĩ cách mạng Việt Nam, trong đó có Lê Quốc Vọng, đã sát cánh chiến đấu cùng những người Cộng sản Trung Quốc với tình cảm quốc tế cao cả. Nhưng do lực lượng quá chênh lệch, lực lượng Quốc dân đảng dưới sự yểm hộ của hạm đội phương Tây đã phản công khiến cho cuộc khởi nghĩa mau chóng thất bại và bị dìm trong biển máu.

Rất may là Lê Quốc Vọng chưa bị lộ. Sau cuộc khởi nghĩa bất thành, ông đã cùng các học viên khác của trường chuyển lên Nam Kinh tiếp tục học tập và đã tốt nghiệp loại ưu…

Nhập quân Tưởng, làm tình báo giúp bạn

Gặp nhân sĩ, lấy tin từ Bộ tổng

Sau khi tốt nghiệp ông nhận quyết định bổ nhiệm sĩ quan trợ lý tham mưu trung đoàn trong quân đội Tưởng, Lê Quốc Vọng rất băn khoăn: Theo kế hoạch, sau khi học xong Trường võ bị Hoàng Phố, ông sẽ được bố trí đi Liên Xô học tập tiếp hoặc trở về Tổ quốc phục vụ cách mạng. Bây giờ tính sao đây? Đang bối rối thì có chỉ thị của ông Lý Thuỵ: Tình hình đã thay đổi. Đảng Cộng sản Trung Quốc bị thiệt hại nặng nề sau một số cuộc khởi nghĩa bất thành. Bạn chính thức đề nghị ta giúp đỡ, cụ thể là cài người vào hàng ngũ quân đội Tưởng. Bởi thế, Lê Quốc Vọng sẽ không đi Liên Xô học tập và cũng không về nước. Tổ chức yêu cầu ông nhận nhiệm vụ làm sĩ quan Quốc dân đảng. Ông cần tích luỹ thêm kinh nghiệm để sau này trở về phục vụ cách mạng trong nước; nhưng trước mắt cần thực hiện tốt các nhiệm vụ quốc tế do ĐCSTQ yêu cầu giúp đỡ”.

Lê Quốc Vọng đã hoàn thành xuất sắc bài sát hạch cuối cùng, được phong hàm trung uý và nhận quyết định về một trung đoàn bộ binh. Với cấp hàm này, ông có thể nhận chức Đại đội phó. Nhưng vì muốn tìm hiểu thêm đơn vị cơ sở trong quân đội Tưởng, nên ông chỉ xin nhận chức Trung đội trưởng, khiến cho viên chỉ hy trung đoàn ngạc nhiên hết sức. Nhưng ông chỉ mỉm cười và lặng lẽ làm tốt mọi việc được giao khiến cho cấp trên rất hài lòng; binh lính trong đơn vị cũng rất thích sự gần gũi, giản dị và cách sống tình cảm của “ngài sĩ quan trẻ”…

Giữa lúc ấy, Đảng Cộng sản Trung quốc cử người đến bắt liên lạc, đề nghị ông giúp đỡ “cài cắm” vào mỗi tiểu đội một người đã được chọn lựa trước. Kết quả là sau khi được huấn luyện, trang bị hoàn chỉnh,các đơn vị ấy đều bỗng nhiên bị “mất tích” và trở thành quân cách mạng cả… Hồi ấy, việc đào ngũ trong quân đội Tưởng là chuyện bình thường bởi lính càng đào ngũ nhiều, thì cấp trên càng có cơ hội lập ra con số ma để hưởng lợi.

Mùa đông năm 1928, liên minh của Tưởng giành được nhiều lợi thế quân sự. Lê Quốc Vọng đã được thăng chức Đại đội trưởng. Đơn vị của ông bị điều lên làm nhiệm vụ sát biên giới Liên Xô… Nhưng ở xa như vậy thì chẳng có lợi cho cách mạng, nên vài tháng sau, theo yêu cầu của Đảng Cộng sản Trung quốc là cần người thường xuyên đi lại làm nhiệm vụ trên tuyến xe lửa Thượng Hải-Nam Kinh-Hán Khẩu, ông đã làm đơn xin chuyển về Nam Kinh và trở thành… sĩ quan đường sắt.

Với cương vị mới, ông có thể lên xuống bất kỳ đoàn tàu nào. Và ông đã thực hiện giúp đỡ Đảng Cộng sản Trung Quốc khá nhiều “đặc vụ” trót lọt: đó là việc vận chuyển những vali tài liệu mật, vũ khí trang bị theo yêu cầu của cách mạng Trung Quốc, thậm chí, có lần còn tiến hành cả kế hoạch đánh tráo và giải thoát cho tù chính trị thành công.

Tháng 8-1929, ông nhận được chỉ thị phải lên ngay Thượng Hải. Thật bất ngờ, ông được gặp lại ông Lý Thuỵ trong một ngôi nhà nhỏ thuộc tô giới Anh. Thì ra, sau khởi nghĩa Quảng Châu, để tránh sự truy lùng của mật thám, ông Lý Thuỵ đã phải sang Thái Lan, qua Liên Xô rồi trở về Trung Quốc…

Ông Lý Thụy đã phân tích tình hình cách mạng Việt Nam, Trung Quốc và mối liên hệ giữa cách mạng hai nước và nói với ông rằng Đảng cộng sản Trung quốc rất tín nhiệm ông và muốn ông ở lại trong quân đội Tưởng để giúp họ. Nhiệm vụ của ông là bằng mọi cách theo dõi nắm chắc âm mưu của quân Tưởng; nếu có thể, lấy được bản kế hoạch tấn công của họ là tốt nhất, rồi báo ngay cho phía Đảng Cộng sản Trung quốc biết để có kế hoạch kịp thời đối phó…Vì lúc đó có thông tin rằng quân đội Tưởng sẽ mở một cuộc tấn công có quy mô nhằm tiêu diệt đầu não của Đảng Cộng sản Trung quốc, tiêu diệt cách mạng Trung quốc. Nhân dịp này, ông Lý Thụy quyết định kết nạp ông vào Đảng Cộng sản Việt Nam, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức được thành lập.

Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, ông đã liên hệ với ông Hồ Học Lãm một nhân sĩ yêu nước đồng thời là một yếu nhân của quân đội Tưởng vì bất đắc dĩ mà phải làm trong Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu Quân đội Tưởng. Cha ông từng tham gia phong trào Cần Vương, đã bị giặc Pháp sát hại; và vợ là con gái một tướng tài của cụ Phan Đình Phùng.

Được sự giúp đỡ của ông Hồ Học Lãm, Lê Quốc Vọng đã lấy được nhiều tài liệu mật của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Tưởng chuyển về cho cách mạng Trung quốc.

Hồi đó, Bộ Tổng tham mưu của quân đội Tưởng do các cố vấn quân sự của Đức trực tiếp chỉ đạo và tổ chức theo mô hình của quân đội phát xít Đức. Bởi vậy, kỷ luật hết sức nghiêm ngặt và khắt khe, nhất là việc quản lý hồ sơ và tài liệu mật. Người nào làm việc gì chỉ biết việc đó. Hết giờ làm việc, tất cả đều được niêm phong và gửi vào két sắt bảo mật, nghiêm cấm mang bất cứ tài liệu gì về nhà… Để có các tài liệu mật do Lê Quốc Vọng, ban ngày ông Hồ Học Lãm đã phải đọc kỹ và “nhập tâm”, buổi tối về nhà thì nhớ lại và chép ra từng câu từng ý, vẽ lại bổ sung vào bản đồ đã được chuẩn bị trước…

Ngoài ra, ông còn chi khá nhiều tiền, vàng làm quà cáp và ăn nhậu với các sĩ quan khác để moi thêm tin tức. Chưa yên tâm, để kiểm chứng, xác minh các nguồn tin quan trọng, Hồ Học Lãm còn kiếm cớ “đi kiểm tra” để xuống một số sư đoàn, đơn vị sắp tham chiến xem thực hư thế nào… Tất cả những thông tin đó được hai người sàng lọc, thống nhất rồi Lê Quốc Vọng chuyển cho phía bạn, cũng bằng phương pháp… “nhập tâm” và nhớ lại là chính.

Trong khoảng mùa hè và mùa thu năm 1930, nhiều nguồn tin tình báo quan trọng đã tới tấp chuyển về Bộ chỉ huy tối cao Hồng quân Trung Quốc. Từ những “chuyện nhỏ” như: Quân Tưởng đã cấm chở thóc gạo xuôi theo sông Nha Thuỷ và Cống Giang; nhiều sĩ quan quê ở Phúc Kiến, Giang Tây vừa được điều về Bộ Tổng tham mưu… Các sư đoàn của các tướng Trương Huy Tân, Đàm Đà Huyên, Lưu Hoà Dĩnh vừa được tăng quân và trang bị vũ khí ra sao v.v… Cho đến những “chuyện tày đinh”: Kế hoạch tiến công vào cơ quan đầu não Đảng Cộng sản Trung Quốc do chính tay Tưởng Giới Thạch phê chuẩn; phạm vi và mục tiêu các cuộc tấn công ở vùng tứ giác La Lâm, Nghi Hoàng, Lê Xuyên, Thuỵ Kim… Binh lực tham gia tấn công từng giai đoạn… Kế hoạch hoạt động quân sự của quân đội Tưởng cuối năm 1930-1931…


Kết quả là cả 3 đợt hành quân quy mô của quân đội Tưởng vào khu Xôviết trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc đều bị thất bại. Đợt một: quân Tưởng huy động tới 10 vạn lính, từ tháng 12-1930 đến tháng 1-1931 thì phải rút lui. Đợt hai: sau 6 tháng chuẩn bị, chúng tăng quân lên gấp đôi, lại thất bại. Đợt ba: đích thân, Tưởng Giới Thạch chỉ huy, số quân được tăng lên 30 vạn… nhưng cuối cùng vẫn không đạt được mục đích đề ra, đành phải rút quân!

Tháng 6 năm 1932, Tưởng Giới Thạch mở cuộc tấn công tổng lực lần thứ 4 và kế hoạch tấn công được ông Hồ Học Lãm trao cho ông chuyển cho phía ĐCSTQ, lần này quân Tưởng thất bại ngay từ trong trứng nước. Sau sự thất bại này, ông bị mật vụ Tưởng Giới Thạch theo dõi chặt chẽ, trong khi thực dân Pháp tố cáo ông là cộng sản nguy hiểm làm nhiệm vụ liên lạc giữa Thượng Hải-Hồng Kông và Việt Nam và treo giải 500 nghìn đồng cho ai bắt được ông. Tuy nhiên, nhiều người khi đó vẫn tưởng ông là em họ của ông Hồ Học Lãm cho nên chưa bắt ông.

Thực hiện quyết tâm tiêu diệt đầu não của Đảng Cộng sản Trung quốc, Tưởng Giới Thạch được sự hỗ trợ ngầm của Anh-Pháp-Đức đã lên phương án một cuộc tấn công tổng lực. Một đoàn cố vấn cao cấp quân sự Đức do Thượng tướng Seekt dẫn đầu đã tới Nam Kinh…Những thông tin như vậy lại được chuyển đến ĐCSTQ.

Cuộc tiến công của quân Quốc dân đảng đã diễn ra vào tháng 10-1933. Đích thân Tưởng Giới Thạch chỉ huy và viên tướng Đức Seekt cố vấn, mọt đạo quân khổng lồ đông tới cả triệu người với rất nhiều xe pháo, phương tiện kỹ thuật hiện đại thời ấy được phía Quốc dân đảng huy động ra trận… Cuộc chiến ác liệt kéo dài tới 11 tháng. Hầu như cả Bộ Tổng tham mưu quân Tưởng đều phải ra trận. Ông Hồ Học Lãm tất bật như con thoi vì những quân lệnh “thượng khẩn” và “tuyệt mật”. Nhưng đồng thời nội dung những quân lệnh ấy cũng được Lê Quốc Vọng thông báo đều đặn cho phía ĐCSTQ để đối phó…Những trận đánh ác liệt gây thiệt hại cho cả hai phía. Hồng quân vừa chống trả quyết liệt vừa tổ chức một số cuộc phản công và đánh vu hồi vào hậu phương Quốc dân đảng… Nhưng rồi quân Tưởng với sự trợ giúp của Anh, Pháp, Đức… vừa đông người lại dư thừa về vũ khí trang bị quân sự, nên đã giành được lợi thế trên chiến trường… Quân kháng chiến do ĐCSTQ lãnh đạo buộc phải rút về phía Tây (Vạn lý trường chinh). Lê Quốc Vọng mất liên lạc với ĐCSTQ từ khi đó.

huy thanh
29-06-2009, 08:43 PM
Dặm trường kháng Nhật hòng nối liên lạc


Vào chốn hiếm nguy nhằm giúp cách mạng


Tháng 9-1931, phát xít Nhật bắt đầu xâm lược Trung Quốc. Trong 2 tháng, đã đánh chiếm được một vùng rộng lớn với diện tích cả triệu kilômét vuông với mấy chục vạn dân. Tháng 1-1933, quân Nhật chiếm được Nội Mông, Nhiệt Hà, tràn qua Vạn Lý Trường Thành và uy hiếp thủ đô Bắc Kinh cùng miền Hoa Bắc. Tháng 7-1937, sau khi dựng “vụ Lư Cầu Kiều” để có cớ, Nhật đã đánh chiếm được cả vùng Thượng Hải, Nam Kinh, Hán Khẩu, Từ Châu… Quân Tưởng Giới Thạch thua trận chạy dài. Tưởng Giới Thạch quyết định rút lui về Trùng Khánh, thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Hồi ấy, nơi này chưa có đường xe lửa nối với các tỉnh đồng bằng, quân Tưởng phải sử dụng cả binh đoàn vận tải số 2.

Để có điều kiện đi lại nhiều nơi, hy vọng nối liên lạc với ĐCSTQ, Lê Quốc Vọng đã xin chuyển về binh đoàn vận tải. Thời gian đầu ông được giao chỉ huy một tiểu đoàn đảm nhiệm tuyến đường các tỉnh Giang Tây-Hồ Nam-Quý Châu… Sau đó, ông được thăng cấp đại hiệu (đại tá) và bổ nhiệm làm Hiệu trưởng trường huấn luyện đào tạo lính lái xe tăng, thiết giáp, xe vận tải và lính thợ kỹ thuật… Ông đã miệt mài say sưa học lái xe tăng, xe thiết giáp, nắm vững nguyên lý cấu tạo động cơ máy móc từng loại… vì tin rằng: nhất định sau này quân đội cách mạng của Việt Nam cũng sẽ có xe tăng, xe thiết giáp và cần đến các kiến thức đó.

Đầu năm 1939, chiến sự đã lan tới tỉnh Hồ Nam. ĐCSTQ cử một cán bộ có bí danh là Lôi Chấn đến liên lạc và tha thiết đề nghị được giúp đỡ về súng đạn và trang bị. Hồi ấy, Hoa Bắc là vùng chiến sự đang hết sức căng thẳng và ác liệt. Quân chủ lực của phát xít Nhật tập trung phần lớn tại vùng này. Các tướng tá trong quân đội Tưởng chẳng ai muốn đến miền đất khó khăn chết chóc đó, nên khi Lê Quốc Vọng đặt vấn đề xin chuyển đến Binh đoàn vận tải số 1 đã được đồng ý ngay. Binh đoàn này hoạt động trên một địa bàn rất rộng gồm các vùng Hà Nam-Sơn Tây-Cam Túc…

Lê Quốc Vọng được giao chỉ huy Tiểu đoàn 106, gồm 8 đại đội vận tải cơ giới. Chỉ huy các đơn vị này đều là những sĩ quan hầu hết họ đều kiêm buôn lậu thuốc phiện, vàng bạc và hàng quốc cấm. Nhưng bằng tài trí của mình, Lê Quốc Vọng đã nhanh chóng chinh phục được họ. Ông bí mật vẽ lại sơ đồ bố trí các kho tàng của quân Tưởng ở hai tỉnh Sơn Tây, Hà Nam rồi giao lại cho đại diện phía ĐCSTQ có bí danh là Lục Quần, với chú tích “chỉ cần một lực lượng nhỏ, tập kích bất ngờ là sẽ lấy được ngay”. Hơn thế nữa, trong vòng nửa năm ông đã khôn khéo chỉ huy binh lính, tiến hành vận chuyển và bàn giao trót lọt hơn 30 tấn vũ khí hàng quân sự gồm vũ khí, trang bị, thuốc men cho Bát lộ quân Trung quốc.

Tổ quốc gọi ngàn dặm không mệt mỏi

Lập đội vũ trang chờ ngày cứu nước

Mùa hạ năm 1940, Lê Quốc Vọng bất ngờ nhận được 2 lá thư (một của ông Phùng Chí Kiên, một của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc) yêu cầu ông rời hàng ngũ quân Tưởng Giới Thạch về vùng biên giới Quảng Tây nhận nhiệm vụ mới. Lê Quốc Vọng làm đơn nhờ ông Hồ Học Lãm can thiệp “xin chuyển công tác về vùng Hoa Nam vì lý do sức khoẻ”… Trong khi chờ đợi quyết định, ông còn tổ chức một chuyến hàng đặc biệt gồm những khí tài quan trắc đo đạc chính xác. Đó là một chuyến đi xa về phía tây rất vất vả. Thậm chí còn phải nổ súng chiến đấu với thổ phỉ trấn cướp dọc đường… nhưng cuối cùng ông cũng hoàn thành nhiệm vụ.

Giờ phút chia tay với đơn vị vận tải, chỉ có Dương Tử Kiếm, người đồng sự cấp phó mới được đề bạt, tiễn tận xe. Ông ta nói vẻ xúc động:

Đại hiệu (cách gọi cấp Đại tá của quân đội Quốc dân đảng thời đó) đi lần này, chắc sẽ không về đây nữa”…-“Sao ông lạ nói vậy?”

Dương Tử Kiếm lặng lẽ chìa ra trước mặt Lê Quốc Vọng những bức điện mật và thư tố giác ông gửi đến Binh đoàn, thống kê từng chuyến hàng ông đã giao cho Bát lộ quân với ngày giờ rất cụ thể… Lê Quốc Vọng giật mình, đứng lặng người đi, nhìn người đồng sự thăm dò…

Đại hiệu cứ yên tâm. Trung tướng Binh đoàn trưởng cúng biết nhưng tướng quân đã lờ đi. Ông còn bảo: Họ (tức Bát lộ quân) cũng là người Trung Hoa cả. Có cho họ ít súng đạn để đánh Nhật cho ta cũng chả sao”-Dương Tử Kiếm cười.

Đường từ Hoa Bắc xuống Hoa Nam dài tới mấy ngàn cây số. Để giữ bí mật cho chuyến đi, tránh đặc vụ Tưởng truy đuổi, Lê Quốc Vọng phải cho xe đi vòng vèo trên các vùng núi hiểm trở, khó khăn… Sau một ngày, ông cho xe quay lại. Người lái xe cứ năn nỉ và tình nguyện xin đi theo phục vụ, nhưng ông kiên quyết từ chối. Cuộc hành trình được nối tiếp. Gặp được phương tiện nào, ông nhờ luôn thứ đó: xe khách tư nhân, xe tải quân sự, xe ngựa và cả đi bộ… Một ngày nọ, Lê Quốc Vọng tới khu vực Vĩnh Lạc, tỉnh Sơn Tây, du kích địa phương khám trong người ông thấy có phù hiệu cấp Đại tá của quân Tưởng. Lập tức ông bị trói gô lại, bị đánh một trận nhừ tử rồi… điệu đi xử bắn! Thì ra, người ta cho ông là một tên… “Hán gian” nguy hiểm. Thanh minh thế nào cũng không được. May sao, lúc sắp bị đưa đi xử bắn, ông bỗng nhắc đến tên đồng chí Châu Xương, một cán bộ có uy tín của ĐCSTQ… vậy là được “tạm thời tha chết”. Sau một tuần bị giam giữ cẩn mật và xét hỏi qua nhiều cấp, ông mới được thả để về Quế Lâm…Một buổi chiều Tĩnh Tây se lạnh, theo lời hẹn của tổ chức, ông gặp lại ông Lý Thụy tức Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Cuối năm 1941, tại Pác Bó (Cao Bằng) Lê Quốc Vọng được Bác Hồ giao nhiệm vụ cùng với ông Lê Quảng Ba lập đội vũ trang đầu tiên gồm 12 người, do ông làm Chính ủy. Trường quân sự Cao Bằng được thành lập, ông trở thành hiệu trưởng đầu tiên góp phần đào tạo những cán bộ cho cách mạng đang đến gần. Tiếp đó, ông lại nhận nhiệm vụ cùng ông Võ Nguyên Giáp phụ trách Ban xung phong Nam tiến, mở đường về xuôi… Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (93-1945), Lê Quốc Vọng đã chỉ huy một đơn vị vũ trang và lãnh đạo quần chúng giành chính quyền ở Thất Khê, Đồng Đăng, Na Sầm (Lạng Sơn)… thu hàng ngàn khẩu súng của địch để trang bị cho những đội quân đầu tiên của cách mạng…

Cách mạng thành công, ra sức bảo vệ nền độc lập

Tướng đầu tiên, vinh dự cao trách nhiệm nặng nề

Sau Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam non trẻ phải gồng mình vì sức ép của “thù trong giặc ngoài”. Mượn danh “quân Đồng minh” đến giải giáp vũ khí của phát xít Nhật, 20 vạn quân Tưởng đã rầm rộ kéo vào miền Bắc nước ta với những mưu đồ nham hiểm… Tại miền Nam, hàng vạn quân viễn chinh Pháp cũng đang núp bóng quân Anh quay lại, âm mưu xâm lược nước ta lần nữa…


Tháng 11 năm 1946, ông được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam. Sau đó, ông được điều ra giữ chức Tư lệnh Quân khu 4.


Với việc ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khôn khéo gạt được hơn 20 vạn quân Tưởng và cơ hội chính trị ăn theo quân Tưởng ra khỏi miền Bắc. Theo điều khoản phụ lục về quân sự của Hiệp định này thì Chính phủ Việt Nam phải tổ chức “Tiếp phòng quân” để thay thế quân Tưởng, giám sát việc rút quân; đồng thời cũng là để buộc phía Pháp phải thi hành đúng Hiệp định đã ký… Và muốn cho quân Tưởng chấp nhận “rút lui trong danh dự”, quân Pháp tôn trọng trong ứng xử và khi giao tiếp, thì Tổng chỉ huy “Tiếp phòng quân” của Việt Nam cũng phải mang quân hàm tướng, cho tướng xứng với chỉ huy của đối phương! Sau khi cân nhắc, Trung ương đã chọn Lê Quốc Vọng. Khi đó, anh đang giữ chức vụ Khu trưởng Khu IV.


Nhận được điện gọi, Lê Quốc Vọng vội ra ngay Hà Nội và được chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao nhiệm vụ. Sau khi nghe mình được giao trọng trách, lại được phong quân hàm Tướng, Lê Quốc Vọng cảm nhận được vinh dự quá lớn, nhưng ông rất lo. Đắn đo mãi mới dám nói:

Thưa Bác, tôi tự thấy mình còn ít am hiểu quân đội Pháp, chưa quen việc với bọn chúng. Đề nghị chọn đồng chí khác xứng đáng hơn ạ.


Bác cười, rồi động viên:

Ô hay, chú định làm công tác cán bộ thay Thường vụ Trung ương hay sao! Việc này đã được cân nhắc kỹ, chỉ có chú là xứng đáng nhất. Chú hãy nhận đi!.


Rồi Bác ân cần bảo:

Chú đã từng có hơn chục năm sống trong quân đội Tưởng, hoạt động cho Đảng bạn với bao cạm bẫy chông gai… nhưng đã vượt qua được. Bây giờ được giao nhiệm vụ và thử thách mới rất gay go, nhưng là cho nước, cho dân mình, nên phải hết sức cố gắng! Đối thủ của chú là các tướng Valuy, Xalăng, Alếcxăngđri và cả Xanhtơni… rất nham hiểm. Trước đât, “chết thép” trong con người chú đã được tôi luyện, nay vào cuộc chiến đấu mới với thực dân Pháp thì phải cần thêm “chất hùng” nữa. Bác đã nghĩ kỹ và chọn cho chú cái tên mới là Lê Thiết Hùng, chú thấy sao?”.


Lê Quốc Vọng đứng nghiêm, mắt ngấn lệ, nhưng dõng dạc:


Cảm ơn Đảng và Bác đã tín nhiệm. Tôi nguyện sẽ đem hết tài trí và sức lực của mình phục vụ cách mạng, dù phải hy sinh cũng quyết hoàn thành nhiệm vụ”!



Vậy là từ đó, ông chính thức được mang tên mới: Lê Thiết Hùng. Và cái tên này cũng gắn liền với một vinh dự đặc biệt: Người được phong hàm Thiếu tướng đầu tiên của QĐND Việt Nam! (Cho mãi tới 2 năm sau, ngày 28-5-1948, tại chiến khu Việt Bắc, Trung ương mới chính thức tổ chức Lễ phong quân hàm cấp Tướng và cấp Đại tá cho một số cán bộ cốt cán của quân đội).


Bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, tháng 7 năm 1947, ông được điều tham gia xây dựng Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam.


Từ tháng 1/1948 đến năm 1950, ông được giao trọng trách làm Tổng Thanh tra đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trên cương vị này ông đã góp phần không nhỏ giải quyết các vụ án nổi tiếng thời bấy giờ như vụ án tham nhũng của Đại tá Trần Dụ Châu (Tổng Cục trưởng Tổng cục cung cấp), vụ án gián điệp ảo…Ông còn là Chỉ huy trưởng mặt trận Bắc Kạn-Tuyên Quang (chiến khu 2) rồi Hiệu trưởng Trường bổ túc quân chính trung cấp.


Từ năm 1950 đến năm 1954, ông là Cục trưởng Cục Quân huấn kiêm Hiệu trưởng Trường Lục quân Việt Nam. Ông là Ủy viên Bộ Chỉ huy quân sự Trung ương và Ủy viên Bộ chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.


Từ năm 1954 đến năm 1956, ông là Tư lệnh Bộ chỉ huy Pháo binh. Tiếp đó từ năm 1956 đến năm 1963, ông là Tư lệnh đầu tiên của Binh chủng Pháo binh Quân đội Nhân dân Việt Nam kiêm Chỉ huy trưởng Sở chỉ huy phòng không.


Năm 1963, ông được giao trọng trách mới: Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại CHDCND Triều Tiên… Hết nhiệm kỳ, ông về nước làm Phó trưởng ban CP48 và Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cho tới ngày nghỉ hưu


Thiếu tướng Lê Thiết Hùng và nhà cách mạng Lê Hồng Phong là cùng một họ, theo vai vế thì ông phải gọi nhà cách mạng Lên Hồng Phong bằng chú. Ảnh của hai ông được đặt trang trọng trong nhà thờ họ Lê tại quê hương.

Thiếu tướng Lê Thiết Hùng có hai người vợ. Người vợ thứ nhất là bà Hồ Diệc Lan, con gái lớn của cụ Hồ Học Lãm. Bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung quốc khi còn rất trẻ và mất vì căn bệnh lao phổi do sống khó khăn trong căn cứ địa cách mạng của Trung quốc. Người vợ thứ hai của ông là bác sĩ quân y Nguyễn Tuyết Mai, từng là học sinh Trường Đồng Khánh (Hà Nội), giỏi tiếng Pháp, đã tốt nghiệp khoa Sản Trường Đại học Y-Dược Hà Nội. Trước khi nghỉ hưu, bà là Trưởng ban Quân y của Tổng cục Kỹ thuật (Bộ Quốc phòng). Người con gái duy nhất của hai ông bà là Lê Mai Hương.

huy thanh
29-06-2009, 08:45 PM
http://img521.imageshack.us/img521/755/thuongtuonghoangcamzw0.jpg


Thượng tướng Hoàng Cầm (30/4/1920), nguyên: Tổng Thanh tra Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tư lệnh Quân đoàn 4 (B.inh đoàn Cửu Long), Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Ngoài ra ông còn là Phó Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố Hồ Chí Minh sau ngày giải phóng.

Ông được phong quân hàm Đại tá (1960), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1982), Thượng tướng (1987).

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Nhì), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba).

Thượng tướng Hoàng Cầm, tên thật là Đỗ Văn Cầm, bí danh Năm Thạch, sinh ra trọng một gia đình cố nông ‘’không một tấc đất cắm dùi’’ tại thôn Vĩnh Thượng, xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (trước là tổng Sơn Lăng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông).

Tuổi thơ lưu lạc và con đường đến với cách mạng

Quê hương ông là một vùng quê giàu đẹp khiêm nhường, ở đấy có những cánh đồng cấy được hai vụ chiêm và mùa, có những vạt bãi rộng phẳng, đất tơi xốp và màu mỡ được bồi đắp bởi phù sa của dòng sông Đáy. Tuy nhiên, trước cách mạng tháng Tám 1945, hầu hết người dân quê ông đều phải làm thuê cuốc mướn cho địa chủ, phú nông (là những người chiếm hầu hết ruộng đất trong xã) đầu tắt mặt tối quanh năm mà cũng không đủ ăn.

Ông mồ côi mẹ năm lên ba tuổi, nhà nghèo bố ông phải đi làm thuê gánh mướn kiếm sống. Địa chủ, phú nông trong xã vì muốn cướp mảnh đất nhỏ nhoi cuối cùng mà ông bà ông để lại đã xô đẩy gia đình ông vào hoàn cảnh tan đàn xẻ nghé. Chúng vu cho bố ông có giấu rượu lậu trong nhà rồi cho lính đoan đến bắt bố ông giam ở Hỏa Lò sáu tháng đồng thời nộp phạt 40 đồng, nếu không sẽ bị tù ‘’mọt xương’’.

Được ra tù, bố ông phải bán nhà và chị gái ông lấy tiền nộp phạt. Từ đó ra đình ông bị dồn vào cảnh màn trời chiếu đất, không một tấc dùi dung thân. Quẫn chí bố ông thắt cổ tự tử khi ông mới 12 tuổi. Gia đình ông phải kín đáo đưa bố ông ra đồng, vì sợ rằng nếu khai báo thì hào lí trong làng kiếm cớ gây sách nhiễu, phiền hà.

Sau khi bố ông mất, ông bắt đầu cuộc sống tôi đòi, phải đi ở đợ làm ‘’con nuôi’’ cho một gia đình giàu có với bao đắng cay tủi phận trong sáu năm liền. Năm ông 17 tuổi, trước tình cảnh không lối thoát, ông quyết định bỏ làng đi nơi khác kiếm sống.

Tháng 8 năm 1940, ông ra Hà Nội dừng lại ở chợ Hôm, phố Huế. Tại đây ông làm đủ nghề : gánh nước, kéo xe bò, vác gỗ, bổ củi thuê, nhưng chỉ là làm tạm bợ chốc lát lại phải cắp nón sang nhà khác xin việc. Hàng ngày bữa đói, bữa no, ban ngày thi đi qua các phố tìm việc ban đêm ngủ vất vưởng nơi góc chợ. Đã có lúc ông gần như sống bằng cách ngửa tay cầu xin lòng thương cảm của khách đường phố.

Tục xưa, hễ ai mà bỏ làng ra đi thì cả làng đều coi thường khinh rẻ, cho nên trước khi bỏ nhà ra đi ông đã nguyền không bao giờ quay lại làng cũ nữa. Đang tính chuyện phá lời nguyền về làng thì được tin chủ thầu Pháp mộ phu đi làm đường, ông liền ghi tên.

Ông được chủ thầu Pháp đưa đi mở con đường mà nay là đường số 7 nối liền thành phố Vinh (tỉnh Nghệ An) với Lào. Cùng với những người dân phu làm đường, ông phải làm việc quần quật hết mình rồi còn bị chủ thầu chửi bới, đánh đập. Trước cảnh bạn phu làm đường người thì bị đói, rồi bệnh tật ốm đau rồi ngày nào cũng có người sa chân xuống vực, núi lở, đá rơi…ngay bản thân ông được 4 tháng thì bị sốt rét rừng quật ngã cho nên sau 9 tháng ông bỏ việc làm phu cho người Pháp.

Đổi đời từ mùa Thu cách mạng

Quay trở lại Hà Đông, đang trong lúc bĩ cực được tin Pháp mộ lính, ông ghi tên đăng lính với suy nghĩ như bao thanh niên nghèo Việt Nam hồi đó-âu cũng là một nghề. Ngay sau khi đăng lính một ngày, thực dân Pháp đưa ông lên xe đi Lai Châu. Từ đây tuy không phải lo chạy ăn từng bữa, nhưng trong gần hai năm đi lính cho Pháp, ông nhận thấy sự thấp cổ bé họng cũng như sự nhục nhã của người dân nô lệ. Cùng là lính như nhau nhưng lính Pháp thì lương cao hơn lính bản xứ rất nhiều, có quyền thế hơn và không phải lao công tạp dịch.

Sơn La, Lai Châu vốn là chốn rừng thiêng nước độc cách biệt với thế giới bên ngoài là nơi thực dân Pháp giam cầm các chiến sĩ cách mạng. Trong một lần chứng kiến thực dân Pháp cha tấn một người thanh niên, nghèo, cha mẹ mất sớm giống ông, vì tội ‘’làm cộng sản’’ tuy chưa hiểu cặn kẽ những hành động của thực dân Pháp lúc đó là thống trị, đàn áp, xâm lược (theo lời của ông) nhưng cũng làm cho ông chán ngán quyết định từ bỏ cuộc đời làm lính, trốn về xuôi.

Trở về Hà Nội ông vừa phải bươn trải kiếm sống tại chợ Hôm, vừa phải trốn tránh sự truy lùng của thực dân Pháp vì tội trốn lính. Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, không khí cách mạng sục sôi ở quê ông cũng như ở Hà Nội, nơi nào cũng có cán bộ Việt Minh diễn thuyết, tuyên truyền vận động đồng bào nhất tề đứng lên đánh Pháp đuổi Nhật lật đổ chế độ vua quan.

Đầu tháng 8 năm 1945, ông được kết nạp vào tổ Thanh niên cứu quốc do ông Lê Thám phụ trách cùng với các ông như Lê Quân, Quang Liêm, Văn Xì, Hữu Thưởng…đều là những học sinh, sinh viên Hà Nội. Tổ của ông từ chỗ làm nhiệm vụ dán khẩu hiệu, rải truyền đơn, diễn thuyết…dần dần được trang bị trở thành lực lượng tự vệ chiến đầu của thành phố. Lực lượng cách mạng phát triển nhanh chóng, tự vệ chiến đấu của thành phố phát triển hết sức nhanh chóng lên tới 700 người (sau ngày 19/8 tổ chức thành các chi đội). Lúc bấy giờ, lực lượng cách mạng thiếu thốn đủ thứ : lương thực, thuốc men, chăn màn, quần áo và nhất là súng đạn…Đơn vị của ông dưới sự chỉ huy của ông Lê Thám đã tổ chức đóng giả lính bảo an đột nhập vào các kho của quân Nhật (trước đây của quân Pháp) tại các phố Hàng Bông, Hỏa Lò, Thợ Nhuộm…lấy đồ quân nhu tự trang bị cho lực lượng vũ trang Hà Nội còn non trẻ chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa.

Ngày 17/7, tổng hội viên chức thân Nhật tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại Nhà hát lớn. Tổng bộ Việt Minh Hà Nội quyết định biến cuộc mít tinh này thành cuộc mít tinh nhằm vạch mặt của phát xít Nhật cũng như tay sai, đồng thời kêu gọi đồng bào đứng lên giành chính quyền dưới sự lãnh đạo của lực lượng Việt Minh. Ông cùng đơn vị của mình được giao cho nhiệm vụ bảo vệ cuộc mít tinh, bảo vệ các cán bộ Việt Minh diễn thuyết, trấn áp những kẻ trà trộn phá hoại cùng những thành phần phản động thân Nhật.

Ngày 19/8, Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại Hà Nội. Ông cùng đơn vị tự vệ chiến đấu được giao nhiệm vụ bảo vệ cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại nhà hát lớn thành phố (gồm khoảng 20 vạn nhân dân Hà Nội), sau đó sẽ tham gia đánh chiếm các công sở, các trại lính bảo an…của chính quyền bù nhìn.

Ngày 2/9 năm 1945, một ngày lịch sử, đơn vị của ông được vinh dự tham gia bảo vệ buổi lễ độc lập tại Quảng trường Ba Đình, bảo vệ chính phủ lâm thời và chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó đơn vị của ông được chuyển lên đóng tại Soi Sử, Thạch Thất tỉnh Sơn Tây cũ. Tại đây, đơn vị ông tiếp nhận thêm quân số và tổ chức lại thành đại đội tự vệ chiến đấu mang tên Lê Thám và ông được cử làm tiểu đội trưởng.

Trưởng thành trong kháng chiến trường kỳ

Những ngày đầu tiên của chính quyền cách mạng non trẻ, tình thế như ‘’ngàn cân treo sợi tóc’’. Phía Bắc thì 10 vạn quân Tưởng tràn vào, phía Nam thì quân Pháp núp bóng quân Anh vào giải giáp vũ khí của quân Nhật. Đơn vị của ông được lệnh của cấp trên chuẩn bị Nam tiến, chi viện cho Nam bộ kháng chiến.

Đầu tháng 11/1945, ông Phạm Ngọc Mậu (sau này là Thượng tướng) được lệnh của Bộ Tổng tham mưu xuống trực tiếp giao nhiệm vụ cho đơn vị của ông Tây tiến lên Sơn La, Lai Châu thay vì Nam tiến bảo vệ, củng cố Biên giới phía Bắc của Tổ quốc.

Tình hình Sơn La và Lai Châu khi đó hết sức nguy kịch, ở Sơn La cơ sở Đảng và đoàn thể cứu quốc còn yếu cho nên ta phải phái một đại đội và hai trung đội từ Sơn Tây, Phú Thọ lên phối hợp giành chính quyền. Còn Lai Châu thì chính quyền vẫn chủ yếu nằm trong tay Quốc dân đảng và tay sai của Nhật. Đồng thời 2 tiểu đoàn của Pháp chạy sang Vân Nam Trung Quốc sau ngày Nhật đảo chính Pháp nay lại quay lại Lai Châu. Trước tình thế đó, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Bộ Tổng tham mưu quyết định mở Mặt trận Tây Bắc.

Giữa tháng 12 năm 1945, tàn quân của Alexandri kéo về tăng viện cho quân Pháp tại đây. Trung đội của ông được lệnh tách khỏi đội hình của Đại đội, cấp tốc lên Quỳnh Nhai với nhiệm vụ chặn quân Pháp có thể từ Lai Châu theo sông Đà đánh vào Sơn La từ hướng Đông Bắc. Tuy nhiên do kinh nghiệm chỉ huy và chiến đấu kém, đơn vị ông đã chậm hơn quân Pháp đồng thời bị đánh bật lên núi cao. Sau đó đơn vị ông bí mật xuống núi rồi trở về hữu ngạn sông Đà phân tán bám dân, làm công tác dân vận tuyên truyền, nuôi dưỡng, xây dựng và phát triển lực lượng.

Tháng 3 năm 1946, quân Pháp tổ chức đánh từ Lai Châu xuống Sơn La, do lực lượng yếu Trung đoàn Sơn La không ngăn cản được bước tiến của quân Pháp mặc dù đã đánh nhiều trận gây tổn thất cho quân Pháp. Trung đội của ông bị bao vây và mất liên lạc với cấp trên. Trước tình hình đó, đơn vị tổ chức đơn vị lúc tập trung, lúc phân tán áp dụng phương thức chiến tranh du kích đón đánh các đơn vị lính Pháp cùng các toán tuần tra nhỏ lẻ những tốp cảnh giới và những chòi gác…đồng thời từng bước phát triển lực lượng. Cho đến tháng 5 đơn vị của ông mới tìm được đường về Trung đoàn. Nhân dịp này, ông nhận quyết định từ Trung đôi phó lên Đại đội phó quyền Đại đội trưởng Đại đội 230, Tiểu đoàn 90 trực thuộc Trung đoàn 148 vừa được thành lập theo quyết định của Bộ Tổng tham mưu.

Tháng 4 năm 1947, quân Pháp tăng viện thêm và mở cuộc hành quân lớn lên Tây Bắc, đại bộ phận Trung đoàn 148 phải rút về Tây Nam Phú Thọ. Khi đó, ông được điều về Đại đội 250, Tiểu đoàn 86 đang đóng ở Bột Sộp, biên giới Lào, đơn vị của ông tiếp tục bị mất liên lạc với Trung đoàn và sống trong vòng vây của quân Pháp.

Vị trí đóng quân của đơn vị ông khi đó thuộc Chiến khu 2 do ông Hoàng Sâm là tư lệnh, ông Lê Hiến Mai là Chính ủy. Hai ông đã động viên ông ở lại đây, nhiệm vụ Tây Tiến được lùi lại. Đại đội ông được giao nhiệm vụ chặn quân Pháp yểm trợ cho bộ phận tiền phương của Chiến khu 2 chuyển về Xuân Nha, Hòa Bình. Trong thời gian chiến đấu ở Chiến khu 2, đơn vị ông đã phát triển đến cấp tiểu đoàn.

Tháng 10/1947, mặt trận Mộc Châu tạm lắng, ông đưa đại đội của mình trở lại đội hình Trung đoàn Sơn La khi đó đang đóng quân tại Phú Thọ. Sau đó, đơn vị của ông được lệnh trở lại hoạt động ở vùng địch hậu Mộc Châu, khu di tích Mộc Hạ.

Đầu năm 1948, ông bị thương lần thứ ba. Vì lí do sức khỏe, ông được điều về làm phái viên quân sự của Trung đoàn 148 làm nhiệm vụ kiểm tra, giúp đỡ các đại đôi địa phương đang hoạt động ở tây nam Phú Thọ giáp với vùng địch chiếm Mộc Châu. Tuy nhiên, ông không làm đúng nhiệm vụ được giao mà tổ chức phối hợp các đại đội hợp đồng chiến đấu với suy nghĩ phải có chiến thắng lớn mới xây dựng được phong trào của địa phương. Sau đợt này ông được nhận nhiệm vụ Tiểu đoàn phó.

Cuối năm 1949 đấu 1950, tiểu đoàn 130 của ông khi đó trực thuộc liên khu 10 được điều về đứng chân trong đội hình Trung đoàn Sông Lô (E209). Từ Phú Thọ, đơn vị của ông được lệnh hành quân tham gia chiến dịch Biên Giới (chiến dịch Lê Hồng Phong 2). Trong chiến dịch này Trung đoàn 209 và 174 (chủ lực của Liên khu Việt Bắc) được giao nhiệm vụ diệt cứ điểm Đông Khê. Tiểu đoàn 130 do ông làm Tiểu đoàn trưởng được lệnh đánh chiếm Phủ Thiên-khu hành chính của huyện lị Đông Khê. Vì là chiến dịch quan trọng mang tính chiến lược, chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp đi chiến dịch. Ông được vinh dự cử đi báo cáo tình hình với Bác. Đây là lần thứ hai ông được gặp Bác, lần đầu tiên khi đó ông còn là một chiến sĩ tự vệ chiến đấu đứng dưới bảo vệ lễ đài nơi Bác đọc tuyên ngôn độc lập.Mở màn chiến dịch, mặc dù Trung đoàn 174 hoàn thành không tốt nhiệm vụ để cho quân Pháp phản kích uy hiếp đơn vị ông từ hướng Bắc và đây là lần đầu tiên đơn vị ông đánh một cứ điểm kiên cố, tuy nhiên đơn vị ông vẫn làm chủ được căn cứ Phủ Thiên uy hiếp Đông Khê từ phía Tây Nam. 17h ngày 17/9, đơn vị ông nổ súng tiêu diệt cứ điểm kiên cố còn lại của cụm cứ điểm Đông Khê. Trong trận này, Đại đội trưởng Trần Cừ (đại đội 866) chủ công của tiểu đoàn ông đã dũng cảm lấy thân mình lấp lỗ châu mai, góp phần cho tiểu đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được trên giao và kì vọng của chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hạ tuần tháng 12 năm 1953, Trung đoàn Sông Lô do ông là Trung đoàn trưởng trong đội hình Sư đoàn 312 được lệnh từ Yên Bái tham gia chiến dịch Tây Bắc, chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Đợt một chiến dịch, ngày 13 tháng 3 Trung đoàn của ông cùng với Trung đoàn 142 sau hơn 6 tiếng tiến công liên tục đã san bằng cụm cứ điểm Him Lam là trung tâm phòng thủ kiên cố bậc nhất của Pháp ở Điện Biên Phủ. Trận đánh thắng lợi khiến cho Đại tá Pi-rốt chỉ huy pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ phải dùng lựu đạn tự tử. Đợt 2 chiến dịch, đơn vị ông hoành thành nhiệm vụ tiêu diệt các cụm đồi D1, D2, D3 không cho quân Pháp chiếm lại.

Cuối tháng 4, đơn vị của ông được lệnh đánh chiếm khu bàn đạp mở đầu cho đợt tiến công thứ ba của chiến dịch. Rạng sáng ngày 7/5, mặc dù đêm hôm trước đơn vị ông tiến đánh điểm cao 507 không thành công, ông gọi điện xin Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312-Lê Trọng Tấn xin đánh tiếp. Vì vấn đề này rất quan trọng ảnh hưởng đến kết quả của toàn chiến dịch cho nên ông Lê Trọng Tấn bảo ông gọi điện trực tiếp hỏi Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, thì được lệnh là chờ giờ tổng công kích. Nhận thấy là thời cơ của hướng ông đã đến, ông tiếp tục gọi lên Sở chỉ huy Đại đoàn xin được nổ súng đánh. Cuối cùng trước quyết tâm của ông, cấp trên cũng đồng ý cho đơn vị ông nổ súng. Điểm cao 507 bị hạ, đơn vị ông tiếp tục tiến đánh các điểm cao 508, 509 và Đại đội của ông Tạ Quốc Luật nhanh chóng vượt cầu phao chặn địch không cho rút qua và tiếp viện từ Mường Thanh đánh ra. Và 17h ngày 7/5 đơn vị ông do Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật đứng đầu đã tiến vào hầm Đờ Cát bắt sống tướng Pháp.

huy thanh
29-06-2009, 08:47 PM
Tháng 9 năm 1954, Đại đoàn của ông được lệnh hành quân từ Phú Thọ về tiếp quản khu vực Bắc Ninh-Bắc Giang. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng và bắt tay vào kế hoạch năm năm lần thứ nhất. Cuối năm 1954, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn thay cho các ông Lê Trọng Tấn và Trần Độ đi nhận nhiệm vụ khác. Đầu năm 1955, Đại đoàn 312 được củng cố và tổ chức lại thành Sư đoàn 312 ông được cử làm Sư đoàn trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Sư đoàn. Trên cương vị Sư đoàn trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy sư đoàn, ông đã chỉ huy sư đoàn tham gia vào việc khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng và phát triển miền Bắc. Các chiến sĩ thuộc sư đoàn đã tham gia khôi phục tuyến đường sắt Hà Nội-Đồng Đăng, công trình thủy nông Bắc Hưng Hải. Hàng nghìn chiến sĩ thuộc sư đoàn ông đã chuyển ngành tham gia xây dựng các khu gang thép Thái Nguyên, nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, sứ Hải Dương, khu công nghiệp Việt Trì, mỏ A-pa-tít Lào Cai cho đến các nông trường Mộc Châu, Sơn La, Điện Biên Phủ…rồi sân bay Nội Bài.

Từ năm 1960 đến 1961, ông được cử đi học một lớp quân sự cao cấp ở nước ngoài.

Năm 1963, ông được cấp trên đưa vào danh sách vào Nam chiến đấu nhưng vì đau dạ dày cho nên ông phải ở lại miền Bắc. Từ đó ông kiên trì chuẩn bị về mọi mặt : nghe đài đọc báo về tình hình miền Nam để phân tích tình hình, đúc kết kinh nghiệm cho bản thân, đồng thời rèn luyện thể lực chuẩn bị vào Nam. Cùng năm này sư đoàn ông tổ chức đưa một tiểu đoàn mạnh vào chiến đấu tại chiến trường Trị Thiên bờ Nam sông Bến Hải, tiếp đó đầu năm 1964, một tiểu đoàn khác của sư đoàn vào chiến đấu ở chiến trường khu 5.

Trên chiến trường Nam Bộ

Tháng 1 năm 1965, theo lệnh của Thường trực Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh mà trực tiếp là từ Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh (khi đó là Thứ tưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Thống nhất Trung ương) và do đích thân Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ trong Nam yêu cầu, ông lên đường vào Nam chiến đấu cùng với ông Trần Độ (sau này là Trung tướng, Phó Chủ tịch Quốc hội).

Từ sân bay Gia Lâm, đoàn của ông đi máy bay qua Quảng Châu, Trung Quốc.Sau đó, trên chiếc tàu buôn Trung Quốc mà hành trình đi qua Hoàng Sa và Trường Sa đoàn của ông sang Cam-pu-chia. Rồi từ Cam-pu-chia đoàn của ông mới tiến vào Đông Nam Bộ, nơi đóng quân của Trung ương cục miền Nam.

Nhiệm vụ đầu tiên của ông trên chiến trường Đông Nam Bộ là Tư lệnh phó Bộ chỉ huy Chiến dịch Phước Long-Đồng Xoài do tướng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh và ông Trần Độ làm Chính ủy (toàn bộ Chỉ huy của Đại đoàn 312). Đây là thời điểm chuyển giao giữa hai chiến lược chiến tranh Đặc biệt và Cục bộ của Đế quốc Mỹ.

Ngày 2/9/1965, Sư đoàn 9, Sư đoàn chủ lực đầu tiên của Đông Nam Bộ, được thành lập ông được cử làm Sư đoàn trưởng (đầu tiên) và ông Lê Văn Tưởng là Chính ủy. Đây là Sư đoàn đối trọng với các Sư đoàn chủ lực, thiện chiến của Mỹ tại vùng đất miền Đông : sư đoàn số 1 ‘’Anh cả đỏ’’, sư đoàn 25 ‘’Tia chớp nhiệt đới’’ được ra đời nhằm tạo ra quả đấm mạnh đáp ứng nhu cầu đánh lớn, đánh tập trung, tiêu diệt nhiều sinh lực địch.

Ngay sau khi thành lập, Sư đoàn 9 dưới sự chỉ huy của ông tham gia vào chiến dịch Bàu Bàng-Dầu Tiếng (tháng 12 năm 1965). Đây là chiến dịch được tổ chức quy mô lớn đầu tiên ở Đông Nam Bộ, cấp sư đoàn. Đánh dấu bước chuyển mình của phương thức chiến tranh từ đánh nhỏ, đánh du kích tiêu hao sinh lực địch thành đánh lớn, đánh mạnh, đánh quị các đơn vị lính Việt Nam Cộng hòa và sẵn sàng đương đầu với quân Mỹ đang ào ạt đổ vào miền Nam trong thời kì đầu của chiến tranh cục bộ. Mặt khác Dầu Tiếng lại là một vị trí quan trọng cho nên khả năng quân Mỹ đem quân cứu viện khi nơi đây bị đánh là rất lớn. Do đó, bộ chỉ huy Sư đoàn 9 phải chuẩn bị cả hai phương án ‘’đánh Ngụy, đánh Mỹ’’.

Ngay trong trận đầu của chiến dịch, tại Bàu Bàng, Sư đoàn của ông đã loại ra khỏi vòng chiến 2 tiểu đoàn, 2 chi đoàn thiết xa vận của Mỹ ra khỏi vòng chiến. Phá hủy 39 xe các loại (chủ yếu là tăng và thiết giáp) và tám khẩu pháo. Như vậy, ngay từ ‘’keo đầu’’ sư đoàn của ông đã đánh bại những đơn vị thiện chiến của Mỹ trên đất Đông Nam Bộ. Trong trận này do phán đoán chính xác ý đồ của Mỹ là tập trung quân vào Dầu Tiếng nhằm tiêu diệt chủ lực của ta, ông đã đề nghị với Bộ tư lệnh sư đoàn tập trung lực lượng đánh tốt trận phủ đầu tại Bàu Bàng. Chiến thắng này đã làm đảo lộn các kế hoạch của Mỹ và tạo tiền đề cho các chiến thắng sau của chiến dịch.

Trong khi trận Bàu Bàng vẫn còn đang tiếp diễn thì sư đoàn của ông đã cho trung đoàn 1 từ Đất Cuốc hành quân về gấp lót ổ ở làng 14; đưa trung đoàn 2 về phục sẵn ở Căm Se vì địch có thể lợi dụng con đường này hành quân bằng cơ giới vào Dầu Tiếng; trung đoàn 3 về đứng chân ở khu vực làng 10 làm lực lượng dự bị. Sư đoàn 312 đã đón lõng tất cả các con đường dẫn về Dầu Tiếng. Ngày 21 tháng 11, một đoàn xe hơn 300 lính Mỹ hành quân trên đường Căm Se - Dầu Tiếng đã bị trung đoàn 2 phục sẵn tiến công, chia cắt chúng thành từng khúc, phá huỷ hơn 20 xe, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên Mỹ. Trên đà chủ động, các đơn vị trong sư đoàn đã liên tiếp đập tan các cuộc tiến quân của các đơn vị của quân đội Sài Gòn và Mỹ vào Dầu Tiếng nhằm đè bẹp chủ lực của ta hoành thành xuất sắc nhiệm vụ đề ra của chiến dịch.

Ngay sau khi chiến dịch kết thúc, ông thay mặt Bộ Tư lệnh Sư đoàn xin với Bộ Tư lệnh miền xin được thay đổi địa bàn hoạt động của Sư đoàn sang bên Đông đường 13. Bộ Tư lệnh miền đồng ý và giao cho Sư đoàn của ông trước hết tập chuyển về khu vực suối Nhung, củng cố lực lượng sẵn sàng đánh địch trên khu vực đường 13, 16 nếu chúng đánh nống ra khu vực này.

Trên cơ sở quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương 11, 12, Nghị quyết Bộ Chính trị, Nghị quyết Quân uỷ Trung ương và kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu, được Trung ương Cục, Quân uỷ Miền phê chuẩn, Bộ chỉ huy Miền thông qua kế hoạch hoạt động quân sự đợt II cho toàn chiến trường B2, trọng tâm là chiến trường Đông Nam Bộ, nhằm phát huy thế chủ động, tiếp tục tấn công các cuộc phản công của quân Mỹ trong âm mưu "bẻ gãy xương sống Việt cộng" của tướng Oét-mo-len trong mùa khô này. Sư đoàn của ông đảm nhiệm các tỉnh Tây Ninh, Bình Long, Bình Dương, Chiến khu Đ ; cùng đó Sư đoàn 5 đảm nhiệm các tỉnh Long Khánh, Biên Hòa, Bà Rịa. Dồn chủ lực về hướng này vì ở đây có khả năng đánh lớn khi quân Mỹ mở các cuộc hành quân "tìm diệt" chủ lực ta, đánh phá các căn cứ trong đó có các mục tiêu chủ yếu là Chiến khu Đ, và mở rộng vùng kiểm soát trên hai trục đường 13 và 15, uy hiếp hành lang Phước Long - nơi đoạn cuối của đường mòn Hồ Chí Minh đã được nối thông, đang phát huy tác dụng; ở đó chúng ta đã tiếp nhận hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, hàng nghìn tấn vũ khí đạn dược từ miền Bắc chi viện cho chiến trường Đông Nam Bộ. Thực hiện chỉ thị của Bộ Tư lệnh miền, Sư đoàn 9 liên tục đập tan các cuộc hành quân của Mỹ nhằm ‘’tìm diệt’’ chủ lực miền Đông Nam Bộ.

Giữa tháng 2 năm 1966, quân Mỹ mở cuộc hành quân ‘’đá lăn’’ gốm 13 tiểu đoàn nhằm mở rộng kiểm soát đường 7, chia cắt chiến khu Đ, "bình định" khu vực Bông Trang - Nhà Đỏ, Bình Mỹ, giải toả áp lực của ta ở bắc Sài Gòn. Trong chiến dịch này, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 9 đã sử dụng lối đánh điều địch ra ngoài tổ chức phục kích đánh làm thất bại chiến thuật trú quân ‘’vành đai thép’’ bằng trận then chốt vào Nhà Đỏ-Bông Trang.

Ngày 7-8-1966, Oét-mo-len tư lệnh quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam lại huy động lừ đoàn 2 thuộc sư đoàn 1 bộ binh, tiểu đoàn Úc ném vào cuộc hành quân "Thành phố bạc" tiếp tục âm mưu đánh phá chiến khu Đ. Sư đoàn 9 cơ động đánh địch vòng ngoài như được phân công. Nhằm tiêu diệt được nhiều địch, đồng thơi gây rung động đến cuộc hành quân, Bộ chỉ huy Sư đoàn quyết định tập kích quân địch ở sở cao su Phú Lương, ở dốc Bà Thức trên đường 16, và ở khu vực Bầu Sắn nơi địch cụm lại ngày 16 tháng 3. Các trận tập kích vào những vị trí trọng điểm ở vòng ngoài, đã đánh thiệt hại một tiểu đoàn Mỹ, một tiểu đoàn quân Úc, bắn rơi năm máy bay lên thắng; đồng thời hỗ trợ lực lượng vũ trang địa phương đánh địch từ vòng trong đánh ra, đạt hiệu quả như tại căn cứ quân y, các lực lượng bảo vệ khu loại khỏi vòng chiến đấu 60 tên Mỹ.

Mở đầu cho đợt hoạt động mùa mưa 1966, sư đoàn của ông nhận nhiệm vụ tiêu diệt chi khu Phước Vĩnh, đây là một căn cứ dã ngoại được xây dựng kiên cố nhằm uy hiếp chiến khu Đ và bảo vệ sườn đông đường 13 của Mỹ ngụy. Tuy nhiên địch phát hiện ra lực lượng của Sư đoàn 9 đứng chân ở khu vực Lộc Ninh cho nên đã đưa một lữ đoàn thuộc Sư anh cả đỏ với công sự làm sẵn để lập tuyến phòng thủ Lộc Ninh, đồng thời huy động máy bay bắn phá những khu vực nghi có lực lượng của sư đoàn trú quân. Trức tình hình này, Bộ chỉ huy Sư đoàn quyết định thay đổi phương án tác chiến, chuyển sang đánh giao thông trên trục đường số 13. Trái với các chiến dịch Bàu Bàng-Dầu Tiếng, Nhà Đỏ-Bông Trang sử dụng lực lượng tập trung sư đoàn nhằm tạo ưu thế về lực lượng dứt điểm nhanh, trong đợt hoạt động này Sư đoàn sử dụng lực lượng cấp Trung đoàn xác định đánh định trên nhiều hướng, nhiều mục tiêu…Nhằm kéo quân Mỹ phải lên cứu viện cho Lộc Ninh qua các vị trí mà ta đã bố trí lực lượng trước. Trong chiến dịch này, Bộ chỉ huy sư đoàn liên tục chuyển từ tư thế chủ động (đánhh Phước Vĩnh, Lộc Ninh) sang bị động (bị Mỹ phát hiện ra lực lượng, hướng tiến công) rồi lại chủ động (chủ động chọn cách đánh giao thông nhằm ‘’điều địch ra khỏi công sự và lên chi viện’’ để đánh địch), đánh vào chỗ mạnh của quân Mỹ trái với nguyên lí thông thường là đánh vào chỗ yếu.

Kết thúc đợt hoạt động mùa mưa 1966, sư đoàn ông được lệnh chuyển đội hình sang phía Tây Sài Gòn, nhằm củng cố lực lượng chuẩn bị cho đợt hoạt động mùa khô lần thứ hai. Thời gian này quân Mỹ và chư hầu đang chuẩn bị cho cuộc phản công mùa khô lần hai đánh vào đầu não của Quân giải phóng miền Nam, tìm diệt Sư đoàn 9. Chính thời điểm này, ông được Trung ương cục, Quân ủy miền giao giữ chức Phó Tham mưu trưởng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, thể theo nguyện vọng của ông, Trung ương cục quyết định cho ông hoãn chức vụ Phó tham mưu để về Sư đoàn tham gia bảo vệ Trung ương cục trước âm mưu phản công mùa khô lần 2 của Mỹ, tập trung chủ yếu vào chiến khu Dương Minh Châu. Dưới sự chỉ huy của ông, Sư đoàn 9 góp phần vào việc đánh bại các cuộc hành quân mùa khô lần 2 của Mỹ : Át-tăng-bo-rơ đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu, Xê-va-tô-phôn đánh vào Chiến khu C kéo dài từ ngày 8/1 đến 26/1 nhằm đánh vào đầu não của Sài Gòn-Gia Định, đẩy chủ lực của ta ra xa rồi chuẩn bị bàn đạp đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu ; tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến 600 lính Mỹ tại trận Bàu Gòn…

Rút kinh nghiệm của thất bại cuộc phản công mùa khô lần 1, Mỹ không tổ chức phản công trên một diện rộng cũng như tiến công trên nhiều hướng nữa mà tập trung chủ yếu vào chiến khu Dương Minh Châu trong đợt phản công mùa khô lần 2. Cuộc hành quân mang tên Gian-xơ Xi-ty, để phục vụ cho cuộc hành quân này, Mỹ đã huy động tới 45000 quân chưa kể các đơn vị quân đội Sài Gòn. Trong chiến dịch này Sư đoàn 9 đóng vai trò chủ lực trong việc bẻ gãy cuộc hành quân của Mỹ.

Tháng 7 năm 1969, ông được Quân ủy và Bộ chỉ huy miền cử ra Hà Nội báo cáo hoạt động quân sự của B2 (Đông Nam Bộ) trong hai năm 1967/1968, đồng thời ông nhận quyết định ở lại làm phái viên của Quân ủy Trung ương và được Quân ủy giao cho cùng tổ công tác của Cục tác chiến Bộ tổng tham mưu xây dựng kế hoạch tiến công làm thất bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 cuả Mỹ vào đường 9 Nam Lào ; tham gia xây dựng nội dung tập huấn cán bộ phục vụ yêu cầu chiến đấu mới ; cùng Phó Tổng tham mưu trưởng Vương Thừa Vũ lên Xuân Mai, Sơn Tây tổ chức diễn tập thực binh sư đoàn chiến đấu tiến công hiệp đồng binh chủng tiêu diệt cụm quân Mỹ, chiến đoàn ngụy.

Đầu năm 1971, trước yêu cầu của tình hình mới và đặc biệt cho các đợt hoạt động của bộ đội ta trong năm 1972, ông nhận chỉ thị trực tiếp từ Tổng bí thư Lê Duẩn và Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp vượt Trường Sơn vào lại chiến trường B2.

huy thanh
29-06-2009, 08:50 PM
Bước vào đợt hoạt động 1972, ông được cử làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân giải phóng miền Nam tham gia Quân ủy miền thay ông Lê Đức Anh về nhận nhiệm vụ Tư lệnh Quân khu 9. Cùng với Quân ủy và Bộ chỉ huy miền, ông tham gia vào việc hoạch định kế hoạch làm thất bại các cuộc hành quân ‘’Chen-la 2’’ của ngụy Lon-non, ‘’Đại bàng 24’’ của ngụy Sài Gòn, đẩy lùi cuộc hành quân quy mô lớn của địch mang tên ‘’Toàn thắng 72B’’ tại biên giới giáp Tây Ninh. Đặc biệt là trong chiến dịch Nguyễn Huệ, ông được giao Bộ tư lệnh miền giao cho cùng với Bộ chỉ huy chiến dịch tham gia chuẩn bị phương án tác chiến khu vực Lộc Ninh.

Cuối tháng 10 năm 1973, ông được điều lên mặt trận Bù Bông Kiến Đức. Yếu khu Bù Bông giáp biên giới Cam-pu-chia là vùng nằm ngoài hiệp định Paris, ngoài việc dùng bộ binh tiến công đột kích vào hành lang vận tải của quân giải phóng, nguỵ còn cho pháo sang tận O-răng thuộc đất Cam-pu-chia bắn pháo khống chế suốt ngày tuyến đường vận tải ảnh hưởng đến kế hoạch mở rộng và khai thông hành lang này của ta. Chính vị vậy ông được điều lên chỉ đạo nhằm dùng lực lượng thích hợp tiến công địch, mở rộng vùng giải phóng ở trên đó, tạo hành lang an toàn cho việc vận chuyển hậu cần từ Bắc và Nam.

Ngày 20/7 năm 1974, quân đoàn 4 được thành lập trên cơ sở các đơn vị của miền Đông Nam Bộ được thành lập (ví dụ : sư đoàn 7, sư đoàn 9, sư đoàn 5…) tiếp theo sự ra đời của các quân đoàn khác là sự chuẩn bị cho giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh. Ông được cử làm Quân đoàn trưởng (đầu tiên) và ông Hoàng Thế Thiện (sau này là Thiếu tướng, Thứ trưởng Bộ quốc phòng) làm Chính ủy. Trong đợt hoạt động mùa khô 1974-1975, quân đoàn 4 của ông đã hoành thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt Bù Đăng, đập tan Đồng Xoài và đặc biệt là giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long (6/1/1975) là một tỉnh nằm gần Sài Gòn. Chiến thắng Phước Long được coi là một trận trinh sát chiến lược nhằm kiểm tra khả năng quay trở lại của quân Mỹ và lực lượng của ngụy quyền Sài Gòn đồng thời là cơ sơ để Trung ương hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975-1976.


Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, sau khi mất Tây Nguyên, Huế và Đà Nẵng thất thủ, các tuyến phòng thủ Phan Rang và Phan Thiết liên tiếp bị đập tan, được sự chỉ đạo của tướng Mỹ Uây-en, quân ngụy cho lập tuyến phòng thủ tầm gần ‘’cánh cửa thép’’ Xuân Lộc. Quân đoàn 4 của ông đảm trách việc chọc thủng phòng tuyến Xuân Lộc, mở đường cho các cách quân phía Bắc tiến vào Sài Gòn.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân đoàn của ông nhận nhiệm vụ đánh chiếm Trảng Bom, Biên Hòa rồi tiến vào Sài Gòn theo trục đường số 1. Trước tình hình là các đơn vị của quân đoàn 4 còn cách vùng ven từ 15 đến 20 cây số trong khi địch tập trung quân trên đường tiến quân, địa hình lại không thuận lợi, ông đề nghị với Trung tướng Lê Trọng Tấn, chỉ huy cánh quân duyên hải, cho quân đoàn của ông nổ súng trước ngày 27/4. Được chấp nhận, quân đoàn ông cùng với quân đoàn 2 nổ súng tiến vào Sài Gòn vào ngày 26/4 sớm hơn một ngày so với dự định.

Sài Gòn giải phóng, ông được cử làm Phó Chủ tịch Ủy ban quân quản. Chiến tranh Biên giới Tây Nam nổ ra ông chỉ huy Quân đoàn 4 tham gia bảo vệ biên giới Tây Nam rồi tiến vào giải phóng thủ đô Cam-pu-chia. Trước khi về hưu, ông giữ chức vụ Tổng thanh tra quân đội từ năm 1987 đến năm 1992.

huy thanh
29-06-2009, 08:52 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Phan-Khac-Hy.jpg

Thiếu tướng Phan Khắc Hy (01/01/1927), nguyên: Phó Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Phó Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Quảng Bình.

Ông là Đại biểu Quốc hội khóa 8 (1987-1992).

Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng nhì, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Chiến thắng hạng nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang (hạng nhất, nhì, ba), Huân chương Quân kỳ Quyết thắng.

Ông được phong Quân hàm Thiếu tướng (1/1980).

Thiếu tướng Phan Khắc Hy (bí danh Thành Công), sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Hoàn Lão, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Cha ông là một nhà Nho nghèo ở Đức Thọ, Hà Tĩnh. Ông từng đi thi tam trường, nhưng vì Nho học thất thế, ông chuyển sang học quốc ngữ rồi vào Quảng Bình vừa học vừa làm thầy thuốc Đông y và gặp mẹ ông. Ông đựoc sinh ra tại quê ngoại. Mẹ ông mua bán tràu cau ở chợ, một tay bà nuôi sáu anh em ông ăn học, tham gia cách mạng. Sau khi mẹ ông mất, cha ông vào Quảng Ngãi vừa dạy học vừa làm thuốc. Sau cách mạng tháng Tám, cha ông còn làm Chủ nhiệm Việt Minh xã.

Lúc còn nhỏ Phan Khắc Hy học ở trường làng Bố Trạch, lấy bằng yếu lược. Sợ ở trên thị trấn lêu lổng chơi bời, cha ông đưa anh em ông về quê nội Đức Thọ, Hà Tinh là vùng đất hiếu học. Học hết tiểu học, ông ra Vinh học Trung học. Ngoài chương trình ở nhà trường ông cùng các bạn lập thư viện đủ loại sách văn học, triết học, chính trị...Ông đọc rất nhiều về Khổng Tử, Lao Tử, Các Mác, chép sổ tay thơ Tố Hưu, xuâ Diệu, cùng nhiều nhà thơ khác. Năm 1943, ông với người bạn thân là Quách xuân Kỳ trốn học, dự định xuất dương làm cách mạng nhưng không thành.

Ông tham gia cách mạng từ tháng 4 năm 1945 khi vừa mới 18 tuổi, là cán bộ Việt Minh bí mật, tham gia Uỷ ban Khởi nghĩa huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Tháng 8 năm 1945, ông là Uỷ viên Việt Minh, tham gia Ban Chấp hành thanh niên Cứu quốc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Tháng 1 năm 1946, ông là Uỷ viên, Trưởng ban phụ trách trại kinh tế vừa tăng gia sản xuất vừa xây dựng căn cứ Ba Lùm, Ba Lòi, tham gia huấn luyện viên dân quân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình cùng với các ông Quách Xuân Quỳ (liệt sĩ), Mai Trọng Nghiêm.

Tháng 3 năm 1947, ông là Trưởng ban liên lạc chuẩn bị kháng chiến. Vốn nhiệt tình, hăng hái và dũng cảm, tháng 6 năm 1947, từ một cán bộ Việt Minh hoạt động bí mật ông được điều về làm Chính trị viên, Huyện đội trưởng, Bí thư huyện uỷ huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Cuối năm 1948, phong trào thị xa Đồng Hới gặp khó khăn, Tỉnh ủy Quảng Bình điều ông Quách xuân Kỳ vào làm Bí thư Thị ủy, ông lên thay làm bí thư huyện ủy Bố Trạch.

Tháng 6 năm 1949, ông được điều lên Tỉnh ủy Quảng Bình. Tháng 12 năm 1949, ông là Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Bình thay ông Đồng Si Nguyên. Từ năm 1950 đến tháng 3 năm 1952, ông là Tỉnh đội trưởng tỉnh đội Quảng Bình, Phó Bí thư tỉnh uỷ Quảng Bình.

Cuối năm 1950, ông được điều vào mặt trận Bình Trị Thiên làm phái viên mặt trận. Từ tháng 4 năm 1952 đến năm 1954, ông là Chính uỷ Trung đoàn 18 Đại đoàn 325 hoạt động trên Mặt trận Bình Trị Thiên rồi Mặt trận Đường 9 và Trung Lào, phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ trong chiến cuộc Đông xuân 53-54.


Do đề nghị của tướng Trần Quý Hai, sau hiệp định Giơ-ne-vơ, thực hiện nghị quyết của Trung ương thứ 12 khóa II, ta phải xây dựng quân đội chính quy, từng bước hiện đại hóa, trong đó có xây dựng 2 quân chủng mới là Không quân và Hải quân. Ban Nghiên cứu sân bay tiền thân của Cục Không quân được thành lập. Từ tháng 3 năm 1955 đến tháng 12 năm 1958, ông là Chủ nhiệm chính trị, Phó Bí thư Đảng uỷ Ban Nghiên cứu sân bay (tiền thân Quân chủng Không quân), sau là Cục Không quân, sau học bổ túc tại Trường Trung cao Quân sự. Ban do tướng Trần Quý Hai là trưởng ban và tướng Hoàng Thế Thiện là Chính ủy đầu tiên. Ban nghiên cứu sân bay là tiền thân của Không quân Nhân dân Việt Nam được thành lập ngày 3 tháng 3 năm 1955 theo quyết định số 15/QĐA của Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Từ tháng 10 năm 1963 đến năm 1965, Quân ủy Trung ương quyết định hợp nhất Phòng không Không quân, ông là Phó Chủ nhiệm, Chủ nhiệm chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân do ông Phùng Thế Tài là Tư lệnh, ông Đặng Tính Chính ủy và ông Lê Văn Tri là Phó Tư lệnh, sau đó ông được cử đi học lớp lý luận tại Liên Xô.

Từ năm 1965 đến tháng 2 năm 1967, không quân phát triển, Bộ Tư lệnh Không quân đựoc thành lập, ông là Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Không quân, Đảng uỷ viên Quân chủng Phòng không - Không quân. KHi đó ông Nguyên Văn Tiên là Tư lệnh, ông Hoàng Ngọc Diêu và Đào Đình Luyện phó Tư lệnh, ông Đô Long phó Chính ủy. Ông đặc trách công tác chính trị và tổ chức của Không quân, tuyển chọn người đi học lái, xây dựng đội ngu cán bộ.

Từ tháng 3 năm 1967 đến tháng 5 năm 1968, ông là Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Không quân, Đảng uỷ viên Quân chủng Phòng không - Không quân.

Từ tháng 6 năm 1968 đến tháng 9 năm 1968, ông là Phó Chủ nhiệm chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân.

Từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 3 năm 1969, ông là Phó Chủ nhiệm chính trị, Phó chính uỷ Bộ Tư lệnh 500 là Bộ Tư lệnh tiền phương Tổng cục Hậu cần (sau này Bộ Tư lệnh 500 sát nhập với Bộ Tư lệnh đoàn 559 Bộ đội Trường Sơn). Bộ Tư lệnh 500 phụ trách 5 đoạn vượt khẩu ở các đường số 8, 10,12, 18, 20 gồm trên 800km đường chính và gần 400km đường vòng tránh. Lực lượng cầu đường thuộc Bộ Tư lệnh có 12 tiểu đoàn và 6 đại đội công binh, 12 đội thanh niên xung phong, một số đội cầu đường của Bộ Giao thông vận tải và được tăng cường 3 trung đoàn (7, 219, 83) và Đội phá bom 93 thuộc Bộ Tư lệnh Công binh. Lực lượng công binh thuộc Bộ Tư lệnh 500 lên tới trên 9.200 người, thanh niên xung phong có gần 7.500 người, trong đó có 70% là nữ.Trong thời gian này lực lượng công binh thuộc Đoàn 559 có 13.000 người, chiếm 31% quân số toàn tuyến, gồm 4 trung đoàn cầu đường (98, 4, 10, 251), 1 tiểu đoàn vượt sông và 15 tiểu đoàn bảo đảm giao thông thuộc các binh trạm.

Từ tháng 4 năm 1969 đến tháng 4 năm 1971, ông là Phó Chủ nhiệm chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân, được bổ túc tại Trường Trung cao Chính trị.

Do yêu cầu của chiến trường, tháng 5 năm 1971, tôi được điều vào làm Chính ủy Đoàn 470-phụ trách cung đường từ Nam Lào, Đông Bắc Cam-pu-chia đến Nam Bộ, với nhiệm vụ vận tải chi viện cho chiến trường miền Nam. Vào đến Bộ Tư lệnh 559, ông gặp lại ông Đồng Si Nguyên và được giư lại làm Phó Tư lệnh và chuyển từ làm công tác chính trị sang công tác quân sự. Từ tháng 5 năm 1971 đến tháng 5 năm 1976, ông là Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn kiêm phụ trách Tổng cục Hậu cần Tiền phương (12/1972 - 1/1973).

Tổng tiến công và nổi dậy 1975, trong Chiến dịch Tây Nguyên ông được Bộ tư lệnh 559 phân công đi cùng Đại tướng Văn Tiến Dung vào sở chỉ huy tiền phương của bộ. Ngày 15 tháng 4 năm 1975, ông được Tư lệnh Đồng Si Nguyên giao cho nhiệm vụ nắm chắc lực lượng phía trứoc của Sư đoàn 470, 471 và lực lượng phòng không để bảo đảm các yêu cầu của mặt trận và thường xuyên báo cáo diên biến tình hình ở mặt trận về Bộ tư lệnh 559 đồng thời ông được tướng Văn Tiến Dung điện gấp vào Bộ Chỉ huy chiến dịch giúp việc cho tướng Đinh Đức Thiện-chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh bảo đảm vận chuyển hậu cần và cơ động bộ đội cho mặt trận. Ông trực tiếp kiểm tra đôn đốc khắc phục cầu Nha Bích, tổ chức đón tiếp đoàn xe Quân khu V chi viện cho mặt trận do Thiếu tướng Vo Thứ - Thiếu tướng phó Tư lệnh Quân khu trực tiếp chỉ huy.

Từ tháng 6 năm 1976 đến tháng 6 năm 1979, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Xây dựng Kinh tế.

Từ tháng 7 năm 1979 đến tháng 5 năm 1986, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, được cử đi học tại Trường Nguyễn Ái Quốc.

Từ tháng 6 năm 1986 đến tháng 3 năm 1987, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kinh tế.

Từ tháng 4 năm 1987 đến tháng 5 năm 1989, ông giữ cương vị Quyền Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế, Phó Bí thư Đảng uỷ Tổng cục.

Từ tháng 6 năm 1989 đến năm 1992, ông là Phó Chủ nhiệm thứ nhất Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế (nay là Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng).

Thiếu tướng Phan Khắc Hy được nhà nước cho nghỉ hưu năm 1993. Hiện nay ông là Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh.

Bài viết và ảnh: Theo Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 08:56 PM
http://img140.imageshack.us/img140/9642/daophuclocvl2.jpg

Tướng Hoàng Minh Đạo (4/8/1923-24/12/1969), Liệt sĩ, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (8/4/1998), nguyên là Trưởng phòng Tình báo (đầu tiên, nay là Tổng Cục Tình báo Bộ Quốc Phòng), Trưởng ban quân báo Nam Bộ, Phó Ban binh vận Trung ương cục Miền Nam, Uỷ viên thường vụ Khu uỷ Sài Gòn – Gia Định, Bí thư Khu 5 - Bí thư phân khu I Sài Gòn - Gia Định, Chính uỷ lực lượng Biệt động Sài Gòn. Ông được truy phong Quân hàm tướng.


Huân chương Hồ Chí Minh (truy tặng 1999)…


“Có nhiều thời gian công tác với đồng chí Đạo tại chiến khu miền Nam, Cămpuchia, khu ủy Sài Gòn – Gia Định, tôi thấy: đồng chí Hòang Minh Đạo còn có nhiều bí danh khác như Năm Thu, Năm Đời, Năm Sài Gòn – là một đồng chí trung kiên, luôn hòan thành tốt nhiệm vụ được Đảng phân công, tận tụy với Đảng cho tới ngày hi sinh” (Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh)

Trung tướng Hoàng Minh Đạo tên thật là Đào Phúc Lộc ngoài ra ông còn có các bí danh khác như Năm Thu, Năm Đời, Năm Sài Gòn. Ông sinh ra tại thôn Vườn Trầu, Trà Cổ, Móng Cái, Hải Ninh nay là thị xã Móng Cái tỉnh Quảng Ninh. Ông là con của ông Đào Ngọc Khanh (Đào Sĩ) và bà Vũ Thị Trình.


Dòng họ Đào ở Quảng Ninh nổi tiếng về truyền thống yêu nước mà cụ Phan Bội Châu đã từng tặng câu đối khen tặng, đại ý: “Lòng yêu nước thương dân của họ Đào như viên ngọc quý giữa đời thường...”.


Tuổi thơ của ông rất cơ cực và thiếu thốn về mặt tình cảm. Bố ông luôn xa nhà trong những chuyến làm ăn. Mẹ ông là một người đàn bà cam chịu. Sau khi mẹ ông mất (năm ông 6 tuổi), bố ông lấy vợ khác rồi ra khu mỏ than Hồng Gai làm cai. Do người vợ thứ hai của bố ông khó tính không ở được, bố ông để cho chị ông là bà Đào Thị Hải đem ông về Hải Phòng. Tại Hải Phòng, chị ông làm thợ may còn ông vừa đi học vừa làm phụ sửa chữa xe để đỡ đần chị. Chính tại đây hai chị em ông gặp được nhà cách mạng Tô Hiệu, đó là thời gian hai năm 1938-1939 khi mà nhà cách mạng Tô Hiệu từ Côn Đảo về bị bệnh lao phổi phải ở Hải Phòng dưỡng bệnh đồng thời chỉ đạo phong trào.


Thời kì mặt trận dân chủ (1936-1939), ông và chị bắt đầu tham gia cách mạng. Khi đó, ông tham gia trong phong trào thanh niên, học sinh yêu nước ở Hải Phòng. Năm 1939, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương khi mới 16 tuổi.


Do quê ở gần biên giới, cha làm việc ở vùng mỏ, ông và chị ông có điều kiện đi lại thuận tiện nên được Bí thư khu uỷ Tô Hiệu phân công ở bộ phận giao thông, lúc ấy thường gọi tắt là Z.T. của khu uỷ, giữ đường dây liên lạc của khu uỷ với vùng mỏ, đặc biệt lúc phong trào bị thực dân Pháp đàn áp ác liệt nhất. Hai chị em ông thuê một gian nhà nhỏ ở cuối ngõ Cô Ba Chìa phố Tám Gian. Ngõ sâu và hẹp lại tiếp giáp với cánh đồng lúa, rau rộng của Đông Khê, Lạc Viên. Nhà cách mạng Tô Hiệu đã xây dựng cơ sở bí mật này, chỉ có các đồng chí của ông trong Liên tỉnh uỷ khi thật cần mới liên hệ với Tô Hiệu ở đây. Hai chị em ông vừa lo bảo vệ cơ sở, chăm nuôi cán bộ lãnh đạo của Liên tỉnh uỷ, nhất là khi Bí thư Tô hiệu mắc bệnh lao nặng bị ho ra máu, sức khoẻ suy sụp.


Ông cùng chị gái thường lấy cớ về quê Trà Cổ ăn giỗ, ăn tết hay ra Hồng Gai thăm bố bằng đò dọc Thuỷ Nguyên hay tầu khách Giang Môn, Kim Môn nên đã chuyển được nhiều nghị quyết, chỉ thị tài liệu tuyên truyền cho khu mỏ và liên hệ với ông Bùi Đức Minh (tức Tư Béo), người được phân công tìm đường liên hệ với lãnh tụ Nguyễn ái Quốc và những nhà cách mạng ở hải ngoại.


Ngày 1/12/1939, cơ sở Đảng ở khu xi măng Thượng Lý bị vây khám, các ông Tô Hiệu, Bùi Đình Đổng, Ngô Minh Loan bị mật thám bắt đầy đi Sơn La. Ông Thành Ngọc Quản thay giữ nhiệm vụ bố trí lại đường dây liên lạc, Đào Phúc Lộc chưa từng bị lộ cho chuyển về Trà Cổ làm một đầu mối mới ở vùng mỏ, tạm giữ đường dây với ngoài cho đến khi có người ở Xứ uỷ ra thay. Khi ông Nguyễn Thanh Bình thuê được căn hộ trong khu nhà ánh Sáng để làm trụ sở bí mật của Thành uỷ Hải Phòng thì Đào Phúc Lộc được điều về làm Z.T. của Thành uỷ cùng hai anh em Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Văn Nghị.


Năm 1940, trong một chuyến công tác, ông bị bắt, bị kết án và bị dẫn giải qua nhiều nhà tù, song thực dân Pháp đã không khai thác được gì từ người thanh niên 17 tuổi này. Bất lực, thực dân đưa anh về quản thúc tại quê hương Móng Cái sau hai năm bị bắt giữ, đồng thời bị quản thúc tại quê hương 5 năm.


Đánh lạc hướng được mật thám thực dân phong kiến, ông trốn sang Trung Quốc bắt liên lạc với tổ chức tiếp tục hoạt động. Khi đó, ông Trường Chinh đã giao cho ông quay trở về quê hương xây dựng cơ sở ở vùng Móng Cái, lập đường dây bí mật theo đường Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh-Quảng Tây để đưa đón cán bộ đi về qua biên giới hoạt động. Trong thời gian này, ông vẫn bí mật hoạt động với vỏ bọc người phụ lái để đi lại hoạt động trên tuyến Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Yên - Móng Cái. Nguyên là bà Nguyễn Thị Kíu (chủ hiệu bánh Tùng Hiên) và người anh trai (một nhà tư sản yêu nước) có xe ô-tô chở hàng, chay trên tuyên đường này. Khi ông mới ra tù, bà Kíu đã tạo bình phong cho ông giả vai phụ lái. Kết quả là một chi bộ Đảng Cộng sản ở Móng Cái ra đời do ông làm bí thư, lấy bí danh là Minh Phụng là tên người con gái của một vị quan trong phủ Quảng Yên trốn gia đình tham gia Việt Minh một lần cứu ông khỏi sự truy đuổi của mật thám.


Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ông về Hà Nội. Khi Phòng Tình báo thuộc Bộ Tổng Tham mưu được thành lập (25/10/1945) ông nhận quyết định làm Trưởng phòng tình báo Quân ủy hội khi mới 22 tuổi, dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Quân ủy hội-Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp và Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái. Khi đó với tên mới là Hoàng Minh Đạo, ông là người có công lớn trong việc mở các lớp đào tạo cán bộ tình báo đầu tiên của ngành Tình báo quân sự Bắc - Nam trong những ngày đầu kháng chiến với những tên tuổi như Thiếu tướng Cao Pha, vợ chồng Đại tá Anh hùng Nguyễn Minh Vân (chỉ huy quân báo mặt trận Hà Nội)... Tháng 12 năm đó, ông tổ chức lễ thành hôn với bà Minh Phụng.


Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12/1946), ông gửi vợ và con gái là Minh Vân lên chiến khu, còn ông tiếp tục ở lại tổ chức, xây dựng chỉ đạo mạng tình báo thu thập tin tức. Tháng 2/1947, trong đợt chỉnh đốn và tổ chức lại cơ quan tình báo trong thời chiến, ông giao nhiệm vụ này tại mặt trận Hà Nội cho ông Nguyễn Minh Vân (tên thật là Nguyễn Đình Quảng, Đại tá Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân) rồi cùng Cơ quan tình báo Trung ương lên Chiến khu.Tại chiến khu, ông đã chỉ đạo tổ chức nhiều khóa huấn luyện nghiệp vụ tình báo tại Ỷ La Tuyên Quang đạo tạo nhiều cán bộ tình báo phục vụ kháng chiến.


Năm 1948, với bí danh là Hoàng Minh Đạo ông nhận lệnh điều động vào tăng cường cho chiến trường miền Nam đảm trách nhiệm vụ Đặc phái viên của Bộ Tổng Tham mưu đi kiểm tra tình hình từ Khu 4 vào Nam Bộ để kiện toàn và thống nhất lại các tổ chức của ngành tình báo, giúp cơ quan Cục có điều kiện chỉ đạo kháng chiến trong toàn quốc. Trước khi đi, ông lên Việt Bắc để chia tay vợ và con gái, thì người vợ bị sốt rét ác tính vừa qua đời. Ông phải gửi con gái lại cho chị nuôi là bà Nguyễn Thị Kíu.


Năm 4/1951, ông làm lễ cưới với bà Bùi Ngọc Hường là giao liên của Cục tình báo Trung ương tại Chiến khu Đ. Năm 1964, bà Hường bị bắt và đầy ra Côn Đảo cho đến tận năm 1974 thì được trao trả. Ông bà sinh ba người con là : Minh Ngọc, Minh Thu rồi Minh Hồng. Cuối năm 1954, ông là Phó Ban Binh vận Xứ ủy Nam Kỳ được điều động gấp về Sài Gòn trước khi thời gian tập kết có hiệu lực.


Đầu năm 1955, Xứ ủy Nam Bộ quyết định lập “Ban nghiên cứu Xứ ủy “-Ban địch tình (Ban này tồn tại đến 1961), do Ủy viên Xứ ủy Ba Viên phụ trách. Hoàng Minh Đạo, nguyên là trưởng phòng quân báo Nam Bộ về làm Phó trưởng ban. Rồi cụm tình báo chiến lược chỉ đạo trực tiếp các hệ tình báo chính trị-quân sự-phản gián-chiến lược ra đời, trong đó hệ tình báo quân sự gồm 6 lưới từ NB1 đến NB6 do Hoàng Minh Đạo phụ trách.


Năm 1969, Trung ương cục điều Đào Phúc Lộc từ Phân khu 5 về làm Chính ủy Phân khu 1-vùng Củ Chi. Đêm Nô-en (24-12), Chính ủy Đào Phúc Lộc cùng Phó tư lệnh phân khu Tám Lê Thanh về Trung ương cục dự họp. Khi vượt sông Vàm Cỏ Đông, đoàn phải chia làm hai nhóm. Ghe chở Phó tư lệnh Tám Lê Thanh qua sông trước trót lọt, còn ghe chở Chính ủy Đào Phúc Lộc đi sau đụng giang thuyền địch, tất cả đều hy sinh giữa dòng nước.


Vì hoàn cảnh chiến tranh, hoạt động trên mặt trận thầm lặng, cái tin ông hy sinh phải giữ bí mật, gần ba chục năm sau vợ và các con của anh vẫn còn phải chịu nỗi đau bởi bà con nơi ông sinh ra ở Móng Cái-Quảng Ninh thậm chí còn tin đồn anh là “kẻ phản bội Tổ quốc”... Công lao của vị tướng tài năng đã được ghi nhận. Ngày 8/4/1998, tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng đã tổ chức lễ truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân cho Liệt sĩ Đào Phúc Lộc. Đây là Huân chương cao quý đầu tiên được trao tặng cho Anh hùng Đào Phúc Lộc trong số gần 2.000 Anh hùng Lực lượng vũ trang trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Cuộc đời hoạt động cùng những chiến công của nhà Tình báo lỗi lạc Đào Phúc Lộc đã được xây dựng thành kịch bản cho bộ phim mang tựa đề “Con đường sáng”.


Tên tuổi và sự nghiệp của ông gắn liền với sự ra đời của ngành Tình báo quân sự. Ông chính là người đầu tiên xây dựng nền móng cho sự thành lập của ngành, ngay từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công và ngày càng phát triển mạnh mẽ trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc. Ông cũng là một trong những nhân vật quan trọng sáng lập ra Ban địch tình Xứ ủy Nam Kỳ và ngành Binh vận vào thời điểm gay go ác liệt nhất của cuộc chiến đấu chống xâm lược Mỹ (1954 – 1975), trở thành một trong những mũi giáp công lợi hại của Cách mạng miền Nam.

huy thanh
29-06-2009, 09:00 PM
http://www.camau.gov.vn/upload/info/info_list/bongvandia014---.jpg

Đại tá Bông Văn Dĩa (1905-30/5/1983), Anh hừng Lực lượng vũ trang Nhân dân (1967). Ông từng tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ (1940), Trong Kháng chiến chống Pháp, đã tổ chức mua 16 tấn vũ khí cung cấp cho các chiến trường Nam Bộ. Trong Kháng chiến chống Mĩ, tích cực cùng đồng đội mở đường vận tải biển Bắc - Nam chuyển vũ khí cho chiến trường Miền Nam.

Huân chương Quân công hạng hai, Chiến công hạng ba...

Đại tá Bông Văn Dĩa (bí danh Ba Địa), sinh tại ấp Rạch Gốc xã Tân Ân huyện Ngọc Hiển tỉnh Cà Mau trong gia đình dân nghèo vùng biển.

Được thầy giáo Phan Ngọc Hiển giúp đỡ, ông sớm giác ngộ cách mạng và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1940. Từ khi vào Đảng ông hoạt động rất tích cực ở vùng Rạch Gốc. Ngày 12/12/1940, từ xã Tân Dân huyện Ngọc Hiển ông được cấp trên giao nhiệm vụ đến Hòn Khoai trao nghị quyết khởi nghĩa của Tỉnh ủy Cà Mau cho nhà cách mạng Phan Ngọc Hiển và cùng tham gia tổ chức cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai.

Khi cuộc khởi nghĩa bị khủng bố, ông bị thực dân Pháp kết án khổ sai đày đi Côn Đảo. Suốt những năm lưu đày chịu nhiều cực hình tra tấn dã man, ông vẫn luôn giữ vững khí tiết cách mạng, cùng với chi bộ nhà tù đấu tranh và tổ chức nhiều cuộc vượt ngục đưa các chiến sỹ của ta về đất liền hoạt động. Cách mạng tháng Tám thành công, ông cùng các chiến sỹ tù Côn Đảo được rước trở về tiếp tục hoạt động cách mạng.

Lúc đầu cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ rất cần vũ khí đánh giặc, ông được phân công chở hàng qua Thái Lan đổi lấy vũ khí. Chuyến đi này được sự trợ giúp cuả bà Nguyễn Thị Hoài - là vợ ông Bông Văn Dĩa nên công việc được cải trang chu đáo bí mật. Đến Thái Lan mặc dù bị nhà cầm quyền bắt giam 4 tháng nhưng khi vưà ra tù ông chở ngay chuyến vũ khí từ Thái Lan về Rạch Gốc Năm Căn.

Lần thứ 2 do vận chuyển bằng đường biển khó khăn nên phải tổ chức bằng đường bộ từ Thái Lan qua Căm Pu Chia về Việt Nam và phải chuyển từng đoạn hết sức vất vả; trên đường vận chuyển bị địch ngăn chặn, ông cùng đơn vị chiến đấu 10 trận để bảo toàn vũ khí, chiến sỹ ta có 10 ông phải hy sinh. Sau đó ông được bổ sung vào đơn vị Cửu Long, tham gia nhiều trận đánh Pháp.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vào năm 1961 trước tình hình Mỹ Diệm ngang nhiên đi ngược lại Hiệp định Giơ-ne-vơ và trước phong trào Đổng khởi, Trung ương có chỉ thị các tỉnh ven biển miền Nam cho thuyền vượt biển ra Bắc để tính chuyện chở vũ khí về. Ông được bố trí giao nhiệm vụ rất quan trọng là tổ chức thăm dò tuyến đường biển từ Cà Mau ra miền Bắc để chở vũ khí vào miền Nam đánh giặc. Bà Rịa cho thuyền ra, do ông Năm Đông tổ chức. Trà Vinh thì cử sáu người, mang bí danh là Đoàn, Kết, Đấu, Tranh, Thắng, Lợi. Bến Tre cho thuyền ra do ông Tư Thắng phụ trách. Khu 6 cũng cử ông Đặng Văn Thanh đi ra, theo đường Trường Sơn. Bạc Liêu cử hai thuyền, do ông làm bí thư chi bộ... Các chuyến ra đều rất gian nan.

Thuyền Bà Rịa bị địch bắt ở Nha Trang, sau thoát được lại trôi dạt vào đảo Hải Nam. Thuyền Trà Vinh gặp bão lớn, phải đốn bỏ cả cột buồm, trôi dạt sang tận Hương Cảng... Riêng thuyền của ông dạt vô bờ biển Quảng Bình, bị dân quân ta bắt, tưởng là biệt kích ngụy, đánh cho một trận và giam chặt.

Ông nhất định không tiết lộ nhiệm vụ, chỉ một mực yêu cầu giải về Trung ương, trực tiếp gặp Tổng Bí thư Lê Duẩn. Mãi mới được chuyển về huyện. Lại giam. Rồi chuyển về tỉnh. Ông dọa lãnh đạo công an tỉnh: “Các đồng chí không đưa tôi đi gặp đồng chí Lê Duẩn ngay, sau này lỡ việc lớn, phải chịu trách nhiệm”. Vừa may lúc đó TBT Lê Duẩn đang đi công tác ở Quảng Bình. Tỉnh ủy báo cáo:

- Có người trong Nam ra, tự xưng tên là Hai Địa, đòi gặp trực tiếp đồng chí, không chịu khai báo gì nữa.

- Ở đâu? Ở đâu?...

Vậy là hai người gặp được nhau, hai người bạn tù Côn Đảo mấy mươi năm trước. Họ ôm chầm lấy nhau...

Vào ngày 23 tháng 10 năm 1961, Bộ Quốc Phòng ra quyết định số 97/QP do Thứ trưởng Hoàng Văn Thái ký quyết định thành lập lực lượng vận tải quân sự trên biển mang tên Đoàn 759 - tiền thân của Lữ đoàn 125 ngày nay. Cũng từ đó, ngày 23 tháng 10 hàng năm trở thành ngày truyền thống mở đường Hồ Chí Minh trên biển và thành lập Lữ đoàn 125 Hải Quân. Nhiệm vụ của đoàn 759 ngày ấy là “ mua sắm phương tiện, tiến hành vận chuyển các loại hàng tiếp tế cho chiến trường miền Nam bằng đường biển”.

Để thực hiện chủ trương đó, hàng loạt công tác chuẩn bị được tiến hành. xưởng đóng tàu 1 Hải Phòng bí mật đóng tàu. Bộ đội công binh và Hải Quân được Bộ quốc phòng giao nhiệm vụ sửa chữa gấp cầu cảng mang tên K15 dưới chân ngọn đồi Vạn Hoa, Đồ Sơn. Bộ đội quân khí có nhiệm vụ đóng gói súng đạn sao cho những bao gói ấy không có dấu vết chứng tỏ ở miền Bắc. Bộ nội vụ có nhiệm vụ bảo vệ bí mật tuyệt đối tại bán đảo Đồ Sơn…

Sau khi xin ý kiến Quân ủy Trung ương, đoàn 759 quyết định để thuyền “Bạc Liêu” do Bông văn Dĩa phụ trách, đi chuyến trinh sát, mở đường từ Bắc vào Nam. Ngày18 tháng 4 năm 1962, thuyền về tới Bồ Đề ( thuộc Tân An- Ngọc Hiền - Cà Mau). Thuyền đi vào cửa Rạch Ráng. 10 giờ đêm hôm đó thì cập vào Vàm Lũng. Chuyến đi trinh sát đã thành công.


Sau khi trở về từ miền Bắc, ông báo cáo với Khu ủy về ý kiến của Trung ương về tình hình bến bãi chưa bảo đảm, chưa thể đưa tàu vào. Khu ủy quyết định thành lập một ban chỉ huy cho công tác đặc biệt này do ông Ba Hòa làm trưởng ban, đưa một đại đội được chọn lọc kỹ xuống căn cứ ở vùng rừng Cà Mau và giao ông đi khảo sát các đảo.

Tìm ra cửa lý tưởng nhất là cửa Bồ Đề, lạch sâu 3,8m, tàu ta có thể vào thong thả. Các cửa Rạch Gốc, Hố Bỏ Gùi, Vàm Lũng, Vàm Cái Su cạn hơn nhưng lúc nước cường vẫn vào được, lại có lạch kín, rừng đước dày, có thể đào ụ giấu tàu và lập kho lớn chứa vũ khí...

Sau chuyến khảo sát này, khu ủy quyết định cử hai thuyền ra báo cáo trung ương, một chiếc do ông phụ trách xuất phát tại cửa Rạch Gốc ngày 24-7-1962, một chiếc khác xuất phát sau hai ngày. Đi hai thuyền là đề phòng mất một vẫn còn một. Ông đi trót lọt, đến cửa Việt ngày 29-7.

Qua 2 chuyến đi, về vượt sóng gío và tầu tuần tra của địch, ông báo cáo tỉ mỉ tình hình thăm dò và xây dựng bến bãi tiếp nhận vũ khí cho Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh nghe. Đoàn thủy thủ của ông được lệnh ở Đồ Sơn chờ lệnh về Nam.

Tại bến Đồ Sơn, đêm 11/10/1962, chiếc tàu gỗ gắn máy mang tên “Phương Đông 1” chở 30 tấn vũ khí do thuyền trưởng Lê Văn Một và Chính trị viên Bông Văn Dĩa chỉ huy, xuất phát lên đường vào Nam. Trước khi xuất phát, đích thân các nhà lãnh đạo Phạm Hùng, Nguyễn Chí Thanh, Trần Văn Trà đến bến cảng Đồ Sơn động viên cán bộ, chiến sĩ trên tàu. Ông Phạm Hùng nói:

- Các đồng chí là những người đầu tiên mở ra con đường biển Bắc - Nam này. Nó cũng giống như trên Trường Sơn kia, các đồng chí là những người tiên phong đi khai sơn phá thạch”.

Sau 5 ngày vượt biển Đông, ngày 16/10/1962, tàu đến cửa Bồ Đề và cặp bến Vàm Lũng (xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau) an toàn. Đây là chuyến chở vũ khí đầu tiên vào Nam bằng đường biển và con đường vận tải chiến lược trên biển Đông chính thức ra đời.

Ông Bông Văn Dĩa đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trở thành người chiến sỹ đầu tiên mở đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Từ đó trở đi vũ khí liên tiếp được đưa từ miền Bắc vào cập bến khu vực mũi Cà Mau. Lúc này ông lại làm nhiệm vụ chuyên chở vũ khí luồn lách qua nhiều đồn bốt địch phân phối cho chiến trường.

Với những thành tích và công lao cống hiến đặc biệt, năm 1967 ông được phong danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang.

Đại tá Bông Văn Dĩa là một tấm gương trong sáng, hiến cả cuộc đời vì sự nghiệp cách mạng - đấu tranh giải phóng dân tộc, ông luôn thể hiện đức tính cần kiệm liêm chính chí công vô tư. Dáng người thấp, mập gương mặt to tròn phúc hậu giống như ông Địa, để kết xin kể một câu chuyện về ông.

Hồi đó địch đánh phá ác liệt, cả vùng U Minh mênh mông là vậy mà hầu như không còn chỗ an toàn, lúc về Kinh Năm là nơi cuối cùng. Nhưng rồi Kinh Năm cũng bị lộ. Trước tình hình đó ông Lê Duẩn bảo với người sĩ quan bảo vệ rằng :

- Lộ rồi. Phải đi thôi!

- Đi đâu bây giờ?

Ông Lê Duẩn nói:

- Còn một chỗ. Còn một người có thể tin cậy: anh Hai Địa ở Rạch Gốc. Rạch Gốc là đất có thể nương náu. Đó là căn cứ địa của cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai hồi 1941. Chính Hai Địa là cơ sở của đồng chí Phan Ngọc Hiển, từng tham gia cướp chính quyền Hòn Khoai về sau bị tù Côn Đảo. Ở Côn Đảo, mỗi lần chúng tôi bị địch kéo ra đánh thì Hai Địa xông ra chịu đòn thay... Phải đi tìm Hai Địa... đó là con người có thể tin cậy trong lúc khó khăn cùng cực của cách mạng.

Bài viết và ảnh: Theo Báo Cà mau điện tử

huy thanh
29-06-2009, 09:03 PM
http://img525.imageshack.us/img525/1383/thieutuongnguyenvanbuasv7.jpg

Thiếu tướng Nguyễn Hồng Lâm (20/5/1922-1986), nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 7, Phó Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Tư lệnh Quân khu miền Đông.

Thiếu tướng Nguyễn Hồng Lâp tên thật là Nguyễn Văn Bứa, ngoài ra ông còn có bí danh Nguyễn Hữu Nghĩa. Tuy nhiên người ta nhớ tên Nguyễn Hồng Lâm nhiều hơn. Hồng Lâm tức rừng đỏ, rừng chiến khu cách mạng, ông dùng để đặt tên cho người con trai và lấy làm bí danh khi trở lại hoạt động ở chiến trường miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Sinh ra một gia đình trung nông ở xã Tân Mỹ Đông, huyện Hóc Môn, Gia Định.

Trong những ngày không khí sửa soạn tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 dâng ngập khắp cả nước, thanh niên Nguyễn Văn Bứa vận động tập hợp được một đội cảm tử của xã Tân Mỹ Đông do ông làm đội trưởng.

Ngày Nam bộ kháng chiến, Nguyễn Văn Bứa chỉ huy 2 tiểu đội vũ trang đem sáp nhập với lực lượng của ông Tô Ký (1919-1999, Thiếu tướng), bộ đội Khu 2 Hóc Môn. Và ông đã lấy mốc ngày 23-9-1945 làm ngày nhập ngũ của mình, ngày mà bắt đầu từ đó, ông trở thành anh bộ đội Cụ Hồ, trở thành vị tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Như những chiến sĩ Vệ quốc đoàn ở Nam bộ lúc ấy, Nguyễn Văn Bứa bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với tất cả sự hào hứng của tuổi đôi mươi. Có kiến thức quân sự cơ bản và phẩm chất của một người chỉ huy quyết đoán, nhân hậu, lần lượt ông được giao nhiều trọng trách, trưởng thành từ chiến sĩ đến Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Bà Rịa.

Sau thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947, cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước sang giai đoạn mới. Tình hình đòi hỏi cần phải thành lập những đơn vị chủ lực để “đẩy mạnh vận động chiến tiến tới”. Ở Nam bộ, từ các chi đội Vệ quốc đoàn, hàng loạt trung đoàn được thành lập. Nguyễn Văn Bứa được cử giữ trách nhiệm Trung đoàn phó Tham mưu trưởng Trung đoàn 312 (trung đoàn được thành lập trên cơ sở phát triển Chi đội 12 Gia Định) (5-1948), Trưởng ban tác huấn Phòng tham mưu Khu Sài Gòn – Chợ Lớn (4-1949), Trung đoàn trưởng Trung đoàn 300 Nam bộ (5-1950).

Từ giữa năm 1951, Trung ương Cục miền Nam chủ trương sắp xếp lại chiến trường, tổ chức lại lực lượng vũ trang nhằm chống lại có hiệu quả chính sách tập trung bình định và thủ đoạn bao vây chia cắt của địch. Tỉnh Bà Rịa và tỉnh Chợ Lớn sáp nhập lại thành tỉnh Bà – Chợ với lực lượng vũ trang tập trung của tỉnh là Tiểu đoàn 300.

Nguyễn Văn Bứa chuyển sang đảm trách nhiệm vụ Tỉnh đội phó Bà – Chợ kiêm chỉ huy trưởng Tiểu đoàn 300. Những năm 1951, 1952, chiến trường miền Đông gặp rất nhiều khó khăn. Bộ đội thiếu lương thực, thực phẩm, trang phục, chế phẩm y tế và đặc biệt là vũ khí chiến đấu.

Bộ Tư lệnh Phân Liên khu miền Đông thành lập Tiểu đoàn vận tải chiến lược 320 làm nhiệm vụ tiếp nhận vận chuyển vũ khí, tiền bạc, chất nổ của Trung ương chuyển vào từ Cù My, La Di, Hàm Tân (Bình Thuận), Xuyên Mộc (Bà – Chợ) về Chiến khu Đ, đưa đón bảo vệ các đoàn cán bộ từ Trung ương vào Nam bộ và ngược lại. Đây là công việc hết sức khó khăn nguy hiểm. Tháng 5-1953, Nguyễn Văn Bứa về chỉ huy Tiểu đoàn thay ông Nguyễn Văn Lung lên giữ chức vụ Tham mưu trưởng Phân Liên khu miền Đông. Rồi cũng tại khu vực đầu cầu cung đường vận tải này, Nguyễn Văn Bứa cùng gia đình lên tàu tập kết ra miền Bắc.

Trước khi là học viên Học viện Quân sự Nam Kinh Trung Quốc (năm 1959), ông là cán bộ tham mưu phụ trách quân lực Phòng tham mưu Sư đoàn 330, Trung đoàn phó Tham mưu trưởng Trung đoàn độc lập 656, Trưởng ban tác huấn Sư đoàn 338, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 664 rồi Tham mưu phó Sư đoàn 330. Giữa năm 1961, đang chuẩn bị thi tốt nghiệp ở Học viện Quân sự Nam Kinh, ông được Quân ủy Trung ương gọi về cử vào Nam chiến đấu.

Tháng 9 năm ấy, ông về lại chiến trường quê hương với cương vị Chỉ huy phó Tham mưu trưởng Quân khu miền Đông. Bấy giờ ở Nam bộ, cơ quan quân sự mới chỉ là ban quân sự thuộc các khu ủy do một số đồng chí khu ủy viên phụ trách, chưa thành cơ quan quân khu hoàn chỉnh. Các tỉnh đội cũng đang trong quá trình thành lập. Nguyễn Văn Bứa bắt tay xây dựng cơ quan ban chỉ huy quân khu, đủ các tổ chức tham mưu, chính trị, hậu cần, rồi cơ quan các tỉnh đội, huyện đội, các đại đội, tiểu đoàn tập trung của quân khu, của tỉnh.

Từ cuối năm 1964, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền tổ chức chiến dịch tiến công với qui mô nhiều trung đoàn chủ lực tham gia trên một địa bàn rộng – chiến dịch Bình Giã, mở đầu cho hàng loạt chiến dịch lớn diễn ra liên tiếp sau đó ở miền Đông Nam bộ. Nguyễn Văn Bứa được phân công làm Chỉ huy phó chiến dịch Bình Giã, và sau đó là Chỉ huy trưởng mặt trận phía Đông (mặt trận phối hợp) trong chiến dịch Đồng Xoài, Chỉ huy phó chiến dịch đông-xuân 1965 – 1966 và tham gia chỉ huy các cuộc pháo kích sân bay quân sự Biên Hòa, tổng kho Long Bình trong các năm 1964, 1966, 1967.

Mùa thu năm 1967, để chuẩn bị cho cuộc tổng công kích tổng khởi nghĩa, chiến trường miền Đông được sắp xếp lại. Quân khu miền Đông (T7) và Quân khu Sài Gòn – Gia Định (T4) giải thể để thành lập các phân khu, hình thành năm mũi nhọn tấn công vào sào huyệt Sài Gòn. Chỉ huy trưởng Quân khu miền Đông (từ 8-1965) Nguyễn Văn Bứa về làm chỉ huy trưởng Phân khu 1, rồi Chỉ huy trưởng Phân khu 5 chỉ huy các lực lượng tiến công đánh vào hướng Bộ Tổng tham mưu ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất, kho bom Gò Vấp và các địa bàn vùng ven trong đợt tiến công tiếp theo xuân Mậu Thân.

Cuối năm 1969, Đại tá Nguyễn Văn Bứa trở lại làm Chỉ huy trưởng Quân khu 7, bao gồm Phân khu 4, tỉnh Bà Rịa – Long Khánh, luôn cả rừng Sác Đoàn 10. Trong những ngày cam go sau biến cố Mậu Thân, địch phản kích càn quét quyết liệt, phải ăn khoai rừng, rau rừng trừ bữa, ông đã chỉ huy bộ đội bám trụ, tổ chức đánh địch trên dọc đường 1, đường 15, đường 2 Bà Rịa, đụng đầu với đủ những đơn vị từng là niềm tự hào của quân đội Mỹ, từ Sư đoàn 25 tia chớp nhiệt đới, Sư đoàn 1 anh cả đỏ, Sư đoàn kỵ binh bay, Lữ đoàn dù 199, Trung đoàn thiết giáp 11...

Tháng 8 năm 1971, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy quân sự Miền và một năm sau kiêm giữ trách nhiệm Chỉ huy trưởng Quân khu miền Đông (T1) khi tổ chức chiến trường toàn Miền được sắp xếp lại cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Thiếu tướng Nguyễn Văn Bứa chuyển sang làm nhiệm vụ mới: Phó ban thanh tra Bộ tư lệnh Miền, rồi Phó tư lệnh kiêm Trưởng ban Thanh tra Quân khu 7, Phó Tư lệnh kiêm Cục trưởng Cục Xây dựng kinh tế Quân khu 7. Và từ cuối năm 1984, phụ trách công tác tổng kết chiến tranh, nghiên cứu biên soạn lịch sử quân sự của quân khu.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Bứa mãi hiện hữu trong ký ức cán bộ chiến sĩ miền Đông như hiện thân của một tri thức quân sự rộng và bài bản, lối xử thế đoàn kết, khoan dung, pha chút hào hoa bặt thiệp. Bước chân của ông in dấu trên mọi nẻo chiến trường, từ Gia Định, Tây Ninh đến Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa, Long Khánh, hầu hết là địa bàn vùng sâu, sát nách thủ phủ Sài Gòn.

Từ trận phục kích, công đồn nhỏ lẻ đến những trận đánh và chiến dịch lớn, riêng trên đất miền Đông, ông có mặt trong hầu hết các biến cố lịch sử mà ý nghĩa của nó từng góp phần làm chuyển đổi cục diện chiến tranh. Ông sinh ra, lớn lên và thành danh ở miền Đông Nam bộ, ăn cơm uống nước và tắm gội trên các con sông chảy từ miền Đông Nam bộ xuôi ra biển cả. Ông là vị tướng của miền Đông!

huy thanh
29-06-2009, 09:05 PM
http://img136.imageshack.us/img136/8356/tranvandanhfn7.jpg

Thiếu tướng Trần Văn Danh (1923-2005), Anh hùng lao động, nguyên Tư lệnh Bộ Tư lệnh Sài Gòn-Gia Định, Phó Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố Hồ Chí Minh phụ trách An ninh Quốc phòng, Phó đoàn Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ủy ban liên hiệp quân sự tại trại Đa-vít, Phó Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự Quân giải phóng miền Nam Việt Nam kiêm Trưởng Ban tình báo chiến lược.

Ngoài ra ông từng giữ các chức vụ: Thứ trưởng Bộ Điện lực, Trưởng ban chỉ đạo xây dựng Nhà máy Thủy điện Trị An.

Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhất...

Thiếu tướng Trần Văn Danh tên thật là Trần Văn Bá, ông có bí danh là Ba Trần, Trần Quốc Minh quê tại Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.

Tuổi thơ và cách mạng

Mẹ ông (bà Trần Thị Thảnh) là người Bến Tre lên Sài Gòn làm cô mụ và gặp cha ông là con trai một ông Hương cả trong làng ở Hốc Môn. Ông nội ông là người sống rất nghiêm khắc, nên mẹ con ông phải đến sống ở một nơi khác.

Hàng ngày mẹ ông thức khuya dậy sớm trồng rau, nuôi heo rồi đi bán hàng rong mới kiếm đủ tiền nuôi sáu đứa con nhỏ, trong đó chỉ có một mình ông là con trai. Chị em ông ngày nào cũng phải vào rừng mót củi. Khi làm giấy khai sinh cho ông phải lấy họ mẹ, nên có tên là Trần Văn Ba. Hồi học lớp nhất ở thị trấn Hốc Môn, thấy ông tên Ba, thầy giáo ông mới nói: “Con tên Ba, mỗi lần kêu thầy phải nói “Ba ơi”, thôi, con đổi tên thành Bá cho dễ kêu! Thế là từ đó tên đi học của tôi là Trần Văn Bá!

Do chuyện lễ giáo mà mẹ con ông phải sống riêng nhưng bố ông rất thương các con và ông hay tìm cách đến thăm. Ông vốn là một cơ sở cách mạng nên khi Trần Văn Bá được 12 – 13 tuổi cha ông bắt đầu sai ông bí mật đi rải truyền đơn kêu gọi ủng hộ Đảng Cộng sản Đông Dương.

Ở Hốc Môn thời bấy giờ phong trào cách mạng âm ỉ, sôi sục. Vừa 16 tuổi, Trần Văn Bá thi đậu vào trường Bá Nghệ – Sài Gòn (nay là trường kỹ thuật Cao Thắng). Thích nghề xây dựng, Bá mua sách Pháp về toán, lý, hóa tự học thêm. Để có tiền đi học ở Sài Gòn, ban ngày Bá lãnh vẽ các mẫu thiết kế xây dựng của các văn phòng kiến trúc sư, buổi tối lại làm thêm nghề cơ khí.

Một buổi chiều, vừa ăn cơm ở Chợ Quán đạp xe về nhà, ngang qua rạp hát Trần Văn Hảo (nay là rạp Công Nhân) cậu học trò trường Bá Nghệ Trần Văn Bá nhìn thấy một cảnh hết sức chướng tai gai mắt: bọn lính Nhật trần truồng như nhộng đang chen nhau tắm trước mặt bàn dân thiên hạ. Vừa bực mình vì cảnh sỉ nhục vừa phải xuống xe dắt bộ để tránh bọn lính Nhật đang tắm, Trần Văn Bá uất ức nói:

Nghe nói nước Nhật tự xưng là cường quốc, sao chẳng văn minh chút nào, tắm ở truồng.

Không ngờ một tên lính nghe được kêu Bá lại hỏi bằng một giọng tiếng Việt rất sõi:

Ê thằng nhỏ! Mày vừa nói gì đó?

Trần Văn Bá liền lặp lại cậu nói của mình. Nghe xong tên lính Nhật cười mỉa mai:

Tắm truồng không có gì xấu. Mất nước mới là nhục!

Bá giận đến tái mặt. Nhưng chính câu nói của tên lính Nhật đã làm cho cậu học trò Hốc Môn hiểu ra một lẽ: mất nước đúng là nỗi nhục lớn nhất!

Nhật đảo chính Pháp, trường Bá Nghệ bị đóng cửa, Bá đành phải quay về lại Hốc Môn. Năm 18 tuổi, chàng trai mang nỗi nhục mất nước lại còn phải bị bắt đóng thuế thân. Lòng căm thù bọn cướp nước cứ thế sôi sục trong huyết quản Trần Văn Bá. Vì vậy vào tháng 7 năm 1945, Bá tham gia vào tổ chức Thanh niên Cứu quốc đang còn hoạt động bí mật. Hưởng ứng cuộc Cách mạng Tháng Tám, Bá cùng lực lượng Thanh niên Cứu quốc đứng ra cướp chính quyền ở Hốc Môn rồi vận động quần chúng kéo về trung tâm thành phố Sài Gòn để biểu dương lực lượng.

9 năm kháng chiến

Sau đó Pháp tái chiếm Nam Bộ. Hốc Môn là cái “ổ Cộng sản” mà họ phải điều động quân đến để dẹp. Trước sự tấn công ác liệt của giặc Pháp, lực lượng cách mạng ở Hốc Môn được lệnh phải tạm thời phân tán. Trần Văn Bá liền gia nhập vào Đội trinh sát của Khu 7, và bắt đầu cuộc chiến đấu với giặc Pháp khắp chiến trường miền Đông Nam Bộ. Trong đó có địa bàn Sài Gòn – Chợ Lớn mà người chiến sĩ trinh sát vốn là cựu học sinh trường Bá Nghệ rành rẽ từng con hẻm, từng con rạch... Để nhớ đến tên mình là Trần Văn Ba và cũng là người con thứ ba trong gia đình, Bá lấy bí danh là Ba Trần.

Sau những chiến công hết sức táo bạo và dũng cảm, chiến sĩ trinh sát Ba Trần được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Ba Trần đề nghị được lấy tên Trần Văn Danh để ghi vào hồ sơ đảng tịch. Ba Trần hay cùng nhóm quân báo đi về Bửu Long một làng ven sông Đồng Nai sát thị xã Biên Hòa – là nơi đang bị quân Pháp tạm chiếm và đặt các cơ quan hành chánh, quân sự của chính quyền tay sai.

Nhờ gan dạ xông xáo khắp nơi và cũng được sự chở che, đùm bọc của đồng bào, năm 1949 Ba Trần được đề bạt làm Tham mưu phó kiêm Trưởng ban quân báo liên tỉnh Thủ – Biên. Ở cương vị này, Ba Trần lại càng phát huy khả năng đặc biệt của mình trong nhiệm vụ. Và vì vậy đến năm 1954, Ba Trần đã trở thành Phó Chính ủy kiêm Bí thư Trung đoàn ủy của một đơn vị bộ đội lừng lẫy những chiến công đánh Pháp ở miền Đông Nam Bộ: Trung đoàn 556. Nhưng cũng vào thời điểm này thì có lệnh “đình chiến” và Phó chính ủy Ba Trần được lệnh tập kết ra Bắc. Sau đó, Ba Trần được phong quân hàm thiếu tá.

Trần Văn Danh được học văn hóa trở lại. Và sau đó được chọn vào học trường An ninh. Đặc biệt là được đào tạo bài bản về công tác tình báo, mà người sĩ quan miền Nam này có khá nhiều kinh nghiệm thực tiễn.

Vượt Trường Sơn về Nam chiến đấu

Vào cuối năm 1960 Trần Văn Danh được lệnh vượt Trường Sơn để về miền Nam chiến đấu. Những ngày cuối cùng trước khi rời miền Nam, Trần Văn Danh cứ như bị thôi thúc bởi lời dặn dò của Bí thư thứ nhất Lê Duẩn khi ông thăm đoàn cán bộ đang chuẩn bị về Nam: các đồng chí ra Bắc đã học tập tốt, nay nhanh chóng về Nam cùng các đồng chí trước đây ở lại tổ chức quần chúng nổi dậy, lôi kéo binh lính địch, chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Hiện nay chúng ta vẫn còn một cái nhục, là “nhục mất nước”.

Con đường trở lại chiến trường miền Nam cực khổ muôn vàn vì đây là đoàn tiền trạm, có lúc người chiến sĩ to lớn, vạm vỡ như Ba Trần còn bị viêm phổi nặng đến nỗi ông nghĩ mình khó lòng mà qua khỏi. Khi đến được vùng sông Re (thuộc tỉnh Quảng Nam bây giờ) đoàn cán bộ về Nam gần như chới với vì sốt rét, bệnh tật và... cái đói cứ đe dọa từng ngày.

Đoàn cán bộ quân sự đầu tiên từ miền Bắc về Nam tìm được đường vào căn cứ Trung ương Cục đều đã đói rách bệnh tật đến thảm hại. Thế nhưng ngay sau đó lại trở thành cái vốn quý để thành lập Ban Quân sự Miền do ông Trần Văn Quang (1917, Thượng tướng) được cử làm Trưởng ban. Ba Trần được phân công làm Trưởng ban tình báo chiến lược trực thuộc Ban Quân sự Miền.

Nhận nhiệm vụ, việc đầu tiên Ba Trần phải làm là bắt tay xây dựng lại ngành tình báo cách mạng bằng cách tuyển chọn cán bộ từ ban địch tình. Vì sau bảy năm từ khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, với chính sách tố Cộng vô cùng dã man, chính quyền Ngô Đình Diệm đã bắt giết, bỏ tù hàng loạt cán bộ làm cho lực lượng tình báo cách mạng gần như tan rã, tê liệt hoàn toàn. Mưu trí hơn, Ba Trần cho tổ chức điều nghiên và lợi dụng sự sơ hở của địch do mâu thuẫn nội bộ để giải cứu các cán bộ tình báo đang bị giam cầm rồi bố trí hoạt động trở lại. Sau đó, Ba Trần đã từng bước “cài” được các chiến sĩ tình báo vào các cơ quan đầu não của Mỹ, ngụy như: dinh Độc Lập (Phủ tổng thống ngụy), Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, bộ tổng tham mưu quân lực Việt Nam Cộng hòa, cơ quan đặc ủy trung ương tình báo, bộ tư lệnh hải quân ngụy, bộ tư lệnh Đệ nhất Hạm đội Hoa Kỳ... Qua đó, Ban tình báo chiếm lược đã thu thập, khai thác được nhiều thông tin tối mật của địch kịp thời cung cấp, phục vụ cho việc chỉ đạo chiến tranh của Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền, Trung ương Cục và Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Vai trò chỉ đạo tình báo chiến lược của Ba Trần rất quan trọng. Căn cứ vào tình hình quân sự, từng thời kỳ, nhiều đồng chí thay đổi nhiệm vụ công tác, nhưng cương vị Trưởng ban tình báo chiến lược vẫn do Ba Trần đảm trách. Có lúc Ba Trần được đề bạt làm Phó tham mưu trưởng Ban Quân sự Miền, nhưng ông vẫn phải trực tiếp phụ trách tình báo, đặc công, biệt động.

Mặt trận ngoại giao trong hang ổ đầu não địch

Làm ra vẻ nghiêm chỉnh thực thi Hiệp định Pa-ri vừa mới ký kết, Mỹ, ngụy buộc lòng phải đón “phái đoàn Việt cộng” vào tận “thủ đô Sài Gòn” để tham gia vào Ban liên hiệp quân sự bốn bên.

Vào đầu tháng 1 năm 1973, tại Sở chỉ huy Miền, chính Ba Trần đã nhận được chỉ thị của Trung ương là cùng với ông Trần Văn Trà (1919-1996, Thượng tướng Trần Văn Trà)bàn bạc chọn nhân sự, phân nhiệm, chuẩn bị tài liệu, phương tiện thông tin liên lạc, dự kiến tình huống bất trắc... để về Sài Gòn tham gia vào Ban liên lạc quân sự bốn bên thực thi Hiệp định Pa-ri. Trong lúc trung tướng Trần Văn Trà túi bụi với những cuộc họp Bộ Chỉ huy Miền để bàn cách phối hợp đấu tranh giữa chiến trường và bàn hội nghị, thì Ba Trần cũng bận tối ngày để chỉ huy thực hiện mọi công việc cho chuyến vào Sài Gòn.

Theo như thỏa thuận, vào ngày 28 tháng 2 năm 1973, máy bay quân sự của Mỹ sẽ đáp xuống sân bay Thiện Ngôn để đón Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Sân bay Thiện Ngôn nằm ở phía bắc Tây Ninh vốn là căn cứ quân sự của một chiến đoàn Mỹ vừa chuyển giao cho quân đội Sài Gòn đã bị bộ đội ta đánh chiếm vào năm 1972 trong chiến dịch Nguyễn Huệ.

Trưởng đoàn là trung tướng Trần Văn Trà, các phó trưởng đoàn gồm đại tá Võ Đông Giang (1923-1998, Thiếu tướng-Bộ trưởng Bộ Ngoại giao), đại tá Đặng Văn Thu (Thiếu tướng Đoàn Huyện), đại tá Trần Quốc Minh (Thiếu tướng Trần Văn Danh) cùng các ủy viên như Nguyễn Văn Sĩ, Nguyễn Văn Hoàn, Dương Đình Thảo, Nguyễn Văn Tòng, Nguyễn Văn Tư...

Có hai nhân vật khiến cho CIA và mật vụ Sài Gòn bất ngờ, điên tiết lên đó là Đại tá Trần Quốc Minh (Ba Trần) và Trung tá Nguyễn Hữu Trí từng nổi danh trong giới giang hồ với biệt danh “đại ca Tư Bốn” một thời, nay lại đeo lon Trung tá quân đội nhân dân Việt Nam.

Khu doanh trại David của không quân Mỹ nằm sát góc tây nam sân bay Tân Sơn Nhất được thiết lập thành hình chữ V gồm ba dãy nhà gỗ quây lại thành chữ U. Trong lòng có vài biệt thự với đường tráng nhựa chạy giữa các dãy nhà cùng sân quần vợt, bóng rổ, bóng chuyền... Vừa tiếp quản trại David, phái đoàn quân sự hai bên liền phân công nhau khẩn trương bắt tay vào việc đào hầm trú ẩn, công sự chiến đấu và cuốc đất trồng rau, tăng gia sản xuất...

Vừa triển khai phương án phòng thủ chiến lược ở trại David xong, linh cảm của một cán bộ tình báo lão luyện mách cho Ba Trần biết là bọn CIA đang ráo riết truy cứu lý lịch của ông và sớm muộn gì chúng cũng sẽ phát hiện lai lịch ông cùng với gia đình. Do đó Ba Trần liền bí mật báo cho vợ là bà Nguyễn Thị Hoa đang sống cùng bốn đứa con ở quê nhà Hốc Môn phải cấp tốc đi vào Khu. Đúng như dự đoán, bà Hoa cùng các con vừa chuyển đi đêm trước thì sáng hôm sau bọn mật vụ, cảnh sát chìm đã ập đến tận nhà.

huy thanh
29-06-2009, 09:08 PM
Vị tướng trận mạc trong mùa Xuân đại thắng

Trong chiến dịch Phước Long chuẩn bị mở màn cuộc Tổng tiến công mùa xuân đại thắng 1975, Ba Trần được giao trực tiếp chỉ huy trận đánh chiếm núi Bà Đen, một trung tâm viễn thông chiến lược quốc tế, thu tin mã thám và là đài không lưu thông báo cho B52 cùng các loại chiến đấu cơ của địch bay đi oanh tạc ở miền Bắc và hai nước Cam-pu-chia, Lào trên bán đảo Đông Dương; cùng lúc thực hiện nhiệm vụ thứ hai là thu hút hỏa lực của lữ đoàn 81 biệt kích dù, các phi đội chiến đấu F5E của quân đoàn 3 ở Biên Hòa, sư đoàn 25 bộ binh ngụy...

Toàn bộ những hoạt động này nhằm phối hợp với cánh quân của ông Năm Ngà (Thượng tướng Nguyễn Minh Châu) đang đánh Tánh Linh – Võ Đắc kềm chế sư đoàn 18 bộ binh ngụy và ngăn chặn không cho các lực lượng của địch yểm trợ Phước Long. Phước Long chính là trận địa của Quân đoàn 4 do ông Năm Thạch (Thượng tướng Hoàng Cầm) chỉ huy.

Trước khi bước vào đợt hai mùa khô năm 1975 theo nhận định chung của Bộ tổng tư lệnh, tình hình quân địch ở chiến trường B2 đã có một số thay đổi. Cái đau nhất của Mỹ, ngụy là công việc bình định, mà chúng đã bỏ ra công sức và tiền của, đến lúc ấy đã bị thất bại nặng nề. Thất bại rõ nét nhất lại là ở đồng bằng sông Cửu Long nơi đông dân và giàu có mà chúng mong làm chỗ dựa cuối cùng. Sau khi đã cố sức mở các cuộc hành quân tái chiếm và giải tỏa trong tháng Giêng ở biên giới Kiếân Tường - Chợ Gạo - Mỹ Tho, Thầy Phó - Trà Vinh, Thới Bình - Cà Mau, khu vực Rạch Giá đi Hà Tiên mà không có kết quả, còn bị thiệt hại. Ở đồng bằng địch phải chuyển qua chuẩn bị để chống lại đợt tấn công mới của ta mà chúng dự đoán là vào trước dịp Tết âm lịch (khoảng 10 tháng 2). Ở miền Đông Nam Bộ chúng định tập trung quân cố đánh chiếm trở lại thị xã Phước Long bằng “Chiến dịch 271” nhưng không thành vì bị đánh khắp nơi, không tập trung được lực lượng đủ sức. Trước tình thế ấy, chúng xoay sang với nỗ lực rất cao để chiếm lại núi Bà Đen - một vị trí thiết yếu, không những phục vụ cho việc phòng thủ miền Đông Nam Bộ, Sài Gòn mà còn để bảo vệ cho Cam-pu-chia – Phnôm-pênh của chính quyền ngụy Lon-non nữa. Từ ngày 20 đến ngày 26 tháng Giêng, quân đoàn 3 ngụy có đại biểu của bộ tổng tham mưu tham dự đã sử dụng lực lượng của tiểu khu Tây Ninh và sư đoàn 25 với sự yểm trợ cao của pháo binh (bình quân bắn trên 6.000 quả/ngày) và phi cơ (84 lần chiếc/ngày), đánh phá vào khu vực núi hết sức ác liệt. Chúng đã dùng 29 trực thăng đổ quân nhiều đợt cố chiếm lại cứ điểm trên đỉnh núi nhưng đều bị ta đánh trả quyết liệt, bị thiệt hại nhiều sinh lực, mất nhiều phi cơ và trực thăng. Không những thế, qua theo dõi tin tình báo và lực lượng trinh sát mặt đất nắm được: để chuẩn bị đánh chiếm núi Bà Đen, Mỹ-ngụy còn tập kết một số máy bay trực thăng cùng với xung lực ở Bản Kéo cách đó không xa để chở quân đổ bộ. Chớp thời cơ, đêm 25 tháng Giêng năm 1975 (nghĩa là trước chưa tới một ngày địch khởi sự), Trần Văn Danh đã kịp thời chỉ đạo tập trung hai khẩu pháo 105 ly và sáu khẩu cối 61ly. Vào lúc 03 giờ sáng dồn dập nã đạn vào bãi để máy bay của đối phương. Bị giáng trả bất ngờ, địch không kịp trở tay đối phó. Phần lớn máy bay bị phá hủy và nhiều quân lính bị đền tội. Qua hai đợt tấn công cả phía sau và phía trước của ta, kết cục địch đành nhận thất bại cay đắng, lui về phòng thủ Tây Ninh.

Thắng lợi rất có ý nghĩa của mặt trận tấn công chiếm vị trí núi Bà Đen và giữ vững vị trí trước sự phản kích quyết liệt của địch là một chiến công hết sức rực rỡ của một đơn vị nhỏ mà tinh nhuệ của ta. (Thượng tướng Trần Văn Trà)

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử với kế hoạch giải phóng Sài Gòn được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua ngày 24/4/1975 Ba Trần có nhiệm vụ chỉ huy lực lượng đặc công, biệt động bí mật chiếm giữ trước và bảo vệ an toàn 16 cây cầu dẫn vào Sài Gòn để mở đường cho đại quân ta tiến vào trung tâm thành phố và ngăn chặn không cho địch phá hoại những mục tiêu quan trọng như: Đài phát thanh, kho xăng, nhà máy điện, nhà máy cấp nước, kho tàng, hồ sơ lưu trữ.

Các chiến sĩ tình báo, đặc công, biệt động thành dưới sự chỉ huy của Ba Trần đã anh dũng, mưu trí, táo bạo làm chủ và bảo vệ an toàn các mục tiêu. Nhiều chiến sĩ biệt động, đặc công đã ngã xuống bảo vệ cầu Rạch Chiếc, Sài Gòn, Bình Lợi, Bình Triệu, Bình Điền… trước giờ giải phóng Sài Gòn…

Gần một giờ đêm 30/4/1975, ngay giữa Sài Gòn vừa giải phóng, ông Phạm Hùng – Bí thư Trung ương Cục miền Nam đã công bố quyết định của Đảng và Nhà nước trong trường hợp đặc biệt: Phong đồng chí Trần Văn Danh hàm Thiếu tướng, nhận nhiệm vụ Phó Chủ tịch ủy ban Quân quản thành phố về an ninh quốc phòng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh thành phố Sài Gòn – Gia Định”

Vị tổng quản Thủy điện Trị An

Năm 1978, sau khi thôi giữ chức Tư lệnh lực lượng vũ trang thành phố, ông sang làm Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Là một nhà tình báo, ông luôn coi trọng mọi hồ sơ tài liệu. Trên cương vị của mình, nhân lúc phân loại các hồ sơ mật của chính quyền Sài Gòn để lại. Qua nghiên cứu phân tích nhiều loại, nào là quân sự, kinh tế, chiến tranh tâm lý, may mắn thay, trong số đó ông bắt gặp sơ đồ thiết kế công trình thủy điện Trị An. Chưa biết trong ấy họ nói những gì chi tiết nhưng chắc chắn đó là điều mà xã hội đòi hỏi cấp thiết.

Tuy nhiên, bởi quy mô công trình nó lớn quá, nếu đầu tư công, của không đơn giản chút nào. Trong khi đó tình hình đất nước còn cực kỳ khó khăn, vả lại ông vốn là một người lính chủ yếu quen với trận mạc. Khả năng kiến thức về xây dựng công trình tầm cỡ quốc gia như thế đòi hỏi kỹ năng khoa học cao mới đủ lý luận và thực tiễn để thuyết phục...

Tuy nhiên trong một hội nghị Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 4 khóa 3 năm 1984, ông trình bày luận điểm của mình với cơ quan lãnh đạo cao nhất của thành phố. Tuy nhiên cũng có những ý kiến tranh luận qua lại, phân tích để thêm sáng tỏ. Song, cơ bản nhất trí rất cao. Đặc biệt ông Võ Văn Kiệt, trên cương vị là Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Thành ủy tỏ vẻ rất phấn chấn.

Sau chuyến ra Hà Nội của đồng chí Bí thư Thành ủy, Trung ương và Chính phủ đã đồng ý căn bản đề nghị của thành phố Hồ Chí Minh. Và chính ông được ông Võ Văn Kiệt đề nghị giữ vai trò chỉ đạo công trình và đề đạt lên Trung ương. Và sau đó ít lâu, ông được Trung ương, Chính phủ điều động sang làm Thứ trưởng Bộ Năng lượng kiêm Trưởng ban chỉ đạo xây dựng công trình thủy điện Trị An.

Tính khẩn trương của công trình một lần nữa thách thức vị tướng tài ba: rà phá bom mìm trong vùng căn cứ chiến khu D, khảo sát địa chất, tiến hành thi công, hoàn chỉnh thiết kế kỹ thuật… Công trình thủy điện đầu tiên của miền Nam sau giải phóng với công suất thiết kế 400 mêga oát (400 MW – 4 tổ máy), sản lượng điện bình quân mỗi năm 1,7 tỷ KWh.

Để đẩy nhanh tiến độ thi công công trình cần huy động mọi nguồn lực xã hội. “Tất cả vì Trị An”, “Tất cả vì dòng điện sáng ngày mai của Tổ quốc”. Hàng vạn lượt thanh niên, công nhân không quản đêm ngày cùng vị chỉ huy đã không những hoàn thành công trình đúng tiến độ mà còn tiết kiệm hơn 10 triệu USD, 3.000 tấn thép trả lại cho Liên Xô.

Tổng kinh phí xây dựng công trình 200 triệu USD, ngày 13/9/1989 tổ máy số 4 vận hành. Đã có ít nhất hai lần, bọn phản động âm mưu phá hoại công trình thủy điện nhưng với tinh thần cảnh giác cao và kinh nghiệm của một vị Tướng tình báo ông Ba Trần đã chỉ đạo các lực lượng công an, trinh sát, tình báo của ta phá âm mưu đen tối của kẻ địch.

Qua gần 12 năm công trình đi vào hoạt động, đã tạo ra một hiệu quả vô cùng to lớn cả về kinh tế, xã hội… cho hàng chục triệu con người. Đặc biệt, tăng sản lượng điện đáp ứng cho các khu công nghiệp ở các tỉnh thành phố miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long tăng thêm hấp dẫn mời gọi đầu tư nước ngoài vào làm ăn với ta, thu hút hàng triệu lao động có công ăn việc làm ổn định cuộc sống. Ánh điện đã về tới những bản làng hẻo lánh xa xôi, làm cho bộ mặt nông thôn vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc và căn cứ kháng chiến thay đổi rõ.

Năm 1945, Thiếu tướng Anh hùng lao động Trần Văn Danh tham gia cách mạng. Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trên nhiều cương vị công tác, ông luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó. Trần Văn Danh luôn trăn trở trước tình hình đất nước gặp nhiều khó khăn. Ông đã đề ra phương án xây dựng nhà máy Thủy điện Trị An và được chấp nhận. Sau đó, Trần Văn Danh được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Điện lực, kiêm Trưởng ban chỉ đạo xây dựng công trình Thủy điện Trị An. Đây là công trình thủy diện có tác dụng to lớn trong việc phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế văn hóa và phục vụ đời sống nhân dân nhiều địa phương thuộc các tỉnh, thành phố phía Nam. Ông đã dày công nghiên cứu, lặn lội khắp nơi vận động, tập hợp sức người, sức của trong nhân dân, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế nhất là Liên Xô cũ. Trần Văn Danh luôn thể hiện phẩm chất của người đảng viên Cộng sản lão thành, không quản ngại tuổi cao, sức yếu, có tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình công tác, gần gũi và cảm thông với mọi thành viên trên công trình, trở thành tấm gương cho mọi người học tập.

‘’Đồng chí Ba Danh là người bạn tận tình phục vụ Tổ quốc, có tài năng trong đánh giặc và có tài năng trong xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý’’ (Đại tướng-Bộ trưởng Lê Đức Anh viết khi ông được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lao động)

“người chỉ huy cương nghị, tổ chức và xây dựng thắng lợi công trình thủy điện Trị An lịch sử” (nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt)

“Đồng chí Trần Văn Danh luôn nêu cao phẩm chất của người đảng viên cộng sản, không quản tuổi cao sức yếu, có tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình hăng say công tác, gần gũi và cảm thông với mọi thành viên trên công trình, trở thành tấm gương sáng cho mọi người học tập” (trích Bản tuyên dương Anh hùng lao động)

Bài viết và nguồn ảnh: Theo Anh hùng đất Đồng Nai

huy thanh
29-06-2009, 09:11 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Phung-The-Tai.jpg

Thượng tướng Phùng Thế Tài (1920), nguyên : Phó Tổng Tham mưu trưởng, Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất và hạng Ba, Huân chương Chiên công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất...

Ông được phong Quân hàm Thiếu tướng (1967), Trung tướng (1974), Thượng tướng (1986).
Thượng tướng Phùng Thế Tài (tên thật là Phùng Văn Thụ, ông còn có tên khác là Phùng Hữu Tài) sinh tại làng Văn Minh, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây đồng hương với Đại tướng Lê Trọng Tấn.

Sinh ra trong một gia đình nghèo, cuộc sống cơ cực nên ông không được học hành và cũng không có nghề nghiệp gì để mưu sinh. Năm 1933, khi ông mới 13 tuổi, mong kiếm được kế sinh nhai cho ông, gia đình đã nhờ cậy một người bà con đang ở tỉnh Vân Nam Trung Quốc nhận đưa ông sang tìm việc làm kiếm sống. Từ đó, tại một thị trấn nhỏ thuộc tỉnh Vân Nam, ban ngày ông tìm việc vặt kiếm sống ban đêm tá túc với cửu vạn ở chợ Trời.

Mặc dù nai lưng cật lực, toát mồ hôi sôi nước mắt vẫn không đủ sống, lại bị lũ con gia chủ ức hiếp, miệt thị nên ông tẩn cho chúng một trận rồi bỏ trốn lên Côn Minh-thủ phủ của tỉnh Vân Nam giữa năm 1934.

Ở Côn Minh, ông trở thành đứa trẻ bơ vơ, ngày sống lang thang trên đường phố. Năm ông 16 tuổi (1936), một đêm đông giá lạnh, khi ông đang co ro trên chiếc ghế đá bên mép hồ có một người thanh niên đến, vỗ bên vai ông và gọi dậy rồi hỏi han nhiều chuyện về nhân thân bằng tiếng Việt. Đó chính là ông Vũ Anh- một đảng viên Cộng sản trong một chi bộ hoạt động ở nước ngoài tại Vân Nam. Từ đó ông giác ngộ theo Cách mạng, và đến năm 1939 được kết nạp vào Đảng.

Đầu năm 1940, ông được ông Vũ Anh giao cho bí mật bảo vệ một người bằng mọi giá trong mọi trường hợp nhưng không được để cho ai biết ông là vệ sĩ của người đó, kể cả người bảo vệ. Sau một thời gian, tổ chức mới cho ông biết người mà ông được giao bảo vệ chính là ông Trần-bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mới từ Mát-xơ-cơ-va về Côn Minh hoạt động. Sau một thời gian thực thi tốt nhiệm vụ, ông được ông Vũ Anh chính thức giới thiệu với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Qua công việc hàng ngày, với tác phong cần mẫn, tận tụy, lầm lỳ, kín đáo, nhưng rất tháo vát, chịu khó và có nhiều sáng kiến, dần dần ông được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tin cậy.

Ngoài tên chính là Phùng Văn Thụ, ông được lãnh tụ đặt tên mới Phùng Hữu Tài - với ý nghĩa Phùng là gặp, Hữu Tài là có tài, ý nói là có ông là người bảo vệ như gặp người có tài. (Đến năm 1952, ông xin phép Bác Hồ cho được đổi lại tên là Phùng Thế Tài vì theo ông cái tên Hữu Tài dễ làm người ta kiêu căng tự phụ).

Để trực tiếp lãnh đạo Cách mạng trong nước, đầu năm 1941, vào Xuân Tân Tỵ, ngày 28-1, lãnh đạo Nguyễn Ái Quốc từ Vân Nam về đến Cao Bằng, và đặt bản doanh tại hang Pác Pó. Ông được tổ chức giao trọng trách bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho Bác trong điều kiện hết sức bí mật và vô cùng gian khổ.

Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, ông được lãnh tụ Hồ Chí Minh cho gia nhập đội và được cử làm tiểu đội trưởng Tiểu đội giải phóng quân Thất Khê và tham gia giành chính quyền tại Thất Khê tháng 8 năm 1945

Sau khi giành chính quyền, ông được cử làm Ủy viên quân sự Việt Minh tại Lạng Sơn, kiêm chức Chi đội phó Chi đội Lạng Sơn. Sau khi Vệ quốc đoàn được tổ chức chính quy hóa, Chi đội Lạng Sơn trở thành Trung đoàn 28, ông được giữ chức vụ Trung đoàn trưởng.

Năm 1947, ông được cử làm Ủy viên quân sự trong Ủy ban Hành chính Kháng chiến Hà Nội. Năm 1951, khi Đại đoàn 320 được thành lập, ông được cử về giữ chức vụ Đại đoàn phó.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tháng 9 năm 1954, ông được cử làm Đại đoàn trưởng Đại đoàn Pháo binh 349 vừa được thành lập.

Trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội, ông được phong quân hàm Thượng tá (1958). Từ tháng 11 năm 1961 đến tháng 11 năm 1962, ông giữ chức Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Pháo binh, kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Pháo binh.

Tháng 12 năm 1962, ông là Tư lệnh Quân chủng Phòng không. Năm 1963, Quân chủng Phòng không - Không quân thành lập, ông được cử giữ chức Tư lệnh đầu tiên của quân chủng này. Trong thời kì chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất của đế quốc Mỹ, dưới sự chỉ đạo của ông, Quân chủng Phòng không đã góp phần không nhỏ trong việc đánh bại chiến tranh leo thang phá hoại của không quân Mỹ bảo vệ vững chắc bầu trời miền Bắc.

Trong thời kỳ chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Không quân Mỹ (1964-1965), ông còn kiêm chức vụ Trưởng Ban phòng chống bão lũ trung ương.

Năm 1967, từ đại tá Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, ông được Nhà nước bổ nhiệm chức Phó Tổng Tham mưu trưởng và điều động về công tác tại Tổng hành dinh - Bộ Quốc phòng.

Tháng 8 năm 1969, trước tình hình sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng xấu, Trung ương quyết định thành lập Ban gìn giữ thi hài do tướng Lê Quang Đạo làm trưởng ban, ông được cử làm Phó ban.

Trong trận Điện Biên Phủ trên không (12/1972), trên cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng ông thay mặt Quân ủy Trung ương trực tiếp chỉ đạo Quân chủng Phòng không Không quân làm lên chiến thắng lịch sử, đánh bại sức mạnh của không lực Hoa Kì buộc Mỹ phải kí kết Hiệp định Paris.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, trên cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng ông luôn có mặt trên đường Trường Sơn trực tiếp chỉ đạo chi viện cho chiến trường về mọi mặt.

Năm 1976, khi Tổng cục Hàng không Dân dụng của Việt Nam thống nhất được thành lập, ông kiêm chức vụ Tổng cục trưởng cho đến năm 1978. Ông được Nhà nước Việt Nam cho về nghỉ hưu năm 1990.

Thượng tướng Phùng Thế Tài là một vị tướng có nhiều giai thoại lí thú được lưu truyền trong các chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, từ một cậu bé lang thang không nơi nương tựa đến với cách mạng là cận vệ đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh rồi chuyển sang chỉ huy quân sự. Là một vị chỉ huy từng có mặt trong đoàn quân Tây Tiến rồi đến Tư lệnh đầu tiên của một Quân chủng hiện đại còn hết sức non trẻ của Quân đội ta khi đó-Quân chủng Phòng không Không quân. Ông đã cùng các vị chỉ huy của Quân chủng như Trung tướng Lê Văn Tri, Trung tướng Nguyễn Văn Tiên, Đại tá Đặng Tính lãnh đạo Quân chủng làm thất bại hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ. Ông vẫn được gọi là ‘’Vị tướng của tháng 12 lịch sử’’

Cánh lính trẻ rất thích thú trước tướng Phùng Thế Tài bởi bản tính xuề xòa nhưng không phải không sợ cái oai rất tướng của ông, thân hình cao to, tiếng nói sang sảng khuôn mặt hồng hào và tính nóng như lửa của ông. Chính vì cái tính nóng với cấp dưới mà ông đã nhiều lần bị Bác Hồ chỉnh. Có thể nói ít tướng lĩnh nào của Việt Nam lại gắn bó với Bác Hồ như Thượng tướng Phùng Thế Tài. Ông gắn bó với Bác từ những ngày còn bên Trung Quốc đến khi về Pác Bó trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam đựợc Bác dạy bảo và phát hiện ra khả năng quân sự của ông. Khi Bác mất, ông lại là một trong những người chỉ đạo công việc bảo quản thi hài Bác.

huy thanh
29-06-2009, 09:14 PM
http://img522.imageshack.us/img522/4091/thieutuongtokydg3.jpg

Thiếu tướng Tô Ký (1918 - 17/2/1999), nguyên Trưởng phòng Giao thông Vận tải Bộ tổng tham mưu, Tư lệnh kiêm chính ủy Sư đoàn 338, Chánh án Toà án Quân sự Trung ương, Chính ủy Quân khu 7, Chính ủy Quân khu Hữu Ngạn.

Ngoài ra ông còn là Phó Chánh án Toà án Nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh, phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam.

2 Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất...

Ông được phong quân hàm Thiếu tướng 1961.

Thiếu tướng Tô Ký quê ở xã Mỹ Bình, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh. Ông tuổi Mậu Ngọ (1918) nhưng khai sinh trễ, giấy khai sinh đề ngày 5 tháng 9 năm 1919.


Quê hương ông có truyền thống Cách mạng từ xa xưa. Đây là nơi cụ Nguyễn An Ninh phát động phong trào cách mạng. Đây cũng là nơi Thường vụ Trung ương Đảng đong. Trước Nam Kỳ khởi nghĩa, phong trào cách mạng ở Hóc Môn-Bà Điêm phát triển khá mạnh.


Nhà nghèo, học đến primaire trường Hóc Môn thì phải nghỉ ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 14 tuổi, ông vừa làm ruộng vừa theo học chữ Hán thầy Mười Lời (cụ Phạm Văn Lời) mong theo nghề thuốc. Nhưng rồi phong trào Cách mạng bùng lên trên quê hương Mười tám thôn Vườn Trầu cuốn hút chàng trai trẻ yêu nước, đầy cá tính.

Tô Ký tham gia Hội tương tế ái hữu (1936-1937), hoạt động trong phong trào Thanh niên dân chủ, được kết nạp Đảng Cộng sản Đông dương tháng 4 năm 1937. Năm 1939, ông là huyện ủy viên Huyện ủy Hóc Môn, trong một lần đi phân phát truyền đơn cổ động đấu tranh, ông bị mật thám bắt giam tại Khám lớn Sài Gòn, toà tiểu hình kết án một năm tù ở và ba năm đày biệt xứ.


Tháng 11 năm 1940, khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra. Do điều kiện chưa chín muồi, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị thất bại và bị thực dân Pháp đàn áp dã man. Thân sinh ra ông là cụ Tô Nếp cùng 800 đồng chí bị xỏ dấy kẽm vào lòng bàn tay, đẩy xuống bốn chiếc xà lan, bí mật nhấn chìm vào nửa đêm trên sông Sài Gòn đoạn Xóm Chiếu (5/1941).


Thời điểm cha ông bị sát hại cũng là lúc ông đang bị giam cầm trong nhà tù thực dân phong kiến, sau một cuộc vượt ngục không thành. Chính ông đã tận mắt chứng kiến cảnh thân phụ bị mật thám Pháp tra tấn dã man ở bót Catinat trước khi cụ bị thủ tiêu.


Gan lì, dũng cảm, Tô Ký không những khuất phục được những anh chị giang hồ trong tù mà còn luôn đứng ra hứng chịu đòn khảo tra thay cho đồng chí của mình trong các cuộc đấu tranh trực diện. Bị đày đi căng Tà Lài, một trại giam nằm trong rừng, cách thị trấn Định Quán, Đồng Nai hơn 15 cây số. Thời gian này, ông được làm quen với khá nhiều bạn tù tiếng tăm có thành phần xuất thân khác nhau. Những người cộng sản: Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Văn Nguyễn, Dương Bạch Mai,...Những người thuộc nhóm Tờ-rốt-kít như: Đào Văn Long, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu...Những nhà sư yêu nước: Sư Thiện Chiếu, Huệ Thới...


Ở trong tù ông tham gia vào chi bộ của nhà tù, được học tập kiến thức về Cách mạng tư sản dân quyền, chủ nghĩa Mác Lê-nin, học chữ Hán, tiếng Pháp và một số môn khác.


Một thời gian sau Nam kỳ khởi nghĩa, tháng 3 năm 1941 chi bộ nhà tù tổ chức vượt ngục gồm các ông Trần Văn Giàu, Dương Văn Phúc (Dương Quang Đông), Châu Văn Giác, Trần Văn Kiết (Kiệt), Trương Văn Nhâm, Nguyễn Công Trung, Nguyễn Hoàng Sính (Đức) và ông. Một nhóm chạy về hướng Sài Gòn, còn nhóm của ông (Giàu, Giác, Ký) trốn lên Đà Lạt. Sau 17 ngày thì đến nơi nhưng do Pháp truy nã gắt gao cho nên lại bị bắt lại đưa về Sài Gòn tuyên phạt 6 tháng tù đưa lên căng Bà Rá, một nơi rừng thiêng nước độc sau đó chuyển về khám Tây Ninh.


Nhật đảo chính Pháp (9 tháng 3 năm 1945), ông thuyết phục được lính mã tà giao súng cho tù chính trị rồi cùng mọi người về quê chuẩn bị tham gia khởi nghĩa giành chính quyền. Ông về Gia Định được phân công thành lập và chỉ huy các lực lượng vũ trang địa phương. Ông được cử làm Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy Gia Định kiêm ủy viên Ban cán sự Liên tỉnh miền Đông phụ trách tỉnh Thủ Dầu Một mà chủ yếu là địa bàn quận Lái Thiêu.


Sau khi giành được chính quyền, ông tiếp tục tham gia xây dựng các lực lượng quân sự tỉnh Gia Định, đồng thời tham gia xây dựng chính quyền rộng khắp địa phương, góp phần dàn xếp ổn thoả giữa Việt Minh mới (Tiền Phong) và Việt Minh cũ (Giải Phóng) để đi đến thống nhất. Khi đó, Lâm ủy Hành chính Nam Bộ có ý định phân công ông làm Tỉnh trưởng Gia Định, rồi tỉnh trưởng Thủ Dầu Một nhưng ông từ chối về Hóc Môn nhằm dàn xếp ổn thoả những mối thù oán từ Nam Kỳ khởi nghĩa (1940)-vì khi đó ở đây đang diễn ra nhiều cuộc trả thù.


Thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam (23/9/1945). Ngày 1 tháng 11 năm 1945, Giải phóng quân liên quận Hóc Môn-Bà Điểm-Đức Hòa chính thức được thành lập do ông Hoàng Dư Khương phụ trách sau đó do ông (chỉ huy trưởng) và ông Trần Văn Trà (sau này là Thượng tướng) (chính trị viên) phụ trách và chỉ huy. Giải phóng liên quận là nòng cốt cho Chi đội 12 do ông làm Chi đội trưởng (1946) về sau đổi tên thành Trung đoàn 312 Vệ quốc đoàn.


Khi tướng Nguyễn Bình vâng lệnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ vào thống nhất các lực lượng vũ trang Nam Bộ và được cử làm Tư lệnh Khu 7, ông cùng với các ông Huỳnh Văn Nghệ, Dương Văn Dương được cử làm Phó Tư lệnh, đồng thời là Tư lệnh Đặc khu Sài Gòn-Chợ Lớn (1947-1950). Trên cương vị này ông tận tình giúp tướng Nguyễn Bình thống nhất các lực lượng vũ trang Nam Bộ.


Từ năm 1951 đến năm 1953, ông là Tỉnh đội trưởng, Bí thư Tỉnh ủy Gia Định. Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông làm trưởng ban chuyển quân tập kết khu vực Hàm Tân, Xuyên Mộc; Chủ nhiệm phòng cung cấp Phân liên khu miền Đông Nam Bộ. Ra Bắc trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, bằng uy tín và bản lĩnh của một nhà chỉ huy dày dạn trận mạc, ông đã góp phần ổn định và nâng cao tinh thần cán bộ chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc nóng lòng quay về giải phóng quê hương.


Từ năm 1957 đến năm 1964, ông làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Sư đoàn 338 rồi sau đó là Chánh án Toà án Quân sự Trung ương. Năm 1961, ông được phong quân hàm Thiếu tướng và là vị tướng thứ hai của đất Nam Bộ (sau Thiếu tướng Liệt sĩ Dương Văn Dương) và là hai vị tướng của Mười Tám Thôn vườn trầu (Thiếu tướng Nguyễn Hồng Lâm hay Nguyễn Văn Bứa), một trong tam kiệt của Hóc Môn-Củ Chi (Tô Ký, Nguyễn Hồng Lâm, Hồ Thị Bi-Đại tá).


Từ tháng 6 năm 1967 đến năm 1974, ông là Chính ủy, Bí thư Quân ủy Quân khu Hữu Ngạn. Sau ngày miền Nam giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất ông chuyển ngành về Tổng cục dầu khí (12/1978).


Những năm tháng cuối đời, ông lại cùng với tướng Trần Văn Trà đứng ra tập hợp thành lập và lãnh đạo Hội cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh trên cương vị phó Chủ tịch rồi Chủ tịch. Ông được tín nhiệm bầu làm phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam.


Thiếu tướng Tô Ký ra đi đột ngột vào ngày 17 tháng 2 năm 1999, thọ tám mươi mốt tuổi khi chưa thực hiện trọn vẹn ước mơ lớn cuối đời đó là: một cuốn sách đầy đủ và có hệ thống về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Cuốn sách mà ông đã để tâm nhiều năm, dành nhiều trí tuệ và công sức vào nó.


Bài viết và ảnh: Theo Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam của tác giả Phan Hoàng

huy thanh
29-06-2009, 09:16 PM
http://img522.imageshack.us/img522/9439/thieutuongyblokebanso3.jpg

Thiếu tướng YBlok Eban (1921), nguyên : Chủ tịch Ủy ban Quân quản Đắc Lắc (1975), quyền Tư lệnh Quân khu 6.


Ngoài ra ông từng giữ các chức vụ : Chủ tịch đầu tiên Tỉnh Đắc Lắc, Đại biểu Quốc hội khóa 3 và khóa 4.


Ông được phong quân hàm Thượng tá (1958), Đại tá (1974), Thiếu tướng (1984)

Thiếu tướng YBlok Eban sinh ra tại buôn Chư Dluê, thị xã Buôn Ma Thuột, là con trai út trong một gia đình dân tộc Ê Đê có 7 người con.

Năm ông lên 2 tuổi, cha ông mất, mẹ ông phải phải đưa anh em ông về làm tôi tớ cho một gia đình địa chủ để kiếm sống. Cũng may gia đình chủ không quá khắc nghiệt cho nên lên 11 tuổi ông được cắp sách đi học tiểu học tại trường ở thị xã.

Học hết bậc tiểu học, do khỏe mạnh nên ông bị bắt vào lính khố xanh và sau đó ông được giao làm lính gác ngục tại nhà lao Buôn Ma Thuột. Chế độ nhà tù thực dân phong kiến khắc nghiệt không những với tù nhân mà còn ngay cả với lính người bản xứ đặc biệt là những người lính mới như ông. Năm 1941, mẹ ông qua đời ông cũng không được cho về nhà nhìn mẹ lần cuối và chịu tang mẹ.

Thời gian đó, nhà tù Buôn Ma Thuột giam giữ nhiều tù nhân chính trị là những nhà cách mạng yêu nước bị thực dân và phong kiến giam cầm như ông Nguyễn Văn Vịnh (Đại tướng Nguyễn Chí Thanh), Tố Hữu, Võ Chí Công, Trần Văn Quang (Thượng tướng Trần Văn Quang), Chu (Hồng Chương), Bùi San… Gần gũi và tiếp xúc với họ, ông được họ theo dõi, giáo dục dần dần giác ngộ đến với cách mạng và trở thành cơ sở đáng tin cậy của cách mạng tại nhà tù Buôn Ma Thuột.

Cách mạng tháng 8 bùng nổ, ngày 22/8/1945, ông chỉ huy tiểu đội lính khố xanh (những người được cách mạng giác ngộ) hỗ trợ quần chúng, biến buổi mít tinh chào cờ của chính quyền bù nhìn thân Nhật thành cuộc mít tinh giành lại chính quyền về tay nhân dân thị xã Buôn Ma Thuột.

Cách mạng thành công, ông gia nhập tiểu đoàn du kích N’Trang Lơng bảo vệ quê hương. Năm 1946, ông được cử đi học tại Trường lục quân Quảng Ngãi. Sau khi tốt nghiệp, ông trở thành một cán bộ của Quân đội Nhân dân Việt Nam trên cương vị đại đội trưởng đại đội vũ trang vùng địch hậu lập nhiều chiến công trên mảnh đất quê hương.

Tháng 4 năm 1953, ông được chọn làm đại biểu của đội du kích N’Trang Lơng lên Việt Bắc dự hội nghị toàn quốc về ‘’Chiến tranh du kích’’. Trước khi vào hội nghị, một niềm vinh dự đối với ông là được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ăn cơm chung, trực tiếp dạy bảo và căn dặn.

Sau hội nghị, ông được Trung ương tin tưởng giao cho vận chuyển tiền và vàng vào Liên khu 5 để phục vụ kháng chiến.

Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, ông trưởng thành từ một chiến sĩ cho đến cán bộ đại đội, tiểu đoàn và sau năm 1954 tập kết ra Bắc ông giữ cương vị Trung đoàn trưởng. Năm 1958, trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông được phong quân hàm Thượng tá.

Năm 1960, ông lên đường vào Nam tham gia chiến đấu tại mặt trận Tây Nguyên. Ông từng giữ các chức vụ Phó Tư lệnh rồi quyền Tư lệnh Quân khu 6. Năm 1974, ông được phong quân hàm Đại tá.

Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, ngày 19/3/1975, sau khi quân giải phóng hoàn toàn làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột, ông được cử giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban quân quản Đắc Lắc. Năm 1976, khi tỉnh Đắc Lắc được thành lập, ông được cử giữ chức vụ Chủ tịch tỉnh và là chủ tịch tỉnh đầu tiên sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Trên cương vị mới, với kinh nghiệm vốn có trong hai cuộc kháng chiến cộng với uy tín của mình trong cộng đồng đồng bào dân tộc, ông đã góp phần không nhỏ vào ổn định tình hình kinh tế chính trị vốn rất lộn xộn ở Đắc Lắc nói riêng và Tây Nguyên nói chung sau ngày giải phóng : đập tan tàn quân Ful-rô, âm mưu kích động đồng bào Thượng lập khu tự trị, gây chia rẽ dân tộc…Với những thành tích trong kháng chiến và sau giải phóng, năm 1984, ông được vinh dự phong quân hàm Thiếu tướng và trở thành vị tướng đầu tiên của nhân dân các dân tộc thiểu số Tây Nguyên.

Năm 1986, ông được điều về Bộ Quốc phòng công tác tại Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam cho đến khi nghỉ hưu.

Thiếu tướng YBlok Eban còn là Đại biểu Quốc hội các khóa 3 và 4. Hiện nay, ông là Chủ tịch Hội cựu chiến binh tỉnh Đắc Lắc.

Thiếu tướng YBlok Eban là một trong những người con tiêu biểu của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên, một vị tướng một nhà cách mạng mẫu mực. Với ông chức vị và quyền lực không quan trọng bằng được phục vụ, được cống hiến và được nhân dân tin yêu. Người ta kể lại rằng sau giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột có rất nhiều nhà bỏ hoang vì nhiều lí do khác nhau, cấp dưới nhiều lần gợi ý ông nhưng ông kiên quyết từ chối mà chỉ ở một căn nhà nhỏ bé, cũ kĩ. Căn nhà ông ở hiện nay vốn là do Chủ tịch Võ Chí Công tặng từ năm 1982, vừa mới được cán bộ và chiến sĩ công an tỉnh Đắc Lắc sửa chữa giùm khi căn nhà bị xuống cấp. Thiếu tướng YBlok Eban có bốn người con trai thì có đến ba người con là sĩ quan trong quân đội.

huy thanh
29-06-2009, 09:18 PM
http://img522.imageshack.us/img522/3316/trungtuongnguyenhuuxuyejf3.jpg

Trung tướng Nguyễn Hữu Xuyến (10/1917-2h20’ 4/12/2007), nguyên Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam (1965-1974), nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 9.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Quân kỳ quyết thắng, Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba).

Ông nhập ngũ năm 1945, được phong quân hàm Thiếu tướng 1974, Trung tướng năm 1986.

Trung tướng Nguyễn Hữu Xuyến (bí danh Tám Xuyến thời kháng chiến chống Pháp ; Tám Kiến Quốc hay Việt Hồng thời kì kháng chiến chống Mỹ, ông còn có biệt danh tướng Dên Dên) quê tại xã Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Gia đình ông rất nghèo, cha mẹ ngoài làm ruộng còn làm thêm nghề thủ công nhưng vẫn không đủ sống nên phải dắt nhau vào Nam kiểm kế mưu sinh. Ông được gửi lại quê sống cùng với người anh con ông bác họ và được cắp sách đến trường làng một thời gian ngắn. Ham học, vừa chăn trâu ông vừa cố gắng tìm cách tự học và đọc được nhiều sách như: Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Tam quốc diễn nghĩa, Thủy Hử...

Năm 1930, nghe tin mẹ mất, ông lên tàu vào Sài Gòn. 15 tuổi, ông bắt đầu cuộc đời lang bạt kỳ hồ, khi thì ở Sài Gòn, lúc qua Phnôm Pênh rồi Sa Đéc, Cần Thơ với đủ thứ nghề kiếm sống: sơn guốc, may quần áo, bán hàng, giặt ủi…

Đầu năm 1937, khi đang sống tại Sa Đéc, Nguyễn Hữu Xuyến giác ngộ và tham gia cách mạng. Một thời gian sau, ông làm liên lạc giữa Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và Nam Bộ. Cuối năm 1940, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương tại Sa Đéc.

Cuối năm 1941, do cơ sở bị lộ, ông bị thực dân Pháp phát hiện và bắt đem về bốt Catinat Sài Gòn. Bị đánh đập, tra tấn đến 6 tháng ròng, ông vẫn không khai báo gì về tổ chức. Sau cùng, thực dân Pháp quyết định đày ông ra Côn Đảo tại đây ông được gặp nhiều nhà cách mạng đàn anh nổi tiếng thuộc nhiều đảng phái khác nhau. Tháng 2 năm 1945, ông được thả và tiếp tục hoạt động cách mạng ở Sa Đéc.

Cách mạng tháng Tám thành công, biết ông có tài cũng như kinh nghiệm tổ chức đấu tranh ở Côn Đảo, các bạn tù là ông Phạm Văn Lầu – Chủ tịch tỉnh Sa Đéc, bà Sáu Ngài – Bí thư Tỉnh ủy đề nghị ông tham gia phụ trách công tác quân sự.

Từ năm 1946 đến năm 1951, ông là Chi đội trưởng Chi đội 18 rồi Trung đoàn trưởng và Chỉ huy trưởng Liên trung đoàn 109-111 hoạt động ở khu vực Trà Vinh, Vĩnh Long.

Từ năm 1951 đến năm 1954, ông là Tham mưu trưởng Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ mà tướng Lê Hiến Mai, tức Dương Quốc Chính, làm tư lệnh, tướng Phan Trọng Tuệ làm Chính ủy…suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, ông đã cầm quân tham gia nhiều trận đánh lừng danh ở đây (trận tấn công nhà thờ Cù lao Giêng, chi khu quân sự Gò Quao, tiêu diệt Tiểu đoàn Tidoa - Neon ở Cổ Cò, trận La Bang; rồi cùng chỉ huy các chiến dịch Cầu Kè, Trà Vinh, An Biên - U Minh Thượng …).

Năm 1945, lúc Pháp chưa tái chiếm được Sa Đéc, quân Nhật vẫn đi lại hoành hành tự do. Một số lính Nhật không chịu rút, muốn ở ẩn chờ thời cơ. Trận tấn công nhà thờ Cù lao Giêng có cả quân Nhật lẫn quân Pháp. Lực lượng ta gồm bộ đội, du kích từ ba tỉnh Long Châu Sa bao vây tấn công ba ngày đêm. Địch có hỏa lực mạnh, phòng thủ tương đối chặt. Một số tổ xung kích của ta lọt được vào trung tâm nhà thờ nhưng đều hy sinh. Lực lượng ba tỉnh bị tiêu hao, có đơn vị hết đạn, nên bộ chỉ huy chung mặt trận rút lui. Còn lại ba tư lệnh của ba tỉnh ở ba hướng tấn công, liền họp lại, bầu ban chỉ huy chung thay thế và bàn cách đánh tiếp. Quân ta đưa đội hình áp sát nhà thờ, cho nhiều đội xung kích bắt thang trèo vào bên trong để tấn công, đồng thời kết hợp chiến thuật hỏa công. Do nhà thờ có cấu trúc và bố trí như một cứ điểm lớn, nên nếu chỉ dùng mìn, lựu đạn và sức người thì không thể phá vỡ được. Xăng dầu được đưa vào đốt hành lang nhà thờ, sau năm phút vì sợ bị cháy rụi nên địch kéo cờ trắng ra hàng, ta bắt 20 tên Nhật, 10 tên Pháp thu 100 súng các loại...Đánh chiếm nhà thờ Cù lao Giêng là trận thắng đầu tiên vang dội cả đồng bằng sông Cửu Long.

Năm 1947, tại Sa Đéc ta bắt đầu kiểm soát toàn bộ vùng nông thôn., chuyển mọi hoạt động quân sự sang thế chủ động., tự do về tác chiến. Ngay từ đầu tết âm lịch, ta mở trận giao thông chiến tại Cổ Cò Mỹ Tho, với sự phối hợp của lực lượng hai tỉnh Sa Đéc, Mỹ Tho và toàn bộ học viên trường Quân chính Khu 9. Quân ta phục kích đoạn đường dài 12 cây số, hình thành thế trận: dẫn địch vào sâu khu trung tâm, bao vây nhiều lớp và chặn viện nhiều chặng. Tiểu đoàn Tidoa Neon anh hùng của Pháp thắng Đức trong Thế chiến thứ 2, đã bị tiêu diệt hoàn toàn, với 15 xe cơ giới, trong đó có 8 xe thiết giáp. Viện binh của địch ở 2 đầu đều bị chặn đánh. Cách viện binh từ Sài Gòn xuống phá vỡ tuyến phòng thủ thứ nhất nhưng bị tuyến thứ 2 chặn đứng lại. Trận Cổ Cò là trận giao thông chiến đầu tiên của Nam Bộ và có lẽ là trận giao thông chiến đầu tiên trong cả nước.

Năm 1949, ta và địch ở thế giằng co quyết liệt. Địch hòng quét sạch, đẩy ta ra khỏi từng khu vực. Ta cũng chuyển thế tấn công ở từng vùng để tiến đến giải phóng từng phần. Cuộc chiến diễn ra liên tục, nổi bật là hai trận chống càn vào căn cứ của ta, bằng đường bộ và đường sông. Cho đến cuối năm 49, ta mở chiến dịch Cầu Kè thuộc tỉnh Trà Vinh với mục đích tiêu diệt, bức hàng, bức rút một số đồn bốt ở địa phương và diện viện của địch, đồng thời xây dựng lại tình đoàn kết đang bị chia rẽ giữa người Việt gốc Khmer. Lực lượng gồm 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh phối hợp với lực lượng Liên trung đoàn 109-111cùng tiểu đoàn 307 vừa được tăng cường. Sau 10 ngày, ta bức hành bức rút 20 cứ điểm, đồn bốt và diệt 2 cánh địch viện bằng đường bộ và đường sông, hơn 100 quân Pháp và lính lê dương Ma rốc bị bắt, thu nhiều vũ khí đạn dược. Chiến dịch Cầu Kè là chiến dịch tấn công mở vùng, mở mảng đầu tiên ở Nam Bộ giành thắng lợi.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), ông phụ trách chuyển quân tập kết ra Bắc, đến chuyến cuối cùng thì ông được lệnh ở lại hoạt động bí mật, lãnh đạo và chỉ huy phong trào chiến đấu trong lòng địch. Từ năm 1955 đến năm 1956, ông hoạt động ở miền Tây Nam Bộ cùng tiểu đoàn 307 vừa được tăng cường. Sau 10 ngày, ta bức hàng bức rút 20 cứ điểm, đồn bốt và diệt hai cánh địch viện bằng đường bộ và đường sông, hơn 100 quân Pháp và lính lê dương Ma-rốc bị bắt, thu nhiều vũ khí đạn dược. Chiến dịch Cầu Kè là chiến dịch tấn công mở vùng, mở mảng đầu tiên ở Nam Bộ đã giành thắng lợi.

Tháng 12 năm 1956, căn cứ vào ‘’Đề cương cách mạng miền Nam’’, Xứ ủy Nam Bộ họp thống nhất chủ trương "Do nhu cầu của cách mạng miền Nam, trong một chừng mực nào đó cần phải có lực lượng tự vệ vũ trang tuyên truyền hỗ trợ cho đấu tranh chính trị và tiến tới sau này dùng lực lượng vũ trang đó để làm cách mạng đánh đổ Mỹ Diệm". Và ông được Xứ ủy cử về miền Đông để thực hiện nhiệm vụ thống nhất các lực lượng vũ trang.

Tháng 6 năm 1958, Xứ ủy Nam Bộ thành lập Ban Quân sự và Đảng ủy Lực lượng vũt rang miền Đông Nam Bộ, ông được phân công kiêm nhiệm vụ Trưởng Ban Quân sự miền Đông Nam Bộ. Để hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị, đồng thời giải quyết vấn đề tài chính, lương thực cho lực lượng vũt rang đang phát triển. Ông đã điều động lực lượng vũ trang chia thành 3 mũi tập kích chi khu quân sự Dầu Tiếng. Sau 30 phút nổ súng, bộ đội miền Đông hoàn toàn làm chủ trận địa, diệt 300 tên, bắt sống 200, thu 650 súng các loại, 12 tấn đạn, 5 xe cùng rất nhiều quân trang quân dụng. Chiến thắng Dầu Tiếng gây tiếng vang lớn trên toàn miền Nam. Lần đầu tiên sau năm 1954, lực lượng vũ trang miền Đông đã iêu diệt một căn cứ quân sự cấp quận. Chiến thắng Dầu Tiếng khai thông liên lạc giữa cắn cứ Đông và Tây, đồng thời tạo điều kiện cho Xứ ủy về đứng chân ở vùng căn cứ miền Đông để chỉ đạo phong trào cách mạng.

Đáp lại việc chính quyền Ngô Đình Diệm theo luật 10/59 lê máy chém khắp miền Nam lùng bắt những người Cộng sản, trả thù những người theo kháng chiến. Cuối năm 1959, Ban Quân sự miền Đông Nam Bộ do ông phụ trách, quyết định phối hợp với thị ủy Biên Hòa tấn công vào sào huyệt của cố vấn quân sự trong phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ đóng tại Nhà Xanh, Biên Hòa. Trận đột kích đã diệt 2 và làm bị thương 11 cố vấn Mỹ. Đây là trận diệt Mỹ đầu tiên ở miền Nam.

Đầu năm 1960, Trung ương ban hành Nghị quyết 15 chỉ rõ : "Con đường phát triển cơ bản của Cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân". Nguyễn Hữu Xuyến khi đó đã đổi tên là Tám Kiến Quốc, quyết định chọn Tua Hai làm mục tiêu cho trận đánh lớn mở màn và trận Tua Hai vẫn được gọi là ‘’Khúc dạo đầu’’ của Nghị quyết 15. Trước tầm quan trọng của trận đánh, ông trực tiếp chỉ huy. Trận đánh thắng lợi giòn giã, bộ đội miền Đông mang về Chiến khu Đ đến gần 1500 khẩu súng các loại. Các nhà bình luận quân sự cho rằng: Chiến thắng Tua hai như sấm sét mở đầu phá tan đêm tối ở miền Nam - là sự kiện nổi bật có ý nghĩa về quân sự và chính trị trong toàn miền, làm dấy lên phong trào đồng khởi long trời lở đất ở miền Nam, mở đầu một giai đoạn mới của cuộc đấu tranh chống Mỹ.

Tháng 1 năm 1961, Trung ương quyết định thành lập Trung ương Cục để chỉ đạo phong trào cách mạng ở Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Tháng 2 năm 1961, trung ương Cục do ông Nguyễn Văn Linh làm Bí thư về xây dựng căn cứ tại Suối Linh (Chiến khu Đ). Khu ủy miền Đông được thành lập do ông Mai Chí Thọ làm Bí thư và ông là Tư lệnh các Lực lượng vũ trang giải phóng miền Đông Nam Bộ.

Nhưng không dừng lại ở đó vào tháng 9-1961, chỉ huy trưởng Tám Kiến Quốc lại cùng các chỉ huy Nguyễn Việt Hồng, Đặng Ngọc Sĩ, Đặng Hữu Thuấn, mở 3 mũi tiến công vào tỉnh lỵ Phước Thành. Tỉnh lỵ Phước Thành là một đặc khu mới xây dựng của địch lúc ấy, đế chế áp cách mạng ở Chiến khu Đ và vùng rừng núi miền Đông. Ta sử dụng ba tiểu đoàn cộng ba đại đội để tấn công chặn viện. Ta dùng chiến thuật kỳ tập bằng đặc công tiến trước và kết hợp chiến thuật tập kích tấn công của các tiểu đoàn tiếp theo, hình thành thế tấn công và năm khu vực bằng năm cánh quân hợp vây, chia cắt địch ra từng mảnh ngay từ đầu để chúng không kịp ứng cứu cho nhau được, mà trọng điểm là khu vực cơ quan đầu não của tỉnh. Trận đánh mang yếu tố bất ngờ, bí mật chỉ sau 2 giờ, ta đã làm chủ toàn bộ tỉnh lỵ Phước Thành, bắt sống tỉnh phó, giải thoát bốn trăm tù chính trị, tiêu diệt và bắt gọn hơn 1000 địch của 3 tiểu đoàn bảo an, 1 tiểu đoàn cộng hòa, 1 tiểu đoàn công an, thu toàn bộ vũ khí trong đó có cả xe thiết giáp và pháo 105. Quân tiếp viện của địch ở các hướng bị đẩy lùi. Về sau dùng máy bay yểm trợ chiếm lại, nhưng địch phải bỏ hẳn tỉnh lỵ, xóa tên tỉnh này khỏi bản đồ hành chính. Trận đánh có tác động rất lớn ở miền Đông. Nó gây hoang mang dao động dây chuyền đối với địch. Quân ta tiếp tục khuếch trương chiến quả, bao vây uy hiếp các đơn vị của địch ven rừng, đánh chiến và bức rút hàng chục đồn bốt và chi khu, phá các ấp chiến lược, giải phóng hàng chục ngàn dân, mở rộng vùng giải phóng.

Chiến thắng Phước Thành làm nức lòng quân, dân miền Nam, đồng thời đánh dấu bước trưởng thành của bộ đội chủ lực miền Đông cũng như của địa phương trong việc phối hợp tác chiến, Tướng Westmoreland - Tổng chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt Nam đã phải thú nhận: "Mùa thu 1961 đã chứng kiến một bước ngoặt rõ rệt trong cuộc tiến công của Việt Cộng, lần đầu tiên họ tạm thời chiếm được tỉnh lỵ Phước Thành" (Trích hồi ký "Tường trình của một quân nhân"). Lầu năm góc Mỹ cũng xác định trong một tài liệu: Trận tiến công lớn nhất đã có tác dụng làm cho Sài Gòn nhốn nháo là trận đánh chiếm Phước Thành - một tỉnh lỵ cách Sài Gòn 55km...

Từ năm 1963 đến 1965, ông được cử đi học ở Trung Quốc. Từ năm 1965 đến năm 1974, ông là Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tháng 6 năm 1974, ông được điều về công tác tại Bộ Quốc phòng làm thường trực Ban chỉ đạo Quân sự miền Nam (gồm có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Văn Tiến Dũng và một số cán bộ quân sự khác). Tháng 2 năm 1977, ông được cử giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân khu 9.

huy thanh
29-06-2009, 09:21 PM
http://img255.imageshack.us/img255/3177/daitaphamngocthaoou6.jpg

Đại tá Phạm Ngọc Thảo (1922-1965), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, nguyên Phó Phòng Mật vụ Ban Quân sự Nam Bộ.


‘’Các nhà tình báo thông thường có nhiệm vụ giấu mình, thu thập, khai thác tin tức chuyển về trung tâm. Riêng Phạm Ngọc Thảo đi thẳng vào hàng ngũ kẻ thù, tung hoành hoạt động vì Tổ quốc cho tới tận lúc hy sinh, trường kỳ mai phục và “độc lập tác chiến”. Anh là nhà tình báo có một không hai’’ (Nhà báo Trần Bạch Đằng, nguyên Phó Ban tuyên huấn Trung ương cục miền Nam).

‘’Anh Phạm Ngọc Thảo đã nhận một nhiệm vụ đặc biệt, chưa từng có “tiền lệ” trong công tác cách mạng của chúng ta” (Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt)Phạm Ngọc Thảo sinh năm 1922, là con thứ tám trong một gia đình giàu có nhất nhì đồng bằng sông Cửu Long, công giáo ba đời rất mực yêu nước. Ông sinh tại Sài Gòn nhưng nguyên quán lại ở Bến Tre.

Cha ông, Adrian Phạm Ngọc Thuần có tới hơn 4000 mẫu đất và gần 1000 căn nhà rải rác ở khắp các tỉnh Cần Thơ, Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá, Sa Đéc, Vĩnh Long. Ông Thuần có quốc tịch Pháp nên các con đều được sang Pháp học. Con trai cả Gaston Phạm Ngọc Thuần, qua Pháp học từ lúc 6 tuổi, đậu cử nhân Luật về nước theo cách mạng làm tới Phó Chủ tịch uỷ ban kháng chiến Nam Bộ. Con thứ 7 Phạm Ngọc Hùng học ở Pháp, lấy vợ Pháp rồi về Việt Nam ra chiến khu chiến đấu, làm Uỷ viên Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam.

Trong gia đình, chỉ riêng ông không sang Pháp du học do thế chiến thứ hai xảy ra. Lúc nhỏ ông theo học tại một trường tư nổi tiếng ở Sài Gòn, trường trung học công giáo Taberd.Tốt nghiệp trường Kỹ sư công chánh ở Hà Nội, khi Pháp bội ước quay lại xâm chiếm Việt Nam, ông tuyên bố huỷ bỏ quốc tịch Pháp của mình và đi theo cách mạng, làm việc ở Văn phòng Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ.

Năm 1946, trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, trường sỹ quan đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam được thành lập để đào tạo cán bộ quân sự chuẩn bị cho kháng chiến. Ông cùng 12 chiến sỹ Nam Bộ khác được cử ra Sơn Tây học tập. Tốt nghiệp khoá học, ông được điều về Phú Yên nhận nhiệm vụ làm giao liên. Lúc này Trung ương đang cử nhiều đoàn cán bộ vào tăng cường cho miền Nam. Trong thời gian này, ông đã làm nhiệm vụ đưa ông Lê Duẩn (sau này là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam) vào Nam chỉ đạo kháng chiến an toàn bằng con đường công khai.

Sau đó, ông được trên tin cậy giao chức Trưởng phòng mật vụ Ban quân sự Nam Bộ – tổ chức tình báo đầu tiên của cách mạng ở Nam Bộ. Rồi được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 410(Quân khu 9) (có tài liệu nói là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 307 Quân khu 8, chi tiết này không đúng). Năm 1954, ônh được điều ra Bắc và được đích thân ông Lê Duẩn giao nhiệm vụ trở về Nam hoạt động trong lòng địch.

Trở về miền Nam, ông làm nghề dạy học tại một số trường tư thục Sài Gòn. Vì không chịu ký tên vào giấy “hồi chánh” nên ông đã bị mật vụ Pháp (do Mai Hữu Xuân cầm đầu) vây bắt mấy lần, nhưng ông đều trốn thoát. Cuối cùng ông về Vĩnh Long dạy học để dễ dàng xâm nhập vào hàng ngũ địch. Vì vùng đất này thuộc địa phận của giám mục Ngô Đình Thục (anh trai của Ngô Đình Diệm). Gia đình ông vốn theo Thiên chúa giáo lâu đời, thân thiết với giám mục Ngô Đình Thục. Giám mục Ngô Đình Thục rất quý mến ông vì đã từng làm lễ rửa tội cho ông và coi ông như con nuôi. Nhờ chính sách “đả thực bài phong”, của Ngô Đình Diệm, ông được Ngô Đình Thục giới thiệu với anh em Diệm – Nhu. Ông khôn khéo công khai hết nguồn gốc của mình, kể cả chức tiểu đoàn trưởng cũ, chỉ trừ một điều: mình là Đảng viên Đảng CSVN. Được bảo đảm về chính trị, ông đã cùng vợ con trở lại Sài Gòn sinh sống.

Đầu năm 1956, ông làm việc tại Ngân hàng quốc gia Sài Gòn. Tháng 5 năm 1956 được sự giới thiệu của Huỳnh Văn Lang, Tổng giám đốc Viện Hối đoái và Bí thư Liên kỳ bộ Nam Bắc Việt của đảng Cần Lao, Phạm Ngọc Thảo được cử đi học khóa huấn luyện tại trung tâm Nhân vị tại Vĩnh Long. Và sau đó (tháng 10 năm 1956) ông gia nhập đảng Cần Lao. Sau khi gia nhập đảng Cần Lao, ông phụ trách tổ quân sự, giữ nhiệm vụ nghiên cứu về chiến lược và chiến thuật quân sự và huấn luyện quân sự cho các đảng viên Cần Lao. Tháng 1 năm 1957 Phạm Ngọc Thảo tham gia biên tập bán nguyệt san Bách Khoa - tạp chí của một nhóm trí thức đảng Cần Lao. Sau đó được Ngô Đình Diệm đưa sang ngạch quân sự với cấp bậc đại úy đồng hóa trong quân đội Sài Gòn. Tuy nhiên đây chỉ là những chức vụ ‘’hữu danh vô thực’’ vì Diệm-Nhu khi đó chưa thực sự tin tưởng cũng như chưa nhận thấy hết khả năng của ông.

Thời gian này ông đã biết sử dụng vốn binh pháp Tôn Tử mà ông Hoàng Đạo Thuý từng dạy ở Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn để viết báo. Thời gian này, ông cộng tác với tạp chí Bách khoa. Chỉ trong hơn một năm, ông đã viết 20 bài báo nói về các vấn đề chiến lược, chiến thuật, nghệ thuật chỉ huy, huấn luyện quân sự, phân tích binh pháp Tôn Tử, Trần Hưng Đạo.... Những bài báo đó đã được giới quân sự chú ý và Diệm – Nhu đề cao “tầm” của ông. Năm 1957, ông được điều về làm việc tại Phòng Nghiên cứu chính trị của Phủ tổng thống với hàm thiếu tá. Ông rất được Ngô Đình Diệm tin dùng trong lĩnh vực chính trị, tình báo và an ninh nội bộ. Từ đó, ông lần lượt giữ các chức vụ tỉnh đoàn trưởng tỉnh đoàn bảo an Vĩnh Long, rồi chỉ huy trưởng bảo an tỉnh Bình Dương.

Năm 1960, sau khi học một khóa chỉ huy và tham mưu ở Trường võ bị Đà Lạt, Phạm Ngọc Thảo được thăng thiếu tá và được cử làm Thanh tra Khu Trù Mật. Đầu những năm 60, trước cao trào đồng khởi ở Bến Tre, Diệm đã cử ông giữ chức tỉnh trưởng tỉnh này (khi ấy là tỉnh Kiến Hòa) với cấp bậc trung tá và muốn trắc nghiệm chương trình bình định. Sau khi nhậm chức, tình hình Bến Tre trở lên yên ổn hơn, ông quyết định thả ngay hơn 2000 tù nhân đang bị giam giữ, liên lạc với bà Nguyễn Thị Định, tạo điều kiện cho khởi nghĩa Bến Tre bùng nổ. Chính sách không cho binh lính đàn áp dân chúng tuỳ tiện của ông đã “bật đèn xanh” cho phong trào “đồng khởi”. Tiếp đó, có dư luận nghi ngờ ông là cộng sản nằm vùng. Nhưng Diệm-Nhu lại cho rằng ông còn “non nớt”, thiếu kinh nghiệm nên chuyển anh sang Mỹ học tập tại Trường sĩ quan tham mưu (Command and General Staff College ở bang Kansas). Từ đó Bến Tre lại tiếp tục ‘’mất an ninh.

Năm 1961, ông về nước được cử giữ chức Tham vụ chuyên môn Phủ tổng thống, đặc trách về vấn đề Thanh tra và ấp chiến lược. Ông được giới tướng lĩnh rất quý mến vì sự thông minh, lịch thiệp, phóng khoáng, giao du rộng…

Tháng 9 năm 1963, Trần Kim Tuyến nguyên Giám đốc Sở Nghiên cứu chính trị (thực chất là phòng mật vụ) và ông âm mưu một cuộc đảo chính. Phạm Ngọc Thảo đã kêu gọi được một số đơn vị như Quân đoàn 3, Quân đoàn 4, Biệt động quân, Bảo an... sẵn sàng tham gia. Tuy nhiên cuộc đảo chính không thành công, vì ngày 6 tháng 9 năm 1963, Ngô Đình Diệm đã cử Trần Kim Tuyến đi làm Tổng lãnh sự tại Ai Cập.

Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ ngày 1 tháng 11 năm 1963, mọi sĩ quan đều được phong chức riêng ông không được phong chức gì vì lí do chưa qua trường lớp, để lôi kéo ông về phía mình Mỹ đề nghị cho ông san Mỹ học trường võ bị cao cấp.

Thời điểm này tại Sài Gòn liên tục diễn ra các cuộc đảo chính. Học xong về nước đúng vào thời điểm Nguyễn Khánh đảo chính thành công. Nhưng Nguyễn Khánh chỉ là người võ biền, học vấn không cao, nhiều lần không trả lời nổi những chất vấn của quần chúng biểu tình. Ông về , Nguyễn Khánh bèn tận dụng tài nói, viết của ông, phong ngay hàm Đại tá và giao cho anh trọng trách là phát ngôn viên Chính phủ, Tuỳ viên báo chí của Nguyễn Khánh.

Ngày 13/9/1964, ông tham gia tổ chức cuộc đảo chính lật đổ Nguyễn Khánh. Nhưng do nhiều lí do, cuộc đảo chính thất bại. Ông phải đi Mỹ làm tùy viên quân sự. Đầu năm 1965, Phạm Ngọc Thảo bị gọi về nước vì chính quyền Sài Gòn đã nghi ngờ, muốn bắt ông. Vì vậy, ông đã đào nhiệm và bí mật liên lạc với các lực lượng đối lập khác như Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát để tổ chức đảo chính ở Sài Gòn và vì một lí do vô cùng quan trọng. Theo một tài liệu mà ông nắm được, Mỹ và Nguyễn Khánh đã thoả thuận sẽ ném bom xuống miền Bắc vào 20/2/1965, vì vậy cuộc đảo chính sẽ tiến hành đúng ngày 19/2.

Ngày 19 tháng 2 năm 1965, đảo chính nổ ra, mặc dù đang bị truy bắt gắt gao ông vẫn cùng Lâm Văn Phát đem quân và xe tăng vào chiếm trại Lê Văn Duyệt, đài phát thanh Sài Gòn, bến Bạch Đằng và sân bay Tân Sơn Nhất. Nhưng chỉ làm chủ đài phát thanh trong một thời gian ngắn, rồi bị dập tắt xong cũng làm Nguyễn Khánh đào thoát bằng máy bay ra Vũng Tàu. Tuy nhiên cuộc đảo chính này cũng làm Nguyễn Khánh mất chức, phải ra nước ngoài làm đại sứ lưu động. Đồng thời kí kết giữa Nguyễn Khánh về việc đổ thêm quân vào miền Nam và đánh bom miền Bắc không thành công.

Chính quyền miền Nam rơi vào tay nhóm tướng lĩnh khác, ông phải rút lui vào hoạt động bí mật. Nhưng ông tiếp tục chuẩn bị tư tưởng cho các hoạt động cách mạng bằng cách xuất bản tờ báo “Việt Tiến”, mỗi ngày phát hành trên 50.000 tờ, tuyên truyền tinh thần yêu nước, vạch trần âm mưu của Mỹ – Nguỵ. Ông có cả một hàng rào bảo vệ rộng lớn từ các xứ đạo Biên Hoà tới Hố Nai, Thủ Đức, Sài Gòn; có nhiều linh mục giúp đỡ in ấn, phát hành tờ Việt Tiến. Lúc này, ông bị chính quyền Kỳ – Thiệu kết án tử hình quyết tâm trừ khử vì thấy rõ tầm nguy hiểm của ông, người ta treo giải 3 triệu đồng cho ai bắt được nhưng vẫn liên lạc với cơ sở cách mạng trực tiếp là ông Sáu Dân (Võ Văn Kiệt) để hoạt động tiếp.

Trước tình hình đó, ông Võ Văn Kiệt có đề nghị đưa ông ra chiến khu nhưng ông nói vẫn còn khả năng tổ chức đảo chính khác, vẫn còn khả năng thành công vì ông muốn ngăn chặn việc quân Mỹ tăng quân ồ ạt vào miền Nam cuối tháng 5 năm 1965. Đại sứ quán Mỹ cũng đề nghị đưa ông ra nước ngoài nhưng ông từ chối.

Phạm Ngọc Thảo phải trốn nhiều nơi, cuối cùng đến trốn trong Đan viện Phước Lý ở xã Vĩnh Thanh, huyện Nhơn Trạch, Biên Hòa. Cuối cùng nơi trú ẩn này cũng bị lộ. Lúc 3 giờ sáng ngày 16 tháng 7 năm 1965, khi ông vừa ra khỏi Đan viện Phước Lý thì bị phục sẵn bắt rồi đưa về một cái suối nhỏ gần Tam Hiệp, Biên Hòa, để thủ tiêu. Sợ ông chạy trốn nên anh ninh quân đội ngụy nổ súng luôn. Nhưng viên đạn xuyên xuống hàm làm ông gẫy mất mấy cái răng, ngã vật ra. Vừa lúc có tiếng những người công nhân đi cạo mủ cao su, an ninh quân đội ngụy sợ lộ bèn quay xe bỏ chạy.

Tỉnh dậy, ông cố lết về một nhà thờ. Sau khi được linh mục Cường cứu sống, ông chủ động xin chuyển tới chỗ khác phòng khi an ninh quân đội tới truy tìm. Nhưng sau ông vẫn bị phát hiện và bị bắt anh về giam tại Cục an ninh quân đội ngụy, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tại đây, chúng đã dùng những thủ đoạn tra tấn anh hết sức dã man như: dùng cây nhọn xoáy vào vết thương, đánh đập, tra điện. Thế nhưng khi được hỏi : “Nếu được tự do Đại tá sẽ làm gì?”. Ông hiên ngang trả lời: “Tôi sẽ tiếp tục sứ mạng cho tơí lúc thành công”.

Bị đánh đập dã man, không nói được nhưng ông vẫn dùng bút viết ra giấy những lời đanh thép lên án chúng như: “Chúng mày biết tao là Việt cộng thì đừng bao giờ hi vọng tao khai. Một là sống, hai là chết, tao vẫn tiếp tục con đường của tao...”. Vì cay cú, Nguyễn Ngọc Loan đã dùng cả hành vi bẩn thỉu, đê hèn tra tấn với dã tâm để ông chết rồi bí mật mang chôn giấu tại nghĩa trang quân sự Gò Vấp với tấm bảng ghi “Mộ vô danh”.

Ngày 18/7/1965, các báo chí Sài Gòn đăng tin đại tá Phạm Ngọc Thảo chết vì bị thương trong một tai nạn giao thông. Nguỵ quyền Sài Gòn sau khi biết ông là cộng sản đã gọi ông là “vua đảo chánh” với nỗi khiếp sợ. Tướng 4 sao Oét-mô-len, Tổng chỉ huy quân đội Mỹ ở miền Nam trong hồi ký đã gọi Phạm Ngọc Thảo là một nhà “cách mạng chuyên nghiệp”.

Năm 1987, ông được Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam truy tặng anh danh hiệu cao quý: Anh hùng LLVTND. Hiện nay, mộ Phạm Ngọc Thảo được đưa về nghĩa trang TP.HCM, trên đồi Lạc Cảnh(huyện Thủ Đức). Mộ ông nằm cạnh mộ những tên tuổi nổi tiếng như Lưu Hữu Phước, Phạm NgọcThạch, Can Trường...

Trong cuộc trường chinh giải phóng dân tộc Việt Nam, người xứng đáng được coi là "nhà tình báo vĩ đại nhất". Có thể so sánh với Rihard Gioorgie, Kim Filby của Liên Xô không phải Vũ Ngọc Nhạ hay Phạm Xuân Ẩn mà chính là nhà tình báo chiến lược, Đại tá Anh hùng QDNDVN Phạm Ngọc Thảo. Ông chính là nguyên mẫu của nhân vật Nguyễn Thành Luân trong tiểu thuyết nổi tiếng Ván Bài Lật Ngửa.

Có 3 đặc điểm lớn để có thể xác định Đại tá Phạm Ngọc Thảo là nhà tình báo vĩ đại nhất của Việt Nam trong thế kỷ 20:

Khác với Vũ Ngọc Nhạ và Phạm Xuân Ẩn, Phạm Ngọc Thảo là người duy nhất có thể tác động trực tiếp đến chính quyền Sài Gòn . Là sỹ quan cao cấp trong quân đội ngụy lai có lực lượng trong tay, ông chính là người đã trực tiếp đạo diễn và tham gia chỉ đạo hàng loạt vụ đảo chính làm rung chuyển nền chính trị Miền Nam những năm 64-65, gây mất ổn định nghiêm trọng chế độ Sài Gòn, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng miền Nam. Nếu cuộc đảo chính với Lâm Văn Phát gạt Nguyễn Khánh năm 1964 thành công, Phạm Ngọc Thảo trở thành thủ tướng chính quyền Sài Gòn thì lịch sử có thể đã có những thay đổi lớn.

Khác với Vũ Ngọc Nhạ và Phạm Xuân Ẩn, Phạm Ngọc Thảo là nhà tình báo hoạt động đơn tuyến, không hề có đồng đội trực tiếp hỗ trợ mà chỉ chịu sự chỉ đạo về chiến lược của Bác Hồ và Tổng Bí thư Lê Duẩn . Ông không làm công tác đưa tin đơn thuần mà lớn hơn là được giao nhiệm vụ "thay đổi chế độ tại miền Nam" (tương tự như mục tiêu regime change của Mỹ tại I-rắc, nhưng nếu như Mỹ phải dùng đến hàng chục vạn quân thì ta chỉ dùng 1 mình Phạm Ngọc Thảo và ở chừng mực nào đấy đã thành công). Sự nguy hiểm của Phạm Ngọc Thảo đối với tồn vong của chế độ miền Nam lý giải tại sao chính quyền Thiệu-Kỳ phải quyết bằng mọi giá thủ tiêu ông.

Ông là một con người cực kỳ dũng cảm và tài năng. Mỹ đã từng chọn ông để đào tạo trở thành Tổng thống tương lai của chính quyền Sài Gòn, đến khi nguy hiểm đã cận kề dù ông Võ Văn Kiệt khuyên ông có thể ra căn cứ nhưng ông vẫn quyết tâm ở lại để tổ chức vụ đảo chính cuối cùng. Việc lớn không thành, bị bắt và tra tấn dã man nhưng Phạm Ngọc Thảo vẫn không để lộ tung tích của mình. Cho đến lúc hy sinh, không ai biết ông là một chiến sỹ tình báo của ta. Nghe tin ông hy sinh, Bác Hồ và ông Lê Duẩn đã khóc. Sau này, trong dòng đề tựa trong cuốn Ván Bài Lật Ngửa, nhà văn Trần Bạch Đằng đã trân trọng viết "Tưởng nhớ anh Chín T. và những người đã chiến đấu hy sinh thầm lặng".

Bài viết : Theo báo Quân đội Nhân dân, Báo Công an Nhân dân, Trang tin điện tử Bến Tre

huy thanh
29-06-2009, 09:23 PM
http://img522.imageshack.us/img522/3100/thuongtuongtrannamtrungqt8.jpg

Thượng tướng Trần Nam Trung (1912), nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Chính ủy Khu 5, Xứ ủy viên Xứ ủy Trung Bộ phụ trách quân sự. Ông còn là Bộ trưởng Quốc phòng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Ngoài ra ông từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Ủy ban thanh tra chính phủ, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Liên khu ủy Khu 5, Bí thư tỉnh ủy Quảng Ngãi và Bình Định. Ông là Đại biểu Quốc hội khóa 6.

Trung tướng (1961), Thượng tướng (1974)

Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh…

Thượng tướng Trần Nam Trung tên thật là Trần Khuy, ngoài ra ông còn có tên khác là Trần Lương quê ơ xã Đức Thạnh, huyện Mộ Đức cùng quê với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Quảng Ngãi quê ông là một trong những mảnh đất địa linh đã sản sinh nhiều nhân kiệt cho đất nước. Từ nơi đây, Trương Định đã được sinh ra và lớn lên trước khi trở thành người anh hùng vũng vẫy sông nước Cửu Long, được nhân dân tôn vinh Bình Tây đại nguyên soái. Quê hương núi Ấn sông Trà còn là nơi chôn rau cắt rốn của nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng, các tướng lĩnh Nguyễn Chánh, Trần Văn Trà, Phạm Kiệt, Nguyễn Đôn…

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì ông sinh năm 1912, nhưng theo lời ông mà tác giả Phan Hoàng ghi lại trong cuốn Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam thì ông tuổi Giáp Dần tức sinh năm 1914, đây là năm sinh của rất nhiều tướng lĩnh nổi tiếng của quân đội như : Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Tướng Nguyễn Chánh, Đại tướng Lê Trọng Tấn, Tướng Huỳnh Văn Nghệ…

Gia đình ông vốn xưa làm nghề nông. Cha ông là một nông dân có chút học thức và am hiểu về lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Dòng họ Trần của ông vốn di cư từ Nghệ An vào. Mẹ ông là con gái nhà giàu ở miền Trung du.

Sau khi đậu Sơ học yếu lược, ông lên trường tỉnh học. Nhưng rồi cha ông quyết định đưa ông về quê thuê thày dạy chữ Nho, mong giữ gia phong sợ bị Tây hóa. Chính thầy giáo dậy chữ nho có nhiều ảnh hưởng tới ông khi dạy văn thơ yêu nước của các chí sĩ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và phong trào Đông Kinh nghĩa thục.

Nhờ tác động mạnh mẽ của Tổ chức Thanh niên cách mạng đồng chí hội, qua sự dìu dắt giới thiệu của người anh họ là Trần Cừ, năm 17 tuổi ông tham gia Liên đoàn Cộng sản đảng ở Nghệ An, về sau đổi thành tổ chức An Nam cộng sản đảng. Từ đó ông dấn thân vào con đường cách mạng, từ năm 1931 đến năm 1943, ông đã nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam, trải qua nhiều tra tấn và ngục tù. Thời gian ở Buôn Ma Thuột, ông ở tù chung với các ông Tố Hữu, Nguyễn Chí Thanh.

Sau khi được tự do, ông trở về Quảng Ngãi tham gia thành lập Ủy ban vận động cứu quốc tỉnh Quảng Ngãi và hoạt động ở khu căn cứ Ba Tơ, một huyện miền núi ở miền Tây tỉnh Quảng Ngãi. Thời gian này ông lấy bí danh Trần Lương (theo gợi ý của mọi người vì ông thời trẻ mập mạp, mỗi lần cười híp cả mắt lại như mắt lươn) để hoạt động.

Ngày 11 tháng 3 năm 1945, khởi nghĩa Ba Tô nổ ra. Đây là một đồn lính khố xanh do một viên quan tư Pháp chỉ huy, một nha kiểm lý và một căng an trí cho những người cách mạng. Cán bộ nòng cốt của cuộc khởi nghĩa gồm các ông Trương Quang Giao, Nguyễn Chánh, Trần Quý Hai, Nguyễn Đôn, Phạm Kiệt…và ông. Kết quả là đội du kích Ba Tơ ra đời, đây là tiền thân của lực lượng vũ trang nhân dân khu 5 và Tây Nguyên sau này. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa tác động mạnh đến phong trào đấu tranh chống Nhật vừa thay chân Pháp ở Tây Nguyên và Nam Trung Bộ. Trong cách mạng tháng 8 năm 1945, lực lượng du kích Ba Tơ là nòng cốt chủ yếu hỗ trợ đồng bào nổi dậy giành chính quyền.

Sau khởi nghĩa Ba Tơ thành công, ông được phân công giữ chức vụ Bí thư tỉnh ủy Quảng Ngãi và Bình Định. Cách mạng tháng 8 thành công, từ 9/1945 đến 1946, ông giữ chức vụ Xứ ủy viên Xứ ủy Trung Kỳ phụ trách quân sự.

Tháng 9 năm 1946 ông được cử giữ chức vụ Chính ủy Liên khu 5. Năm 1951, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh bị bệnh nặng, Trung ương gọi ông ra làm Phó chủ nhiệm thường trực để giúp đỡ ông Nguyễn Chí Thanh. Ông là trợ thủ đắc lực góp phần xây dựng Bộ thống soái của quân đội vững mạnh, trực tiếp vận động và chỉ huy việc cung cấp lương thực thực phẩm cho Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Tháng 3 năm 1955, ông Trương Quang Giao khi đó là bí thư Liên khu ủy bị bệnh nặng, ông được Trung ương điều từ Tổng cục chính trị vào làm Bí thư Liên khu 5. Đồng thời ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 2. Thời kì đó là thời kì Ngô Đình Diệm được Mỹ hậu thuẫn lên thay Bảo Đại nhằm khẳng định sự có mặt của Mỹ ở miền Nam Việt Nam thay thế Pháp. Với sự cố vấn của Mỹ, Ngô Đình Diệm đã tiến hành chiến dịch tố cộng khắp miền Nam. Hàng vạn người tham gia kháng chiến đã bị bắt bớ, tra tấn, tù đày bắn giết bởi Luật 10/59. Thời kì này ở Nam Trung Bộ cách mạng bị tổn thất nặng nề. Bốn mươi phần trăm tỉnh ủy viên, sáu mươi phần trăm huyện ủy viên bị tù đày và hy sinh. Thời kì này ông là một trong những nhân vật chủ chốt, góp phần quan trọng bảo vệ và phát triển lực lượng cách mạng miền Trung. Nhiều lãnh đạo và tướng lĩnh đã trưởng thành từ đây.

Trước tình hình mới của cách mạng miền Nam, năm 1959, ông được điều vào chiến trường miền Nam tham gia tổ chức Xứ ủy Nam bộ lại thành Trung ương cục miền Nam. Sau đó ông ra Bắc công tác và được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng khóa 3.

Tháng 5 năm 1961, ông trở vào Nam lần 2 với bí danh Trần Nam Trung cùng đoàn Phương Đông 1 do ông Trần Văn Quang làm trưởng đoàn, ông làm Chính ủy vượt Trường Sơn. Ông trực tiếp lo tổ chức, xây dựng Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, tập hợp các trí thức yêu nước khác nhau, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân đánh Mỹ, do luật sư Nguyễn Hữu Thọ đứng đầu. Ông là Ủy viên thường vụ Trung ương cục, phụ trách Bộ quốc phòng trong Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Thời kì đó miền Nam chưa có bộ đội chủ lực, vai trò chủ yếu của Bộ quốc phòng là lãnh đạo phong trào du kích và đấu tranh quần chúng.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, tháng 9 năm 1973, ông thay mặt Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đón chủ tịch Fidel từ Hà Nội vào thăm vùng đất mới giải phóng Quảng Trị.

Đất nước hoàn toàn thống nhất, sau hiệp thương tổng tuyển cử, ông được đề nghị phụ trách một bộ trong Chính phủ nhưng từ chối vì lí do ông chỉ quen đánh trận và làm công tác dân vận. Sau đó, ông thực hiện nhiều chuyến đi đến các quốc gia trên thế giới từng giúp đỡ Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến để cảm ơn.

Năm 1976, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Chính phủ cho đến khi nghỉ hưu (1982).

Gương mặt phúc hậu. Trán rộng, mắt nhỏ (mắt lươn) và sáng, phong cách điềm đạm, chân chất, nhiệt thành nhưng không mất đi vẻ oai phong của một vị tướng. Hai Hậu-Trần Nam Trung là cái tên quen thuộc nhất là với nhân dân miền Nam và đối phương trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cuộc đời chiến đấu của ông phần lớn gắn liền với chiến trường Nam Trung Bộ. Từng là trợ thủ đắc lực của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, góp phần xây dựng bộ thống soái của quân đội vững mạnh, rồi lại sát cánh cùng tướng Nguyễn Chí Thanh ở miền Nam, ông là ủy viên Trung ương Đảng góp phần lãnh đạo Trung ương cục, Quân ủy miền và các lực lượng vũ trang từng bước hoàn thành sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước.

Bài viết: theo Phỏng vấn tướng lĩnh của tác giả Phan Hoàng, Bách khoa toàn thư Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 09:27 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Doan-Khue.jpg

Đại tướng Đoàn Khuê (29/10/1923-16/01/1999), nguyên : Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ; Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương ; Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam ; Tư lệnh Bộ Tư lệnh 719 ; Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5 ; Phó Chính ủy Quân khu 4 ; Chính trị viên, Bí thư đảng ủy Trường lục quân Quảng Ngãi.

Ngoài ra ông còn từng giữ các chức vụ : Đại biểu quốc hội (khóa 7, 8, 9, 10) , Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Quảng Bình.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1984), Đại tướng (1990)

Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương quân công hạng Nhất, Huân chương chiến công hạng Nhất, Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương quân kỳ quyết thắng.

Quê nội của ông ở thôn Gia Đẳng, xã Triệu Lăng, huyện Triệu Phong và quên ngoại ông ở xã Mỹ Thủy, huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị. Đây vốn là các vùng quê nghèo, muốn đến các thôn làng phải lội bộ qua hàng chục cồn cát trắng như muối, nơi toàn nhà tranh vách đất, nơi chỉ có nước biển, mấy trời và cát trắng, ruộng khoai lang xanh ngắt. Nhân dân trong vùng quanh năm ăn khoai lang với cá biển trừ bữa.

Là vùng quê nghèo, nhưng đây là những vùng quê giàu truyền thống yêu nước, tinh thần cách mạng và hiếu học. Ông sinh ra trong một gia đình mà mẹ đẻ và dì đều là Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Mẹ ông là cụ Nguyễn Thị Dương có 5 con là liệt sĩ, còn dì ông có người con duy nhất là liệt sĩ.

Lúc còn nhỏ, ông đã theo học hết tiểu học rồi tiếp tục theo học trung học ở thị xã Quảng Trị. Trường tan, 16 tuổi ông đã cùng anh em trong nhà và nhiều người thân tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1939, ông tham gia Thanh niên phản đế ; tháng 8 năm 1940 là Bí thư thanh niên cứu quốc huyện Triệu Phong, Quảng Trị.

Cuối năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà lao Quảng Trị, sau dó bị đưa lên đày ở Buôn Ma Thuột. Đây là một trong những nhà tù lớn ở Đông Dương lúc bấy giời, nơi giam cầm nhiều nhà cách mạng mà sau này phần lớn họ trở thành những lãnh đạo cao cấp như các ông Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Trần Văn Quang, Trần Hữu Dực…

Gần 5 năm bị tù đày, chịu nhiều đòn tra tấn dã man của thực dân Pháp nhưng ông không khai báo nửa lời, sắt son với cách mạng. Trong thời gian này, ông được cử vào ban vận động của nhà 6, nơi tập trung số tù nhân mới, đồng thời có nhiệm vụ liên hệ với các bạn tù cũ ở nhà 3 và nhà 4.

Đầu tháng 4 năm 1942, các tù nhân không đi làm việc để phản đối chế độ hà khắc của nhà đày, đòi cải thiện sinh họat. Được lệnh của viên công sứ, quản ngục dồn tất cả phạm nhân tham gia đấu tranh vào lao 2, ráo riết đàn áp. Trong các đợt khủng bố này, ông đã thể hiện tinh thần dũng cảm, kiên cường, hết lòng bảo vệ các bạn tù. Cuộc đấu tranh kéo dài được 3 tuần cuối cùng đã thắng lợi khiến cho viên công sứ, quản ngục phải nhượng bộ, một số chế độ sinh hoạt được giải quyết.

Sau các cuộc vượt ngục thành công và không thành công trong năm 1942, thực dân Pháp tăng cường các biện pháp bảo vệ nhà đày Buôn Ma Thuột, đưa viên giám ngục khét tiếng tàn ác Mút-sin trở lại cai quản phạm nhân. Ông được tổ chức phân công làm công tác binh vận binh lính và sĩ quan người Ê-đê. Để thuận lợi cho nhiệm vụ, ông học tiếng Ê-đê, Gia Lai, M’Nông. Nhiều sĩ quan và binh lính người dân tộc được giác ngộ ngày càng có cảm tình với các phạm nhân chính trị, với cách mạng. Trong số họ sau này nhiều người trở thành những cán bộ cách mạng, chỉ huy quân đội ở Đắc Lắc, một số là sĩ quan cao cấp của quân đội : đội Hột mít, Cai học trò, Đội sông cầu, Quan Lé (người lãnh đạo cách mạng có uy tín ở Tây Nguyên sau này từng giữ trọng trách Phó Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam), Yblok Eban (thiếu tướng)…

Đầu năm 1943, để trả thù cuộc vượt ngục của các ông : Tống, Tuy, Nhân và răn đe những người khác, Mút-sin đã bắt chết bốn ông : Hàn, Mai, Tiệp và Liễn. Ban lãnh đạo nhà tù quyết định phát động cuộc đấu tranh phản đối hành động của viên giám ngục. Đoàn Khuê ngoài nhiệm vụ binh vận còn làm việc trong nhà bếp đã khôn khéo tiếp tế ruốc, thịt, muối ớt cho những người trực tiếp đấu tranh. Trước sự phản ứng mạnh mẽ của tù nhân, có cả binh lính tham gia, viên giám ngục Mút-sin phải rời nhà đày Buôn Ma Thuột. Cuộc đấu tranh giành thắng lợi. Sau đó ban lãnh đạo nhà tù tổ chức học tập văn hóa, lý luận, chính trị quân sự ; phát triển công tác vận động binh lính, định kế hoạch vượt ngục tiếp tục hoạt động cách mạng. Cơ quan lãnh đạo được tăng cường một số cán bộ trong đó có ông. Nhà tù thực dân trở thành trường học cách mạng, rèn luyện ý chí đấu tranh, nơi ông học những bài học đầu tiên về quân sự.

Tháng 5 năm 1945, ông được ra tù và được phân về hoạt động xây dựng phong trào cách mạng ở tỉnh Quảng Bình. Tháng 6 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông dương (nay là Đảng cộng sản Việt Nam) và được cử làm Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Quảng Bình.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, ông tham gia thành lập tỉnh ủy Quảng Bình và giữ cương vị Ủy viên Quân sự.

Từ tháng 8 năm 1946, ông là Chính trị viên, Bí thư Đảng ủy Trường lục quân Quảng Ngãi, Bí thư đảng ủy Tiểu đoàn Hồ Hích Quảng Ngãi.

Từ tháng 4 năm 1947, ông là Chính trị viên Trung đoàn 69, 73, 78, 126 và 84 Liên khu 5, Bí thư đảng ủy Trung đoàn, Ủy viên thường vụ Ban cán sự Đắc Lắc. Sau đó, từ tháng 5 năm 1953, ông là Chính ủy Trung đoàn 108, Bí thư Trung đoài rồi Phó chính ủy Sư đoàn 305 Liên khu 5.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, từ cuối năm 1954 đến năm 1957 ông là Phó chính ủy Sư đoàn 675, Chính ủy Sư đoàn 351, Bí thư Đảng ủy Sư đoàn.

Từ tháng 3 năm 1958 đến năm 1960, ông là Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Lữ đoàn 27 (hay còn gọi là Lữ đoàn giới tuyến), Ủy viên Đảng ủy Quân khu IV quân hàm Thượng tá. Từ tháng 10 năm 1960, ông là Phó chính ủy Quân khu IV, Quân khu ủy viên. Từ đầu năm 1963 đến năm 1975, ông hoạt động ở chiến trường khu V, là Phó chính ủy Quân khu, Ủy viên Thường vụ khu ủy Khu V, Phó bí thư Quân khu ủy.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (tháng 12/1976), ông được bầu làm ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ năm 1977 đến năm 1980, ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu V, Bí thư Đảng ủy Quân khu. Thời kì này lực lượng Fulro ở Tây Nguyên hoạt động mạnh. Ban đầu chủ trương là truy quét bằng quân sự với quy mô lớn. Song thực tế hiệu quả lại rất thấp. Trên cương vị Chính ủy quân khu, ông chủ trương chuyển từ nhận thức ‘’truy quét’’ sang ‘’giải quyết Fulro’’, tiến hành đồng bộ cả giáo dục chính trị, xây dựng cơ sở, thực hiện đồng bộ các chính sách kinh tế, xã hội cùng với các biện pháp quân sự và chuyên môn nghiệp vụ của các ngành chuyên môn. Từ đó Fulro ra đầu thú nhiều, nội bộ nhân dân các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên được ổn định, an ninh chính trị được giữ vững.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (tháng 3/1982), ông được bầu làm ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1983 ông giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh 719, Phó trưởng đoàn Chuyên gia giúp Cam pu chia. Cuối năm 1986, ông được Nhà nước bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh 719, Trưởng ban lãnh đạo Đoàn Chuyên gia giúp Cam pu chia.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, và được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị.

Năm 1987, ông được Nhà nước bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, được cử làm Phó bí thư Đảng ủy quân sự Trung ương. Từ tháng 8 năm 1991, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (tháng 6/1996), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, được cử làm Phó bí thư Đảng ủy quân sự Trung ương.

Có thế nói thời gian ông giữ chức vụ cao trong quân đội Thứ trưởng rồi Bộ trưởng là một thời kỳ hết sức nhạy cảm và phức tạp của đất nước, thời điểm mà ta phải hết sức khéo léo về mọi mặt, thời điểm mà ngoại giao và chính trị phải được đề cao. Tại thời điểm đó, ông là vị tướng chính trị đầu tiên ở nứoc đảm đương vai trò người đứng đầu quân đội, và chất chính trị trong đã được ông phát huy tối đa.

Là thời kì mà các vấn đề về biên giới biển đảo và lãnh thổ hết sức căng thẳng. Dấu chân ông có mặt ở khắp mọi miền Tổ quốc : tưc các tỉnh địa đầu phía Bắc như Lai Châu, Hà Giang, Quảng Ninh đến các tỉnh ở miền Trung như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế đến các tỉnh ở Tây Nguyên, các tuyến đảo ở Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quý đến Phú Quốc, Thổ Chu…Ông rất quan tâm đến các địa bàn vùng sâu vùng xa nói chung và Trường Sa nói riêng, đặc biệt là sinh hoạt của cán bộ chiến sĩ đang ngày đêm gìn giữ và bảo vệ biển đảo của Tổ quốc. Với 2 lần ra với Trường Sa, ông là vị Bộ trưởng Quốc phòng ra đảo nhiều nhất.

Đó cũng là thời kì nước ta bắt đầu đường lối ngoại giao mở cửa, sau một thời gian bị cô lập về ngoại giao bởi các nước phương Tây, thời kì Liên Xô và Đông Âu bị sụp đổ. Những vấn đề đặt ra trong thời kì mới này đòi hỏi quân sự cũng phải chuyển mình đáp ứng kịp thời, nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc. Muốn vậy thì phải phá thế cô lập, mở rộng quan hệ…phải coi trọng vấn đề chính trị, ngoại giao trong công tác quân sự. Trên cương vị Bộ trưởng quốc phòng thời kì này, ông là Bộ trưởng quốc phòng đi thăm nhiều nước bên ngoài nhất. Quân đội các nước mở quan hệ với nước ta qua tùy viên quân sự từ 12 tăng lên tơi gần 30 nước. Mềm dẻo khôn khéo trong ngoại giao ông lại rất cứng rắn trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chuyến thăm Trung quốc của ông là một cái mốc quan trọng trong quá trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam Trung Quốc sau một thời gian căng thẳng.

Bài viết: theo Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam; Trài tim thắp lửa của Huy Phan

Nguồn ảnh: Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 09:31 PM
http://img72.imageshack.us/img72/4762/trungtuongduongcutamje5.jpg

Trung tướng Dương Cự Tẩm (1921), nguyên : Phó Tư lệnh Quân khu 7, Chính ủy Quân khu 7, Chính ủy Quân khu 8, Phó Chính ủy Quân khu 9, Cục phó Cục chính trị Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Huân chương Độc lập hạng Nhất…

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1984)

Trung tướng Dương Cự Tẩm quê ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Theo mẹ ông thì ông tuổi Tuất (sinh năm 1922), nhưng giấy khai sinh tiểu học của ông lại đề sinh năm 1924, còn theo tuổi nghỉ hưu là năm 1921.

Ông sinh ra trong một gia đình mà tổ tiên vốn theo cụ Nguyễn Công Trứ vào khai hoang ở đất Kim Sơn, Ninh Bình. Cha ông là một nhà nho, làm thuốc Đông y. Mấy ông chú ông thì đều theo Tây học.

Khi còn nhỏ, ông học tiểu học ở Kim Sơn, có một năm theo học trường dòng Phát Diệm. Năm 1939, ông vào học ở trường kỹ nghệ Hà Nội, được giác ngộ và tham gia phong trào cách mạng phản đế ở trường.

Vì tổ chức bí mật của học sinh yêu nước bị vỡ, năm 1939 ông bị bắt cùng một nhóm thanh niên học sinh Hà Nội, trong đó có các ông Nguyễn Văn Kha (sau này là Bộ trưởng Bộ công nghiệp), ông Hòe (sau này làm Chủ tịch thành phố Hải Phòng, rồi Trưởng Ban kinh tế Trung ương). Các ông bị chính quyền thực dân đưa ra tòa án quân sự. Nhờ Luật sư Phan Anh cãi kịch liệt, với lí do ông mới 17 tuổi, nên ông chỉ bị đưa đi cải tạo trẻ vị thành niên ở Bắc Giang. Năm 1943, ông bị đưa về quản thúc tại địa phương, gia đình tổ chức cho ông trốn lên huyện Yên Mô dạy học tư kiếm sống và tiếp tục hoạt động cách mạng.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, ông được ông Trần Văn Tuyên phân công phụ trách Công đoàn Hà Nội. Khi đó ông Trần Văn Tuyên trên cương vị chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam đã trực tiếp giới thiệu ông vào Đảng. Trên cương vị được giao, ông dẫn đầu đoàn đại biểu công nhân Thủ đô-đoàn đại biểu quần chúng cách mạng đầu tiên vào Phủ Chủ tịch để tiếp kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tháng 11 năm 1945, ông cùng các ông Lê Thiệu Huy-sinh viên khoa Luật, Hoàng Xuân Bình và Lê Trọng Thời là sinh viên Y khoa, được Bộ Quốc phòng phái sang Thai Lan tiếp tế cho Nam Bộ đánh Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam.

Ông được ông Vũ Anh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng tin tưởng viết giấy sang ngân hàng nhận nửa triệu tiền Đông dương, tương đương 1000 lượng vàng-trong điều kiện khó khăn của chính quyền non trẻ bấy giờ, đây là một số tiền rất lớn.

Vượt qua đất Lào. Trước tiên các ông hẹn nhau ở Huế. Ông là Đảng viên duy nhất trong đoàn nên được phân công giữ tiền và được Bộ Quốc phòng cấp cho một thẻ ‘’hỏa tốc’’ đặc biệt ưu tiên. Muốn sang Thái Lan phải qua Savannakhet, mà lúc đó, quân Pháp đã trở lại Nam Lào, cắt đứt con đường này. Nhưng theo quy định từ vĩ tuyến 17 trở đi thuộc quyền kiểm soát của quân đội Tưởng Giới Thạch. Bộ Chỉ huy quân sự Huế làm cho ông một căn cước giả và ông ăn mặc giả người Tàu để đi, ông đi cùng xe với một Thiếu úy quân Tưởng. Đến Savannakhet, ông Nguyễn Văn Tiến Chủ tịch Tổng hội Việt kiều ở Thái Lan đã chờ sẵn đón ông.

Do Trung ương chỉ đạo tổ chức giúp Lào khởi nghĩa giành chính quyền. Vì thiếu cán bộ, ông Nguyễn Văn Tiến đề nghị với Hà Nội để ông ở lại làm Chính trị viên Bộ Chỉ huy Việt kiều Giải phóng quân tỉnh Thakhet. Ông Nguyễn Chánh (sau này là Trung tướng, khác với ông Nguyễn Chánh nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5) là lính khố xanh của Pháp, sau cách mạng đã đưa lính về gia nhập Giải phóng quân, được phân công làm Chỉ huy trưởng.

Cuối tháng 9 năm 1945, sau khi gây hấn ở Nam Bộ, quân Pháp đã trở lại chiếm đóng Campuchia và các tỉnh Hạ Lào. Sau hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, từ Nam Lào, quân Pháp tập trung lực lượng lớn tấn công lên phía Trung và Bắc bằng máy bay, xe tăng, cơ giới. Các thành phố, thị xã Viêng Chăn, Savannakhet và Thakhet bị bao vây. Liên quân Lào Việt đã chống trả ngoan cường. Nhưng do quân Pháp quá mạnh, liên quân chống cự một thời gian thì phòng tuyến bị chọc thủng.

Đêm 23 tháng 3 năm 1946, liên quân đánh yểm trợ cho đồng bào rút lui vượt sông Mêkông sang Thái Lan. 6 vạn Việt kiều ở ba tỉnh lớn của Lào cũng cùng di cư. Quân Pháp tập kích, Hoàng thân Suphanuvong bị thương nặng khi qua sông. Ông Lê Thiệu Huy che cho hoàng thân trúng đạn hy sinh ngay trên canô. Quân cách mạng tổn thất khá nặng, đồng bào di cư cũng bị thiệt mạng khá nhiều. Chính phủ Thái Lan yêu cầu Quân giải phóng giao nộp vũ khí, nhờ Tổng hội Việt kiều ngoại giao tốt với chính quyền địa phương, nên chỉ phải giao nộp tượng trưng, còn phần lớn đều được cất giấu.

Tháng 5 năm 1946, có lệnh tập hợp lực lượng quân giải phóng chiến đấu ở Lào.Ông cùng các ông Nguyễn Chánh, Lê Quốc Sản (thiếu tướng), Đỗ Huy Rừa được giao nhiệm vụ tổ chức, huấn luyện. Tại chiến khu Noong Kè, trong vòng mười ngày, các ông đã chọn lựa và tập trung được hơn 400 chiến sĩ trong số những người từ những cơ sở Việt kiều, thành chi đội Trần Phú. Ông Nguyễn Chánh làm Chi đội trưởng, ông làm Chính trị viên, hai hông Lê Quốc Sản và Tô Huy Rứa làm Chi đội phó. Chi đội được tổ chức thành 4 đại đội, hoạt động dưới danh nghĩa công nhân làm đường để che măt chính quyền Thái Lan ở Trung ương. Qua Tổng hội Việt kiều, các ông nhận thầu xây dựng một con đường dài mười cây số từ Noong Kè ra Phanôm. Ban ngày làm đường, ban đêm bí mật ra đồng đã gặt để tập luyện. Hậu cần đều do bà con Việt kiều tiếp tế.

Ngày 20 tháng 12 năm 1946, đơn vị hành quân bằng xe bus chở khách từ ThatPhanôm đến tập kết ở khu rừng gần Mường Dêk, Đông Nam Thái Lan. Ngày 26 tháng 12, Chi đội làm lễ xuất phát tiến về biên giới Thái Cam, vượt qua dãy núi Đăng Rek dựng đứng, rồi hành quân về hướng phum Presenke trên bờ sông Mêkông thuộc tỉnh Kimpông Chàm để về Tây Ninh.

Ban chỉ huy Chi đội lúc này gồm các ông Nguyễn Chánh (tư lệnh), Lê Quốc Sản và Đỗ Huy Rừa Phó tư lệnh, Trần Văn Sáu ủy viên thường vụ tỉnh ủy Trà Vinh sang Thái Lai mua vũ khí làm Chính trị viên, Lê Quán Trung (Hải Nam) và ông là chính trị viên phó, Sơn Ngọc Minh cán bộ cách mạng Campuchia làm cố vấn. Chi đội tổ chức thành ba đại đội chiến đấu, một phân đội vận tải và đoàn bộ gồm tất cả 426 người.

Về tới Tây Ninh, chứng kiến cảnh nồi da xáo thịt của một bộ phận Cao Đài phản động, chi đội đã đề nghị tỉnh ủy cho phép lấy danh nghĩa một đơn vị hải ngoại về nước, ra lời kêu gọi đoàn kết gửi đến các chức sắc, tín đồ Cao Đài.

Tháng 3 năm 1947, Hải ngoại 4 của các ông tham gia liên quân B với Chi đội 11 bộ đội Hoàng Thọ, hành quân chiến đấu ở Gò Dầu và Trảng Bảng thuộc Tây Ninh. Đặc biệt có một phân đội đi bảo vệ hai ông Nguyễn Chánh, Trân Văn Sáu về Bộ Tư lệnh quân khu 7 trình diện nhận nhiệm vụ đã đánh hai trận vang dội tại giồng Dinh và giồng Thổ Địa. Cả 2 trận chống quân Pháp nhảy dù đều thắng lớn, tiêu diệt gần 2 đại đội Pháp thu nhiều súng đạn. Sau đó, chi đội hải ngoại 4 được phân công về hoạt động tại Quân khu 8. Cuối năm 1948, chi đội hải ngoại 4 về khu 8 bổ sung quân số đồng thời thành lập Trung đoàn 109, do ông Nguyễn Chánh làm Trung đoàn trưởng, ông đựoc cử làm chính trị viên Trung đoàn.

Đầu năm 1951, khi quân của Leon Leroy tấn cống và bình định Bến Tre, gây cho cách mạng của tỉnh gặp rất nhiều khó khăn. Trước tình hình này, Khu ủy Khu 8 đã tăng cường chỉ đạo, chi viện cho tỉnh về mọi mặt. Nhiều cán bộ có năng lực được tăng cường cho Bến Tre. Ông Đỗ Phát Quang làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, ông Đồng Văn Cống (Trung tướng) tỉnh đội trưởng, ông Võ Tấn Nhựt tỉnh đội phó, Nguyễn Văn Yên trưởng ty công an, còn ông được phân công làm Chính trị viên tỉnh đội.

Năm 1954, sau hiệp định Giơnevơ, ông ra Bắc làm Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 332 đi tiễu phỉ ở biên giới Lạng Sơn trong 2 năm. Sau đó ông về công tác ở Tổng cục chính trị.

Năm 1962, ông đi chiến dịch Nậm Thà bên Lào làm chủ nhiệm chính trị chiến dịch mà ông Bằng Giang (Trung tướng) làm tư lệnh, ông Trần Độ (Trung tướng) làm chính ủy.

Tháng 7 năm 1964, ông bí mật vượt biển vào Nam, đổ bộ lên đất Bến Tre cùng các ông Lê Văn Ngọc, Lê Văn Lựu…

Về Bộ chỉ huy miền, ông được cử làm Cục phó Chính trị Quân giải phóng miền Nam. Đến năm 1967 ông về làm Chính ủy Sư đoàn 7 do ông Nguyễn Hòa (Trung tướng) làm Tư lệnh.

Để chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968, ông được điều xuống Quân khu 9 làm phó Chính ủy Quân khu do ông Đồng Văn Cống làm Tư lệnh, tham gia mặt trận tiền phương ở Cần Thơ.

Năm 1969, ông về làm Chính ủy Quân khu 8, đi chiến trường nghiên cứu chống bình định trọng điểm của địch ở Mỹ Tho. Năm 1974, ông lại lên làm Chính ủy Quân khu 7 chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.

Cuối năm 1974, ông đang chuẩn bị lên đường ra Bắc sau hơn chục năm xa gia đình thì được ông Lê Đức Anh (Đại tướng, Chủ tịch nước) tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Bộ chỉ huy miền gọi về chuẩn bị cho nhiệm vụ mới. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, ông tham gia ở cánh quân Đông với nhiệm vụ đón Quân đoàn 2 và chọn người dẫn đường đưa xe tăng tiến vào dinh Độc lập.

Chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra (1979), ông và ông Năm Ngà (Thượng tướng Nguyễn Minh Châu) là Phó Tư lệnh Quân khu 7 phụ trách chung 2 mặt trận tiền phương của quân khu : Siêm Riệp do ông Hồ Quang Hóa làm tư lệnh và Kompông Chàm do ông Đặng Quang Long làm tư lệnh, cùng tiến vào giải phóng Campuchia khỏi họa diệt chủng.

Ông được phong quân hàm Trung tướng năm 1984 khi đang là Phó tư lệnh Quân khu 7. Ông xứng đáng là một trong những tướng lĩnh kì cựu của Nam Bộ trong suốt hai cuộc kháng chiến với bí danh Năm Thanh. Nhà báo Phan Hoàng có thơ tặng ông rằng :

Đặc phái viên thành kiều bào

Lập liên quân giúp nước Lào giải vây

Viện binh Nam Bộ đánh Tây

Mê hò sông Hậu vướng dây tơ hồng.

Bài viết và ảnh: theo Phỏng vấn tướng lĩnh của tác giả Phan Hoàng

huy thanh
29-06-2009, 09:33 PM
http://img72.imageshack.us/img72/2504/trungtuongletudongkp7.jpg

Trung tướng Lê Tự Đồng (1920), nguyên: Phó Giám đốc Chính trị Học viện Quân sự cấp cao, Chính ủy kiêm Bí thư Quân khu ủy Quân khu 4, Tư lệnh-Chính ủy kiêm Bí thư đảng ủy Quân khu Trị Thiên, Chính ủy Mặt trận B5, Phó Chính ủy Quân khu Hữu ngạn, Chính ủy Trường sĩ quan lục quân, Chính trị viên Phân khu Bình Trị Thiên.


Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất...


Ngoài ra ông còn là: Đại biểu Quốc hội khóa 6, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên.


Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1982).

Trung tướng Lê Tự Đồng tên thật là Lê Tự Đắc sinh ra tại làng Kim Long nay là phường Kim Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam thì ông sinh vào năm 1920 nhưng theo tác giả Phan Hoàng trong cuối Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam thì ông tuổi Mùi tức sinh năm 1919.


Ông là con thứ 3 trong một gia đình có 5 chị em. Cha ông là viên chức sở canh nông, mất sớm. Một mình mẹ ông tần tảo làm ruộng, buôn bán nuôi các con và mất vào năm 1947. Anh ông là ông Lê Tự Nhiên sớm tham gia các hoạt động cách mạng sau này từng giữ các chức vụ Ủy viên thường vụ Thành ủy Sài Gòn-Chợ Lớn, rồi Ủy viên thường vụ khu ủy Trị Thiên rồi hy sinh.


Ông cùng các anh chị em phải bươn trải từ nhỏ. Vừa học vừa làm thợ may kiếm sống, ông bắt đầu tham gia các hoạt động cách mạng (bí mật vận động thanh niên) khi vào học ở Trường kỹ nghệ thực hành Huế. Do những hoạt động cách mạng của mình, ông bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà lao Thừa Phủ, bị kết án 5 năm tù khổ sai, sau tăng thêm 10 năm rồi bị đày đi Buôn Mê Thuột từ năm 1940 đến 1945. Cùng bị bắt trong đợt với ông có ông Lê Chưởng (Thiếu tướng)-người được Xứ ủy Trung kỳ giao cho phụ trách thành phố Huế.


Thời gian ở tù tại Buôn Mê Thuột, ông được ông Trương Văn Lĩnh (vốn là sĩ quan của Tưởng Giới Thạch khi ở Trung Quốc) truyền đạt những kiến thức cơ bản về quân sự: lí thuyết và thực hành, đội hình chiến thuật, giàn đội hình, các động tác tiến lui trong phạm vi một tiểu đội. Nhờ đó, sau khi được tự do ông được phân công làm công tác quân sự.


Trong cách mạng tháng 8 năm 1945, ông là Ủy viên Ban khởi nghĩa phụ trách công tác binh vận. Nhờ ông Tôn Quang Phiệt, một trí thức yêu nước có uy tín, ông đã liên hệ được với ông Phan Tử Lăng (sau này là Đại tá) chỉ huy trưởng bảo an Trung Kỳ của chính phủ Trần Trọng Kim. Ông cử người vào các đồn bảo an vận động binh lính. Đồng thời bộ phận binh vận dưới sự lãnh đạo của ông đã đặt cơ sở và cách mạng hóa được nhiều học viên của Trường thanh niên tiền tuyến một trường mà học viên toàn những trí thức, con em của quan lại nhà Nguyễn do chính phủ Trần Trọng Kim mở ra. Khi cách mạng tháng 8 nổ ra sinh viên của trường này đã góp phần không nhỏ cho khởi nghĩa giành chính quyền tại thành phố Huế mà nhiều người trong số đó đã trở thành những tướng lĩnh của Quân đội: Phan Hàm, Phan Hạo, Đoàn Huyên, Võ Quang Hồ, Mai Xuân Tần, Cao Văn Khánh...


Cách mạng tháng 8 thành công, ông được bầu vào Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời Thừa Thiên phụ trách quân sự. Ngay sau khi cách mạng thành công, ông nhận nhiệm vụ quan trọng là tổ chức đưa Hoàng thân Suphanuvong từ Huế về Lào trực tiếp chỉ đạo cách mạng Lào.

Ngày 15 tháng 10 năm 1945, Khu 4 được thành lập do các ông Lê Thiết Hùng (Thiếu tướng) rồi Nguyễn Sơn (Thiếu tướng) thay nhau làm khu trưởng, ông Trần Văn Quang (Thượng tướng) làm Chính ủy, ông được phân công nhiệm vụ đặc phái viên quân sự ở Huế. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông tham gia chỉ huy và chiến đấu ở mặt trận Huế trên cương vị Chính ủy Trung đoàn 101 Trần Cao Vân là đơn vị chủ lực của Huế. Tháng 11 năm 1947, mặt trận Huế bị vỡ do tương quan lực lượng giữa ta và Pháp quá chênh lệch, ông cùng Trung đoàn rút về chiến khu Hòa Mỹ và là lực lượng chủ chốt xây dựng và củng cố vùng chiến khu sau đó ông ra Thanh Hóa theo học ở Trường Quân chính liên khu.

Đầu năm 1948, sau khóa học, ông được phân công về làm Chính ủy Trung đoàn 77 Thanh Hóa do ông Hùng Sơn làm Trung đoàn trường (sau này là Thiếu tướng). Sau đó, ông được cử tham gia Đoàn đại biểu quân sự Liên khu 4 do Chính ủy Trần Văn Quang làm trưởng đoàn, ra Việt Bắc dự hội nghị rèn cán chỉnh quân rồi được cử ở lại học một khóa quân sự tại Thái Nguyên, sau dời lên Tam Đảo do 2 ông Trần Tử Bình và Lê Thiết Hùng phụ trách. Sau đó ông vượt sông Hồng, qua Hà Đông vào Thanh Hóa nhận nhiệm vụ ở Khu 4. Ông được Tư lệnh Quân khu Nguyễn Sơn phân công giữ chức vụ Chính trị viên Phân khu Bình Trị Thiên Liên khu 4, Tỉnh đội Thừa Thiên Huế kiêm Chính ủy Trung đoàn 101.

Mùa xuân 1950, thực hiện chủ trương của cấp trên, 2 trung đoàn 95 và 101 vào hoạt động ở vùng sâu Quảng Điền. Để chỉ huy thống nhất 2 đơn vị, Bộ chỉ huy Phân khu Bình Trị Thiên chỉ định ông Lê Bá Vận làm Chỉ huy trưởng, ông làm Chính ủy.

Tháng 9 năm 1950, ta mở chiến dịch Biên Giới. Nhằm phối hợp tích cực với chiến trường chính theo chỉ thị của cấp trên, đơn vị của ông đã bất ngờ phục kích đoàn tàu quân sự của Pháp tại Như Sơn Bến Đá (trước đó đoạn đường sắt Huế-Quảng Trị, Đà Nẵng-Huế bị đánh liên tục còn đoạn này chưa bị đánh bao giờ) và giành thắng lợi lớn: đốt đoàn tàu, thu toàn bộ vũ khí, đặc biệt trong đó có khẩu Bô-pho 40 ly với trên 3000 viên đạn.

Sau đó Trung đoàn 101 được giao nhiệm vụ vừa chủ động tác chiến bảo vệ mùa màng. Cụ thể là "công đồn diện viện" nhằm phá vỡ một mảng trong hệ thống đồn bốt Pháp nhằm đẩy mạnh phong trào kháng chiến, lấn sát vào thành phố Huế.

Tháng 7 năm 1953, ông được cử giữ chức Phó Chính ủy Đại đoàn 325 (Đại đoàn Bình Trị Thiên). Sau đó, tháng 1 năm 1955, ông được cử giữ chức Chính ủy Đại đoàn 316.

Tập kết ra Bắc, ông được cử sang học ở Học viện Quân chính Lê-nin từ năm 1956 đến năm 1961 cùng các ông Đặng Vũ Hiệp, Vũ Chí Đạo... Sau khi về nước ông là chủ nhiệm khoa của Học viện quân chính, Chính ủy Trường sĩ quan Lục quân ở Sơn Tây (1961-1967) cho đến tháng 9 năm 1968 là Phó Chính ủy Quân khu Hữu Ngạn.

Cuối năm 1968 ông vượt sông Bến Hải vào Chiến trường Trị Thiên giữ chức vụ Phó Chính ủy Quân khu 4 kiêm Chính ủy Mặt trận B5.

Trong chiến dịch Đường 9 Nam Lào (mặt trận 702), B5 dưới sự chỉ huy của ông tấn công quân Mỹ ở Sa Mưu - Tân Lâm - Khe Sanh, rồi đánh tạt ngang sườn khi địch rút chạy khỏi bản Đông tiêu diệt gần 2000 địch. Chiến thắng Đường 9 Nam Lào mở ra khả năng thực tế đánh bại hoàn toàn âm mưu Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ. Nhận định lực lượng cách mạng của 3 nước Đông Dương đã lớn manh, Trung ương chủ trương mở cuộc tấn công chiến lược 1972, nhằm tiêu hao phần lớn quân địch, mở rộng vùng giải phóng, đưa cuộc kháng chiến lên một bước mới với B5: nếu điều kiện thuận lợi sẽ giải phóng hoàn toàn Trị Thiên Huế. Bộ Tư lệnh chiến dịch được hình thành do ông Lê Trọng Tấn làm tư lệnh, ông Lê Quang Đạo chính ủy, ông Cao Văn Khánh Phó Tư lệnh và ông là Phó Chính ủy. Đồng thời, ông cùng ông Giáp Văn Cương được giao phụ trách trực tiếp hướng Nam.

Sau chiến dịch Quảng Trị, tháng 12 năm 1972 ông được phân công làm Chính ủy kiêm Bí thư Quân khu ủy Quân khu Trị Thiên. Từ năm 1974 đến 1975, ông được phân công giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Trị Thiên, kiêm Bí thư Khu ủy. Nhân dịp Chủ tịch Cuba Phidel sang Việt Nam và vào thăm Quảng Trị vừa giải phóng, ông thay mặt Quân khu Trị Thiên tặng một khẩu 106,7 ly.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông được cử giữ chức vụ Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên. Rồi cho đến 1976, được điều ra giữ chức vụ Chính ủy Bí thư Quân khu ủy Quân khu 4. Đến năm 1977 thì được điều ra Hà Nội làm Phó Giám đốc Học viện Quân sự cấp cao cho tới khi về hưu 1990.

Nói đến chiến trường Thị Thiên là người ta nghĩ ngay đến một chiến trường giáp ranh ác liệt, với những trận đụng độ nảy lửa, nhiều con người bình thường đã trở thành anh hùng, nhiều anh lính binh nhất bình nhì trở thành tướng lĩnh. Một trong những vị tướng trụ lâu nhất ở chiến trường Bình Trị Thiên thời chống Pháp và Trị Thiên thời chống Mỹ chính là ông-Trung tướng Lê Tự Đồng. Trở thành chỉ huy quân sự đầu tiên của thành phố Huế sau Cách mạng tháng Tám, ông cũng là người chỉ huy trực tiếp cuối cùng khi chiến tranh kết thúc trên cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Trị Thiên. Vì vậy ông xứng đáng được goi là vị tướng của chiến trường Trị Thiên Huế.

Bài viết: theo Phỏng vấn tướng lĩnh của tác giả Phan Hoàng

huy thanh
29-06-2009, 09:37 PM
http://img174.imageshack.us/img174/731/trungtuongnguyenhoalv7.jpg

Trung tướng Nguyễn Hòa (tên thật Trần Doanh) (1927), nguyên: Tư lệnh Quân đoàn I, Phó Tư lệnh Quân khu 5, Phó Tư lệnh Mặt trận B3, Phó Tư lệnh Đoàn 559-Bộ Tư lệnh Trường Sơn, Phó Tư lệnh Quân khu 4 kiêm Phó Tư lệnh Mặt trận B5, Sư đoàn trưởng đầu tiên của Sư đoàn 5 và Sư đoàn 7.


Ngoài ra ông còn là: Đại biểu Quốc hội Khóa 8 (Phó trưởng ban Kế hoạch và ngân sách của Quốc hội), Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 5, Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí.


Huân chương Độc lập hạng Nhất, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương chiến sĩ vẻ vang, Huân chương chiến sĩ giải phóng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.


Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980)


Trung tướng Nguyễn Hòa sinh năm 1927 ở Hà Nội nhưng quê ông lại ở xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

Trước cách mạng tháng 8, ông theo học trường Cao đẳng tiểu học Đông Dương (còn gọi là trường Đỗ Hữu Vị). Sớm được giác ngộ cách mạng (từ năm 1944), ngày 19 tháng 8 năm 1945 ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Thụy Yên.

Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, ông được cử đi học Trường quân chính kháng Nhật ở Việt Bắc. Tháng 3 năm 1946, Bộ Tổng tham mưu điều ông về làm Chánh văn phòng Khu quân sự đặc biệt Hà Nội, sau đổi tên thành Khu 11. Cùng với những chiến sĩ quyết tử Thủ đô chiến đấu bảo vệ Hà Nội trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến.

Sau 60 ngày đêm chiến đấu anh dũng, Nguyễn Hòa cùng các đơn vị rút khỏi Hà Nội lên chiến đấu ở chiến trường Hoà Bình Sầm Nưa. Năm 1949, ông về Trung đoàn 52 (Trung đoàn Tây Tiến). Tháng 5 năm 1950, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 rồi sau đó là Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng của Trung đoàn này, trong đội hình Sư đoàn 320 chiến đấu khắp các chiến trường đồng bằng Bắc Bộ.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, từ năm 1955 đến 1957 ông là giảng viên Trường quân sự trung cao. Từ năm 1957 đến 1960, ông lần lượt giữ các chức vụ Tham mưu trưởng Sư đoàn 304 rồi 320.

Từ năm 1960 đến 1963, Nguyễn Hòa được cử đi học ở Học viện Bộ Tổng tham mưu Vô-rô-si-lốp của Liên Xô.

Năm 1963, về nước, ông được Phó Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái giao nhiệm vụ viết tổng kết về chiến trường đồng bằng Bắc bộ trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Tháng 4-1964 Nguyễn Hòa vào Nam chiến đấu bằng con tàu không số đường Hồ Chí Minh trên biển vừa được khai phá.

Ngày 2-9-1965 Quân ủy Trung ương và Bộ tư lệnh Miền quyết định thành lập hai sư đoàn đầu tiên là Sư đoàn 9 và Sư đoàn 5. Sư đoàn 9 do tướng Hoàng Cầm là Sư trưởng. Ngày 23-11-1965 Sư đoàn 5 chính thức được thành lập do Nguyễn Hòa làm Sư trưởng, Lê Xuân Lựu làm Chính ủy, đứng chân trên địa bàn Long Khánh - Bà Rịa, vừa đánh địch vừa xây dựng lực lượng tạo bàn đạp vùng quanh Sài Gòn.

Trận đầu ông chỉ huy chiến đấu ở chiến trường miền Nam là trận Bình Giã. Trận này do ông Trần Đình Xu (Đại tá Liệt sĩ) làm Tư lệnh, ông làm Phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng, chỉ huy một trung đoàn chủ lực Miền cùng với bộ đội địa phương Bà Rịa - Long Khánh và du kích Long Thành đảm nhiệm. Ta bắt đầu tổ chức tấn công đánh địch từ ngày 5-10-1964 và sau hơn một tháng chiến đấu quân và dân ta phá tan “ấp chiến lược” Bình Giã. Tiêu diệt và bắt sống hơn 2.000 tên địch, thu và phá hủy 45 xe bọc thép M113, thu 611 súng các loại, bắn rơi 51 máy bay... Thắng lợi Bình Giã khẳng định trình độ chỉ huy tác chiến tập trung của bộ đội Miền - lần đầu tiên giải phóng quân mở một chiến dịch quy mô lớn, dài ngày đánh vào vùng được coi là căn cứ an toàn của địch. Nó cũng đánh dấu sự thất bại của chiến thuật “trực thăng vận” “chiến xa vận” của Mỹ - ngụy, khẳng định sự thất bại tất yếu của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của địch...

Thực hiện quyết định của Quân ủy Trung ương và Bộ tư lệnh Miền, Gần một năm sau ông lại được lệnh đi thành lập sư đoàn 7 gồm trung đoàn 16, trung đoàn 141 (Ba Vì anh dũng) và trung đoàn 165 (Thành đồng biên giới) về cơ bản nó được thành lập trên các Trung đoàn của Đại đoàn Chiến Thắng 312. Tháng 6-1966 Ban cán sự sư đoàn gồm có Nguyễn Hòa, Sư trưởng, Nguyễn Hải - Sư phó và Dương Cự Tẩm (Dương Thanh) Bí thư Đảng ủy kiêm Chính ủy.

Năm 1967 ông lại được điều đi làm Phó tư lệnh Quân khu IV kiêm Phó tư lệnh Mặt trận B5, hơn một năm sau làm Sư trưởng Sư đoàn 320.

Tháng 5-1970, làm Phó tư lệnh Đoàn 559 kiêm Phó tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Tháng 12-1973 ông lại được tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên làm Phó tư lệnh...

Sau hội nghị Pari tình hình trên chiến trường miền Nam diễn ra hết sức phức tạp. Quân Mỹ buộc phải rút nhưng vẫn ồ ạt tuôn vũ khí, đạn dược, các phương tiện chiến tranh cho chính quyền Sài Gòn. Quân đội Sài Gòn ra sức bắt lính, bổ sung quân lấn chiếm vùng giải phóng. Để có những quả đấm thép trên chiến trường, Trung ương quyết định thành lập các binh đoàn chủ lực cơ động. Quân đoàn I “Quyết thắng” được chính thức thành lập ngày 24-10-1973 tại Tam Điệp, Ninh Bình. Nơi Quang Trung Nguyễn Huệ, năm 1789 hội quân, tổ chức đội hình trước ngày tiến ra Thăng Long quét sạch 20 vạn quân Thanh, giành lại nền độc lập, tự do cho Tổ quốc. Quân đoàn I là Quân đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta gồm các sư đoàn chủ lực mạnh: 308, 312, 320B. Ngoài ba sư đoàn còn có sư đoàn 367 cao xạ - tên lửa, lữ đoàn xe tăng 202, đơn vị thông tin 140 và lữ đoàn công binh 299. Ngày đầu thành lập, Trung tướng Lê Trọng Tấn, Phó tổng tham mưu trưởng lúc bấy giờ làm Tư lệnh, Đại tá Nguyễn Hòa làm Phó tư lệnh, Trung tướng Lê Quang Hòa làm Chính ủy. Sau sáu tháng huấn luyện, hai ông Tư lệnh và Chính ủy về Bộ Quốc phòng, tháng 4-1974 Nguyễn Hòa làm Tư lệnh Quân đoàn, Hoàng Minh Thi làm Chính ủy.

Cuối tháng 1-1975 Quân đoàn mở hội nghị quân chính, Thượng tướng Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng về thăm, cổ vũ thêm quyết tâm cán bộ chiến sĩ đang náo nức bước vào trận chiến đấu mới. Ngày 1-4-1975 nhận được mệnh lệnh của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp: “Toàn Binh đoàn Quyết thắng thiếu Sư đoàn Quân tiên phong (308) được tăng cường trung đoàn ô tô vận tải số 10 cơ động thần tốc vào tập kết ở Đồng Xoài trước ngày 15-4-1975”. Nhận mệnh lệnh là binh đoàn triển khai hành quân với khẩu hiệu hành động: “Đi xa tiến sâu, đánh thắng trận đầu, đánh thắng liên tục đến thắng lợi hoàn toàn”. Nhiệm vụ của Quân đoàn trong trận tiến về Sài Gòn là tiến công tiêu diệt sư đoàn 5 ở Lai Khê cùng toàn bộ các lực lượng bảo an và sở chỉ huy của chúng ở Bình Dương sau đó đột phá nhanh đánh chiếm dinh Độc lập - dinh lũy cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, khu liên hợp bộ tư lệnh các binh chủng ngụy ở Gò Vấp và Gia Định. Nhưng ngày 23-4-1975, nhiệm vụ của Quân đoàn có thay đổi: Giao việc đánh chiếm dinh Độc lập cho Quân đoàn 4 ở phía đông, thay vào đó Quân đoàn 1 phải đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy. Các nhiệm vụ khác không thay đổi. Cùng với lãnh đạo Quân đoàn, tướng Nguyễn Hòa đã chỉ huy đơn vị hoàn thành nhiệm vụ trên giao. Ngày 14-4-1975 toàn bộ các đơn vị quân đoàn đã vượt trên 1.700 km từ miền Bắc vào miền Đông Nam bộ trước thời hạn quy định, tập kết tại Đồng Xoài. Theo mệnh lệnh của Tư lệnh Quân đoàn, các mũi triển khai đánh địch, ngày 30-4 tiêu diệt hoàn toàn sư đoàn 5 ngụy (khiến Chuẩn tướng Lê Nguyên Vĩ, Tư lệnh sư đoàn phải tự sát bằng chính khẩu súng lục của y), giải phóng tỉnh Bình Dương và tiến về đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy vào trưa ngày 30-4-1975.

Năm 1980 Trung tướng Nguyễn Hòa được cử làm Tổng cục trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Tổng cục Dầu khí (sau này là Tổng công ty Dầu khí Việt Nam). Tháng 6 năm 1988, ông về Quốc hội làm Phó chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế kế hoạch và Ngân sách Quốc hội. Ông là ủy viên Trung ương Đảng (khóa V, khóa VI) và là đại biểu Quốc hội (khóa VII, VIII) đóng góp vào việc hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Tháng 7 năm 1999, ông được Đảng và Nhà nước cho nghỉ hưu.


Nguyễn Hòa là vị tướng luôn có mặt trên những chiến trường ác liệt. ở ông, tài tổ chức, chỉ huy kết hợp với trí thông minh và biết chọn thời cơ ra mệnh lệnh đúng lúc khiến ông bình tĩnh, quyết đoán, tự tin tạo nên tinh thần lạc quan cho bộ đội khi bước vào cuộc chiến. Có thể nói trong suốt cuộc đời binh nghiệp của mình, dấu chân ông đã có mặt ở hầu hết các chiến trường trọng điểm của tổ quốc : từ chiến trường đồng bằng Bắc Bộ trong kháng chiến chống Pháp cho đến chiến trường miền Nam trong Kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Từ Trường Sơn cho đến núi rừng Tây Nguyên. Có thể nói ông duyên với việc tổ chức, lãnh đạo các đơn vị chủ lực của quân đội ta ngay từ những ngày đầu thành lập. Từng là Sư đoàn trưởng của Sư đoàn 5 rồi Sư đoàn 7 đầu tiên, ông là một vị tướng có công lớn đối với việc xây dựng lực lượng chủ lực của miền Nam. Là Tư lệnh Quân đoàn 1 khi mới 46 tuổi, ngay khi Quân đoàn này được thành lập được nửa năm và là người Chỉ huy Quân đoàn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông có công lao rất lớn trong việc xây dựng ‘’Quả đấm thép’’ số một của Quân đội ta.

Bài viết: Dựa theo Báo Hà Nội mới online

Chú ý: Trong Quân đội Nhân dân Việt Nam còn có một Trung tướng khác cũng tên là Nguyễn Hòa (1923-2000), từng 5 lần giữ vai trò Trưởng đoàn Chuyên gia Quân sự Việt Nam tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

huy thanh
29-06-2009, 09:39 PM
http://img174.imageshack.us/img174/5043/thieutuongdungmaba1.jpg

Thiếu tướng Dũng Mã (1923), nguyên: Cục trưởng Cục huấn luyện, Chủ nhiệm khoa Lịch sử Quân sự trực thuộc Học viện Quân sự cấp cao; Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận 31 Cánh đồng Chum Xiêng Khoảng Lào, Tham mưu trưởng Hải quân Đông Bắc, Tham mưu trưởng Quân khu Đông Bắc.

Thiếu tướng (1984)


Thiếu tướng Dũng Mã tên thật là Nguyễn Xáng sinh ra và lớn lên tại quê mẹ xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Cha ông quê ở xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nhưng lấy vợ và ở rể ở nhà vợ (vốn không có con trai).


Theo lời ông kể thì gia cảnh nhà ông tạm đủ ăn, xong vẫn thường xuyên phải ăn cơm độn sắn, trừ những ngày mùa. Cha ông là một nông dân hiếu học nhưng lại không có điều kiện học đến nơi đến chốn. Cụ tự học chữ Nho và chữ quốc ngữ, viết được văn tự , giúp bà con trong làng khi có việc. Ông là người nghiêm khắc còn mẹ ông là một phụ nữ quê, hiền lành, hết lòng vì chồng con.


Nhà ông đông anh chị em, ba gái bảy trai tuy nhiên cha ông thấy con nào lanh lợi, tiếp thu nhanh, sức khỏe tốt đều cố gắng cho học lên cao. Ông học hết cấp hai thi đậu diplome, đang học tiếp cấp ba thì thi đỗ vào Trường Cao đẳng Công chính Hà Nội (1944).


Trong thời gian theo học ở Trường Công chính, ông bắt đầu tham gia các hoạt động cách mạng. Do hoạt động bí mật cho nên ông lấy bí danh là Dũng Mã theo ý lời hát của Nhạc sĩ Văn Cao: ''Bao chiến mã lên đường. Lạnh lùng vung gươm ra sa trường...''.


Sau cách mạng tháng Tám (1945), ông được gọi học tiếp năm thứ 2 Trường Cao đẳng Công chính Hà Nội và tham gia hoạt động trong Hội sinh viên cứu quốc. Theo lời kêu gọi của đoàn thể, ông ''xếp bút nghiên" lên đường nhập ngũ và được cử đi học Trường Quân chính Bắc Sơn tại Thái Nguyên đầu năm 1946.


Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12.1946), ông tham gia chiến đấu kìm chân quân Pháp tại phía Bắc Hà Nội. Sau khi rút lên Việt Bắc, ông được giao nhiệm vụ làm thư ký riêng cho Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp trong 2 năm.

Năm 1949, khi Đại đoàn Quân tiên phong (F308) được thành lập, do ông Vương Thừa Vũ (Trung tướng) làm Tư lệnh, ông Song Hào (Thượng tướng) làm Chính ủy, ông được điều sang chiến đấu tại Đại đoàn trên cương vị Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Phủ Thông. Rồi đến ngày 27 tháng 12 năm 1950, khi Đại đoàn 312 được thành lập do ông Lê Trọng Tấn (Đại tướng-Tổng tham mưu trưởng) làm Tư lệnh, ông lại được điều sang chiến đấu và công tác ở đây trên cương vị Trung đoàn phó Trung đoàn Sông Lô (E209-Trung đoàn Sông Lô được thành lập từ các đơn vị trong đó có Tiểu đoàn Phủ Thông, Tiểu đoàn Hồng Hà) .


Trong kháng chiến chống Pháp ông tham gia phần lớn những chiến dịch quan trọng trên chiến trường Bắc bộ: Biên Giới, Trung Du, đường số 18 hay chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào...


Trong chiến dịch Biên Giới (16.9.1950-17.10.1950), Tiểu đoàn do ông chỉ huy tham gia tiến công cao điểm Khâu Luông (Sau khi Đông Khê bị thất thủ, Pháp cho một binh đoàn từ Lạng Sơn lên nhằm chiếm lại Đông Khê để đón binh đoàn từ Cao Bằng rút về. Binh đoàn phía Nam do quan Nam Lơ-pa-giơ chỉ huy đạ bị chặn đánh ở nam Đông Khê, buộc phải dừng lại và chiếm lĩnh một số điểm cao ở bắc đường số 4, trong đó có Khâu Luông do một tiểu đoàn Âu Phi phòng ngự) rồi sau đó tham gia truy kích và bắt gọn Binh đoàn của Lơ-pa-giơ.


Cuối năm 1950, trong hội nghị tổng kết Chiến dịch Biên Giới do thành tích chiến đấu ông cùng với ba chỉ huy khác cũng tên là Dũng: Thái Dũng (tên thật là Nguyễn Dũng Thái, dân tộc Tày, sau này là Trung tướng) Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88, Thế Dũng - Chính trị viên Trung đoàn 102 (đều thuộc Đại đoàn Quân tiên phong) được Chủ tịch Hồ Chí Minh cho mời đến gặp tại ''nhà riêng'' và chụp ảnh. Đây là bức ảnh rất nổi tiếng do nhà nhiếp ảnh Vũ Năng An chụp có Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông, ông Thái Dũng ngồi quanh một bàn đá, còn ông Võ Nguyên Giáp đứng. Buổi hôm đó ông Thế Dũng không đến kịp.


Đầu năm 1951, cuốc kháng chiến chống Pháp tiếp tục thu được nhiều thắng lợi, có tác dụng phối hợp với nhân dân Triều Tiên đang kháng chiến chống Mỹ và đồng minh. Tháng 9 năm 1951, Ban thường vụ Trung ương tổ chức một đoàn "phỏng vấn" gồm trên 10 người, có đại biểu: công, nông, binh, trí thức, thanh niên, phụ nữ, tôn giáo...do ông Tôn Đức Thắng rồi đến ông Hoàng Quốc Việt dẫn đầu, ông tham gia đoàn trên cương vị đại biểu quân đội. Trong thời gian 3 tháng, đoàn đã đi thăm Bắc Kinh, Bình Nhưỡng và trên 10 thành phố ở Trung Quốc và Triều Tiên, một Quân đoàn chí nguyện Trung Quốc, một Quân đoàn Quân đội Nhân dân Triều Tiên. Thời điểm các ông ở Bình Nhưỡng cũng là thời điểm mà thủ đô của Triều Tiên bị bom Mỹ tàn phá gần như trơ trụi, nhiều khi phải diễn thuyết vào ban đêm ở các hội trường ngầm dưới lòng đất.


Tháng 12 năm 1952, trên cương vị Trung đoàn phó 209, ông tham gia chiến dịch Lê Hồng Phong 2 giải phóng Tây Bắc. Trong trận đánh cứ điểm Bản Vât một cứ điểm khống chế phía tây trung tâm Nà Sản ông bị thương và bị đưa về điều trị tại bệnh viện dã chiến gần thị xã Hòa Bình. 10 ngày sau, ông nhận được thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng thiếp chúc tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh kèm theo một chiến áo lụa do Hội liên hiệp Phụ nữ Hà Đông biếu Chủ tịch.


Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, ông là Trung đoàn trưởng-đặc phái viên tác chiến của Bộ chỉ huy. Về Hà Nội ông được phân công làm Trưởng khoa Chiến thuật trường Trung cao Quân sự (tiền thân của Học viện Lục quân ngày nay). Sau đó, ông làm Tham mưu trưởng Quân khu Đông Bắc, rồi Tham mưu trưởng Hải quân Đông Bắc. Năm 1970, ông sang Lào làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận 31 cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng phối hợp tác chiến với bộ đội Pa-thét Lào.


Đối tượng tác chiến chính trên chiến trường Lào lúc bấy giờ là lực lượng đặt biệt của tướng phỉ Vàng Pao và quân chính quy Thái Lan với sự yểm trợ về không quân, hậu cần của Mỹ. Cuối năm 1973, ông bị thương nặng tại sở chỉ huy tiền phương tại Phu-Húa-Sạn (điểm cao 1830 mét), trong lúc trực tiếp chỉ huy đánh trả cuộc tiến công lấn chiếm của địch ra phía nam cánh đồng chum. Ông được đưa về Hà Nội rồi sau đó sang Mát-xơ-cơ-va điều trị gần 1 năm.


Sau khi bình phục về nước (sau Chiến thắng 1975), ông được chuyển về công tác tại Bộ tổng tham mưu. Đến cuối năm 1977, ông được điều về làm chủ nhiệm Khoa lịch sử quân sự, rồi Cục trưởng Cục kế hoạch huấn luyện của Học viện quân sự cấp cao (nay là Học viện quốc phòng) do Thượng tướng Hoàng Minh Thảo làm giám đốc cho đến cuối năm 1989 thì về hưu.


Là một trí thức trẻ xung phong vào quân đội, được cử làm thư kí riêng cho Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ với tư cách Trung đoàn trưởng đặc phái viên của Bộ chỉ huy chiến dịch, thiếu tướng Dũng Mã lần lượt đảm trách nhiều chức vụ khác nhau trên chiến trường và ở các học viện. Trong kí ức những chiến binh thời đánh Pháp ở Việt Bắc, 2 cái tên Dũng Mã và Sơn Mã trở lên khá quen thuộc. (Sơn Mã (1925-1952) tên thật là Nguyễn Huynh, tốt nghiệp Trường Quân chính Quảng Ngãi, khi hy sinh là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 84 Trung đoàn 36 Đại đoàn 308). Nhờ lập công xuất sắc, tướng Dũng Mã là một trong ba cán bộ chỉ huy trẻ, đều tên là Dũng, được Bác Hồ gọi lên khen ngợi sau chiến dịch Biên Giới.


Bài viết và nguồn ảnh: Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam-Phan Hoàng

huy thanh
29-06-2009, 09:42 PM
http://img174.imageshack.us/img174/9198/daituongnguyenquyetxd9.jpg

Đại tướng Nguyễn Quyết (1922), nguyên: Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam-Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chính ủy-Tư lệnh-Bí thư Đảng ủy Quân khu 3, Chính ủy-Bí thư Quân khu Tả Ngạn, Phó Chính ủy Quân khu Trị Thiên-Chính ủy Mặt trận B8 (Quân khu Trị Thiên), Chủ nhiệm Chính trị Liên khu 5, Chính ủy Mặt trận Quảng Nam Đà Nẵng.

Ngoài ra ông từng là: Đại biểu Quốc hội (khóa 4, 7, http://www.quansuvn.net/Smileys/default/cool.gif, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa 4, khóa 6)-Ủy viên Ban bí thư (khóa 6), Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (nay là Phó Chủ tịch nước), Bí thư thành ủy Hà Nội trong Cách mạng tháng 8.

Huân chương Sao Vàng (2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất...

Đại tướng (1990)

Quê ông ở thôn Dưỡng Phú, xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động. Là con út trong gia đình 10 anh em, ông may mắn hơn cả, được bố mẹ dành dụm từng xu nuôi ăn học hết tiểu học. Nguyễn Tiến Văn là tên cúng cơm bố mẹ đặt cho ông để gửi gắm kỳ vọng muốn ông cố gắng vượt lên đói nghèo bằng con đường kẻ sỹ.

Vừa mới biết nhận thức, ông đã phải chứng kiến cảnh "nhìn thấy gia đình lúc nào cũng khóc", đã phải chứng kiến cái cảnh tử biệt sinh ly cũng bởi do cảnh nghèo. Người chị cả lấy chồng, cũng vì nghèo mà 2 vợ chồng phải đi phu cao su ở Tân Thế Giới.

Người chị thứ hai trong cái năm 45 khủng khiếp vì đói đã phải lang thang khắp chốn rồi cũng không biết qua đời ở đâu, lúc nào. Những người anh lớn lên, người thì mất vì bạo bệnh, người thì theo nghề phu phen đi culi cao su ở Campuchia.

Hai người chị trên ông, một người cũng vì cảnh nghèo mà bố mẹ phải ép gả cho người khác, vì không chịu mà bỏ trốn đi tu, sau cũng biệt tích đến giờ chưa tìm được mộ, người còn lại cũng phải đi ở cho nhà địa chủ...

Là một họ nhỏ trong làng, lại còn là dân ngụ cư, tuổi thơ của ông cũng là những tháng ngày sống trong cảnh hà hiếp của đám lý dịch trong làng, chỉ chờ có cơ hội là ném rượu lậu vào nhà dân để báo quan Tây bắt, cho dù những người bần cùng ấy chỉ lần hồi sống qua ngày bằng một gánh hàng xáo, bằng những bát cháo được nấu từ thứ gạo đi mót...

Hồi nhỏ có lần ông chứng kiến bố ông không chịu được bất công đã cãi lại một tên cường hào. Bị đánh đập, còn trả thù đem rượu lậu bỏ vào nhà rồi lên báo tri huyện cho người về khám xét, bắt bớ…

Trong cái cảnh mờ mịt lúc nào cũng thấy đói thấy khổ ấy, mẹ ông đặt hết hy vọng vào cậu con út Nguyễn Tiến Văn bằng cách khó mấy cũng cho ông đi học. Hết lớp nhất, đến khi phải đi trọ học thì gia đình cũng không thể nuôi ông được nữa.

Hết cách, bà cô ruột gửi ông lên chùa Quán Sứ nhờ một vị sư tìm cho chân giúp việc với ý định dần dần sẽ gửi hẳn ông nương nhờ vào cửa Phật (năm 1937). Nhưng trong những ngày làm chân loong toong chạy phát hành cho tờ "Đuốc Tuệ", ông may mắn được tiếp xúc với giới công nhân và giới báo chí văn nghệ sĩ đang chịu ảnh hưởng mạnh của phong trào “dân sinh dân chủ”.

Cũng từ những mối quan hệ ấy, ông được tiếp cận với sách báo của Đảng, được giác ngộ về báo chí cách mạng. Quãng thời gian ấy đủ để ông lần đầu tiên đưa ra một quyết định quan trọng trong đời mình: bỏ con đường tu hành để theo cách mạng.

Hai lần ông được điều về Hưng Yên hoạt động xây dựng phong trào. Lần thứ nhất là năm 1939. Nhiệm vụ đầu tiên ông được giao là xây dựng phong trào phản đế ở huyện Kim Động. Ông nhằm vào thanh niên vì đây là đối tượng hăng hái và nhạy bén. Dưới danh nghĩa là phóng viên báo Đuốc Tuệ, ông đi lại nhiều nơi, bắt mối kết nạp thêm được nhiều hội viên. Phong trào phát triển mạnh. Đây là cơ sở để ông thành lập Ban chấp hành thanh niên phản đế huyện Kim Động. Đây cũng là thời kỳ ông bắt đầu xây dựng cơ sở cách mạng ở Dưỡng Phú để làm chỗ đứng chân rồi phát triển ra nơi khác...

Năm 1940, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (Đảng Cộng sản Việt Nam). Cuối năm 1941, phong trào ở Hưng Yên bị địch khủng bố ác liệt. Nhiều cơ sở tan vỡ. Trước tình hình đó, ông được điều về củng cố xây dựng lại phong trào, trực tiếp phụ trách địa bàn nam Hưng Yên. Gặp ông trở về, những cơ sở chưa bị lộ phấn khởi bảo “Cách mạng còn”. Đặc biệt là thôn Dưỡng Phú, quê ông, nơi có số đảng viên cũng như hội viên cứu quốc và quần chúng có cảm tình với cách mạng đông nhất, tất cả đều vững vàng kiên định, an toàn trong lúc địch khủng bố ác liệt nhất. Đến năm 1943, ông phát triển được hai chi bộ Dưỡng Phú và Tiên Cầu. Hai chi bộ này trở thành trung tâm cách mạng, chỗ dựa vững chắc để phát triển phong trào ở phía nam tỉnh Hưng Yên.

Với những kinh nghiệm trong xây dựng cơ sở, chống địch khủng bố ở Hưng Yên, cuối năm 1943 ông được ông Hoàng Quốc Việt điều về ban cán sự của Hà Nội phụ trách xây dựng khu căn cứ ở ngoại thành và phong trào công nhân. Lúc này, ông Hoàng Văn Thụ, trực tiếp phụ trách Hà Nội bị địch bắt (sau đó bị địch xử bắn). Các tổ chức đảng của Hà Nội bị vỡ, không còn chi bộ, cơ sở trong phong trào công nhân cũng bị vỡ, các ông bí thư đều bị bắt hay bị lộ phải chuyển đi nơi khác… Tuân thủ nghiêm nguyên tắc hoạt động bí mật của Đảng trên cơ sở sáng tạo, linh hoạt, ông gây dựng được vùng ngoại thành rộng lớn trở thành khu căn cứ an toàn đến khi Cách mạng tháng Tám thắng lợi. Mọi hoạt động của ban cán sự, đoàn thể, lực lượng tự vệ đều phải dựa vào khu căn cứ ngoại thành, do nội thành mật thám dày đặc. Phong trào công nhân dần dần phục hồi phát triển…


Ngày 15.8.1945 khi phát xít Nhật đầu hàng đồng minh vô điều kiện. Trước cao trào mạnh mẽ của quần chúng, địch khủng hoảng đến cao độ. Căn cứ vào chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Thành uỷ nhận định: Thời cơ khởi nghĩa đã đến! Nhưng làm sao khởi nghĩa nhanh, bằng lực lượng nào, bằng phương thức gì trong khi chưa có lệnh của Trung ương? Điều gay cấn nhất là làm sao thắng được 1 vạn quân Nhật và hơn một nghìn lính bảo an và cảnh sát với đầy đủ vũ khí trong tay. Nếu thẳng thừng chiến đấu bằng vũ trang thì cho dù kẻ địch đã mất tinh thần, lực lượng non trẻ của cách mạng cũng rất khó giành chính quyền. Lúc này, toàn thành phố có 3 chi đội tự vệ chiến đấu, vũ khí thô sơ… Nếu Hà Nội chủ trương đánh Nhật thì buộc chúng phải đối phó, ta nhất định sẽ bị thiệt hại và tình hình có thể giằng co kéo dài chưa biết đến bao lâu, trong khi bọn Việt gian gấp rút chuẩn bị thành lập chính phủ nhằm làm đại diện hợp pháp cho Việt Nam để đón quân Đồng Minh (Anh- Tưởng) đang khẩn trương kéo vào để giải giáp quân đội Nhật...


Tối ngày 17.8, với trách nhiệm là Bí thư Thành uỷ, kiêm uỷ viên quân sự của Uỷ ban khởi nghĩa ông cấp tốc triệu tập hội nghị Thành uỷ mở rộng. Lúc đầu, tại cuộc họp, có ý kiến cho rằng, lực lượng quân sự của ta còn yếu nên chờ sự hỗ trợ của Trung ương. Nhưng phân tích kỹ lưỡng, Thành uỷ quyết định khởi nghĩa! Chậm là mất thời cơ… Và quyết định khởi nghĩa gấp vào ngày 19.8.


Ngày 19.8, cở đỏ rợp trời Hà Nội theo các đoàn người từ mọi cửa ô rầm rập tiến về nội thành. Cuộc mít -tinh lớn diễn ra lúc 11 giờ tại Nhà hát Lớn với khoảng 20 vạn người và nhanh chóng chuyển thành cuộc biểu tình thị uy vang dội. Như kế hoạch đã định, quần chúng sau khi mít -tinh sẽ chia làm hai khối, dưới sự chỉ huy của các ông trong Uỷ ban quân sự, cùng tự vệ chiến đấu sẽ lần lượt chiếm những vị trí quan trọng. Đoàn đánh chiếm Phủ Khâm sai, Toà Thị chính, Sở Cảnh sát Hàng Trống do ông Nguyễn Khang phụ trách. Ông Nguyễn Quyết phụ trách đoàn chiếm trại Bảo An binh (nay là 43 Hàng Bài). Việc chiếm trại Bảo An binh tuy lúc đầu có gặp khó khăn nhưng sau đó cũng đã giành thắng lợi. Đến chiều tối thì hầu hết các cơ quan đầu não của chính quyền bù nhìn thân Nhật đã lọt vào tay quần chúng cách mạng...

Sau khi nước nhà giành được độc lập không lâu, một tuần sau, quân Pháp núp bóng quân Anh đổ quân vào miền Nam hòng chiếm nước ta một lần nữa. Nhân dân Nam Bộ đã anh dũng đứng lên chiến đấu. Rời bỏ cương vị Bí thư thành ủy Hà Nội ông lên đường Nam tiến chi viện cho chiến trường Nam Trung Bộ (1.1946). Từ năm 1947 đến năm 1952, ông là Chính ủy Mặt trận Quảng Nam Đà Nẵng. Đến năm 1953, ông là Chủ nhiệm Chính trị Liên khu 5.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tập kết ra Bắc và giữ chức vụ Chính ủy Quân khu Tả Ngạn (1955-1963) rồi Chính ủy Quân khu 3 (1964-1967).

Năm 1968, trước yêu cầu cấp thiết của chiến trường miền Nam ông được điều vào giữ chức vụ Phó chính ủy Quân khu Trị Thiên, kiêm Chính ủy Mặt trận B8 (Quân khu Trị Thiên). Từ năm 1969 đến năm 1974, ông là Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu Tả Ngạn.

Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, từ năm 1976 đến năm 1986, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh, Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu 3. Thời kì này, quân khu 3 nổi tiếng toàn quốc bởi phong trào ''làm giàu đánh thắng'' được đề xướng bởi ông.

Khi ấy, đất nước ta vừa ra khỏi chiến tranh, bị tàn phá nặng nề, cuộc sống của người dân còn muôn vàn khó khăn. Quân khu 3 (gồm 10 tỉnh, thành phố) lúc ấy vừa là tiền tuyến vừa là hậu phương. Một mặt phải chuẩn bị một thế trận vững chắc sẵn sàng đánh bại mọi cuộc xâm lược của kẻ địch. Mặt khác phải tích cực làm kinh tế, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho quân khu.

Trên cơ sở phán đoán tình hình, với cương vị Tư lệnh quân khu, ông đề nghị phát động phong trào lấy tên là “Làm giàu đánh thắng” đồng thời làm 2 nhiệm vụ trọng tâm: sẵn sàng chiến đấu, chi viện, vừa đưa bộ đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, nhằm tháo gỡ khó khăn cho mình góp phần lo cái lo chung của đất nước, được Bộ tư lệnh quân khu thông qua, ra nghị quyết. Đây vừa là khẩu hiệu vừa là phương châm hành động của toàn quân khu. Chẳng hạn, để cải thiện thế trận phong thủ của quân khu tại các tỉnh ven biển, bộ đội đã cùng nhân dân lấn biển, hình thành nhiều điểm dân cư mới, nhiều cơ sở sản xuất mới. Điều này không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa không nhỏ về quốc phòng. Đưa bộ đội tham gia xây dựng công trình trọng điểm cả nước lúc ấy là nhà máy nhiệt điện Phả Lại… Kinh nghiệm ở quân khu 3, cũng được vận dụng vào các đảo nổi, đảo chìm. Ví như ở các tuyến đảo hầu như quanh năm không có rau ăn, rau từ đất liền khan hiếm. Từ khi thực hiện hình thức làm kinh tế đơn vị, ta đưa đất từ đất liền cho vào hộp gỗ để trồng các loại rau. Nhờ đó, bộ đội trên đảo bữa cơm có thêm rau xanh đỡ xót ruột…


Phong trào “Làm giàu đánh thắng” đã được nhân dân nhiệt tình hưởng ứng, được cấp uỷ và chính quyền các địa phương trong quân khu đồng tình và phối hợp chỉ đạo, mang lại kết quả thiết thực và toàn diện về mọi mặt. Ông Trịnh Minh, Phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Nam Ninh khẳng định trong hội nghị Quân khu uỷ năm 1983: “Tỉnh chúng tôi cũng như các tỉnh bạn trong quân khu đều tổ chức và thực hiện nghị quyết nổi tiếng “Làm giàu đánh thắng” để phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng”.

Rời quân khu 3 ông được cử giữ chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị từ tháng 4 năm 1986 đến năm 1987. Từ năm 1987 đến năm 1992 ông giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng nhà nước Việt Nam.

Bài viết: theo Báo Hưng Yên điện tử, Từ điển Bách khoa Việt Nam

Nguồn ảnh: Trang thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 09:44 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Song-Hao.jpg

Thượng tướng Song Hào (20/08/1917-1h22' 09/01/2004), nguyên: Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Trưởng Ban kiểm tra của Quân ủy Trung ương, Ủy viên Tổng Quân ủy, Chính ủy Khu Tây Bắc, Chính ủy Liên khu 10.

Ngoài ra ông từng là: Đại biểu Quốc hội (khóa 4, 5, 6), Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1960-1986), Bí thư Trung ương ĐCSVN (1976-1982), Chủ tịch lâm thời Hội cựu chiến binh Việt Nam, Trưởng ban kiểm tra Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.

Huân chương Sao Vàng (truy tặng 2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương chiến công hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Trung tướng (1959), Thượng tướng (1974)

Thượng tướng Song Hào, tên khai sinh là Nguyễn Văn Khương, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1917 tại xã Hào Kiệt (nay là xã Liên Minh), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1936, trong Phong trào Mặt trận bình dân. Năm 1937, ông phụ trách tổ chức Ái hữu thợ thêu, Thanh niên dân chủ (sau này là Mặt trận phản đế) tại quê hương.

Tháng 4 năm 1939, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương; được cử làm Thư ký Ban Thường trực Liên đoàn Lao động Hà Nội và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội.

Đầu năm 1940, ông bị đế quốc Pháp bắt, kết án 7 năm tù và bị giam ở các nhà tù: Nam Định, Hà Nội, Sơn La, Hòa Bình, Chợ Chu.

Ở trong tù, ông luôn giữ vững khí tiết cách mạng, tích cực tham gia các cuộc đấu tranh. Năm 1943, ông được chỉ định làm Bí thư chi bộ tại nhà tù Chợ Chu, đã cùng các ông đảng viên trong chi bộ liên lạc với các đảng bộ ngoài nhà tù để hoạt động.

Tháng 8 năm 1944, ông đã vượt ngục khỏi nhà tù Chợ Chu về vùng Tuyên Quang, Thái Nguyên hoạt động, được chỉ định làm Chính trị viên Đội tuyên truyền cứu quốc quân hoạt động ở các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và Thái Nguyên.

Tháng 12 năm 1944, ông được chỉ định làm Bí thư Khu căn cứ Nguyễn Huệ.

Tháng 8 năm 1945, ông được cử làm đại biểu đi dự Đại hội Quốc dân tại Tân Trào. Sau đó ông phụ trách cứu quốc quân cướp chính quyền tại hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang.

Cuối năm 1945, ông là Xứ ủy viên Bắc Kỳ phụ trách liên tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và Thái Nguyên.

Tháng 12/1947, ông là Chính ủy Liên khu 10, Khu ủy viên, Bí thư Quân khu ủy. Đến năm 1950, ông là Chính ủy khu Tây Bắc, Bí thư Ban cán sự bộ đội tình nguyện vùng Thượng Lào. Năm 1951, ông là Chính ủy Đại đoàn 308, Bí thư Đại đoàn ủy. Đến tháng 5 năm 1955, ông được cử làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Tổng Quân ủy viên.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (năm 1960), lần thứ IV (năm 1976) và lần thứ V (tháng 3/1982) của Đảng, ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông được cử giữ chức Ủy viên Ủy ban kiểm tra Trung ương Đảng, Trưởng ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương (khóa III). Được Ban Chấp hành Trung ương cử vào Ban Bí thư (khóa IV), phân công làm Trưởng ban Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Tháng 3 năm 1961, ông được cử giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục chính trị, kiêm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương.

Tháng 4 năm 1982 đến tháng 02 năm 1987, ông được phân công giữ chức Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và xã hội.

Tháng 02 năm 1990 đến tháng 12 năm 1992, ông được chỉ định làm Chủ tịch lâm thời Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Bài viết: theo Thông tấn xã Việt Nam

Nguồn ảnh: Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 09:46 PM
http://img174.imageshack.us/img174/4576/trungtuonglevantrinz3.jpg

Trung tướng Lê Văn Tri (13/09/1920-29/05/2006), nguyên: Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật-Bí thư Đảng ủy Tổng cục Kỹ thuật, Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân-Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân chủng. Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không diễn ra trong thời gian ông là Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân. Ông là một trong những vị tướng nối tiếng đất Quảng Bình.

Ngoài ra ông còn từng là: Đại biểu Quốc hội khóa 7, Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 4.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Thiếu tướng (4/1974), Trung tướng (12/1982).

Trung tướng Lê Văn Tri tên thật là Lê Văn Nghi. Theo tác giả Phan Hoàng trong cuốn Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam thì ông sinh năm 1921 nhưng giấy khai sinh đi học thì đề ngày 13 tháng 9 năm 1922, tuy nhiên theo cuốn giới thiệu tướng lĩnh của Quân chủng Phòng không Không quân thì ông lại sinh vào năm 1920.

Quê ông ở xã Hà Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Đây là nơi sinh ra hai vị đại khoa thời Nguyễn, nhà thơ Lưu Trọng Lư, và cũng là quê hương của võ tướng Lê Mô Khởi trong phong trào Cần Vương cùng hai vị tướng nổi tiếng của Quân đội Nhân dân Việt Nam là Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên.

Bố ông mất năm ông lên 3 tuổi. Một ông anh của ông làm thuê ở đồn điền B’lao, Lâm Đồng. Một ông anh khác làm thuê ở Sài Gòn (trực thuộc thành phố Hồ Chí Minh ngày nay). Người anh còn lại ở nhà mất sớm, từ đó ông phải nghỉ học, sau khi đậu bằng yếu lược, ở nhà cùng cô em gái theo mẹ đi buôn bán kiếm sống. Rồi sau đó ông vào Sài Gòn với người anh thứ hai cùng đi làm thuê.

Năm 1939, hai anh em ông trở lại quê, ông vào Đồng Hới vừa đi dậy thêm vừa học. Đúng ra là ba năm, nhưng chỉ sau một năm học ông thi đậu bằng primaire và thi vào Trường Kỹ nghệ Huế học cùng lớp các ông Hoàng Văn Thái (Trung tướng), Trần Văn Trà (Thượng tướng), Trần Sâm (Thượng tướng)…

Ông rất mê thể thao, chơi bóng rổ giỏi, nên học ba năm Trường Kỹ nghệ xong, ông học tiếp thể thao một năm rồi về làm huấn luyện viên thể thao ở thị xã Đồng Hới. Một thời gian sau do có mâu thuẫn dẫn đến xô xát với con trai của quan tuần vũ, án sát nên ông bị cách chức huấn luyện viên và phạt sáu tháng tù. Ông liền trốn vào Biên Hòa làm công nhật ở Sở Công chính.

Tháng 6 năm 1945, ông gia nhập Thanh niên Tiền phong ở Biên Hòa, mà thủ lĩnh là ông Huỳnh Văn Nghệ. Tháng 8 năm 1945, cùng lực lượng của Thanh niên Tiền phong ông tham gia giành chính quyền ở Sài Gòn. Khi cuộc kháng chiến ở Nam Bộ bùng nổ, ông quay về Quảng Bình, tham gia Giải phóng quân thuộc Chi đội Lê Trực của tỉnh (15/9/1945).

Từ chiến sĩ trưởng thành lên, ông lần lượt giữ các chức vụ : Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng, Đại đội phó, Đại đội trưởng Đại đội 12 Phú Quý thuộc Giải phóng quân Quảng Bình.

Năm 1946, ông là Đại đội trưởng, Chi ủy viên Đại đội 6 Ba-na Lào (Mặt trận đường 12). Năm 1948, ông lần lượt giữ các chức vụ : Tiểu đoàn phó, Tỉnh đội phó Tỉnh đội Quảng Bình rồi Chỉ huy trưởng Mặt trận đường 12 trực thuộc Liên khu 4.

Năm 1948, trước tình hình nguy ngập của chiến trường, để ngăn chặn bước tiển của quân Pháp từ Lào xuống Quảng Bình, ông đã chủ động ra lệnh cho bộ đội đánh phá tuyến đường này ở vùng biên giới Cha-lo (Cổng trời). Đó cũng là trận đánh đầu tiên của ông trên cương vị chỉ huy. Tuy nhiên, khi trận đánh vừa kết thúc thì có lệnh của Tư lệnh Liên khu Thiếu tướng Lê Thiết Hùng bắt đưa ông về Bộ Tư lệnh vì tự ý chỉ huy bộ đội đánh phá đường 12 mà không được phép của Bộ Tư lệnh. Lúc ông đang trên đường về Bộ tư lệnh, thì tướng Lê Thiết Hùng nhận được điện khẩn của Bộ tổng Tư lệnh nhanh chóng đưa một tiểu đoàn công binh lên phá đường 12. Cầm bức điện trên tay, tướng Lê Thiết Hùng biết cấp dưới của mình đã làm đúng và ra lệnh cho ông trở về đơn vị tiếp tục chỉ huy đánh giặc.

Năm 1949, ông là Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Quảng Bình kiêm Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 274 trực thuộc Trung đoàn 18. Năm 1950, ông là Trung đoàn phó Trung đoàn 161 kiêm Tham mưu phó Phân khu Trị Thiên.

Đến năm 1952, ông giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 95 thuộc Đại đoàn 325 Trị Thiên, Trung đoàn 101 Trần Cao Vân. Đảng ủy viên, Bí thư Đảng ủy Trung đoàn 95.

Tháng 3 năm 1953, ông được điều rời chiến trường Bình Trị Thiên về tổ chức xây dựng Trung đoàn pháo cao xạ 367 (Pháo phòng không 37mm, đây là Trung đoàn Pháo cao xạ đầu tiên của Quân đội ta), tham gia chiến đấu trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (Đông Xuân 1953-1954).

Đầu tháng 3-1954, Trung đoàn pháo cao xạ phòng không 367 được cấp trên quyết định đưa đi trực tiếp tham gia chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954. Thực hiện lệnh hành quân lên Tây Bắc, sau bao ngày vất vả, gian khổ, Trung đoàn 367 đã kịp thời chuẩn bị xong trận địa pháo để đúng ngày 13-3-1954, mở màn chiến dịch. Liên tiếp những trận đánh diễn ra. Quân Pháp không ngờ là ta lại có pháo cao xạ phòng không và càng không ngờ là mới lần đầu tham gia chiến trường, các đơn vị pháo phòng không của ta lại vững vàng làm chủ kỹ thuật, phát huy mạnh mẽ hỏa lực xung quanh trận địa chiếm đồ tiếp tế của Pháp từ trên không thả dù xuống. Đồ tiếp tế không rơi trúng mục tiêu và đã bị bộ đội ta tịch thu rất nhiều, càng đẩy quân Pháp vào tình thế hoang mang dao động, khốn cùng và tuyệt vọng. Tổng cộng 55 ngày đêm chiến dịch Trung đoàn bắn rơi 52 máy bay trong tổng số 62 máy bay bị bắn rơi trong Chiến dịch.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, một nửa đất nước được giải phóng. Trung ương quyết định từng bước chính quy hóa, hiện đại hóa Quân đội. Quân ủy Trung ương đặc biệt quan tâm xây dựng các quân binh chủng mới như hải quân, phòng không, không quân, xe tăng, pháo binh, thông tin…Riêng phòng không thì xây dựng phòng không dã chiến, phòng khi bảo vệ các yếu điểm chiến lược quốc gia. Trung đoàn 367 do ông làm Trung đoàn trưởng được nâng thành Đại đoàn 367 trực thuộc Bộ Tư lệnh Binh chủng pháo binh, sau trực thuộc Bộ Quốc phòng, do ông Hoàng Kiện (Trung tướng) làm Đại đoàn trưởng, Đoàn Phùng làm Chính ủy, ông làm Đại đoàn phó-Đảng ủy viên (9/1954).

Sau khi ông Hoàng Kiện cùng một số cán bộ đại đoàn đi học, ông được lệnh chuyển binh chủng pháo 40, 88 và 90 ly thành lập các trung đoàn bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và Vinh. Nhờ các ông Đào Sơn Tây (Thiếu tướng), Nguyễn Quang Tuyến, Dương Hán (Thiếu tướng), Nguyễn Cận đi học các loại súng pháo trên trở về, nên việc chuyển binh chủng diễn ra nhanh. Cuộc bắn đạn thật đầu tiên ở Vai Cầy cũng đạt kết quả tốt, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp và tướng Lê Thiết Hùng đến dự khen ngợi.

Khi Đại đoàn trưởng Hoàng Kiện đi học trở về. Ông Đào Sơn Tây lên làm Đại đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng. Ông rời Đại đoàn xuống Kiến An, Hải Phòng học văn hóa, học tiếng Trung Quốc cho tới đầu tháng 8 năm 1956 thì được lệnh về Hà Nội chuẩn bị sang Liên Xô học tập ở Học viện Pháo binh Leningrad.

Đoàn học viên gồm năm mươi người sang học tại nhiều học viện quân sự khác nhau, do ông Đàm Quang Trung làm đoàn trưởng, ông Lê Tự Đồng phụ trách chính trị, ông làm Đoàn phó Hậu cần. Ngày 20 tháng 8 năm 1956, đoàn rời Hà Nội đi xe lửa qua Bắc Kinh, Mãn Châu Lý rồi sang Matxcova, rồi tiếp sau đó ông về Học viện ở Leningrad học tập ở đây 4 năm.

Năm 1961, sau khi học tập ở Liên Xô trở về, ông làm Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Pháo binh phụ trách về pháo phòng không (12/1961) cho đến tháng 12 năm 1963 ông được cử giữ chức Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân-Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân chủng.

Tháng 9 năm 1964, ông được đề bạt lên làm Cục phó Cục tác chiến rồi Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân-Tham mưu trưởng mà ông Phùng Thế Tài (Thượng tướng) làm Tư lệnh, ông Đặng Tính (Đại tá, Liệt sĩ) làm Chính ủy. Khi ông Phùng Thế Tài chuyển lên làm Phó Tổng tham mưu trưởng, ông Đặng Tính kiêm Tư lệnh. Sau khi ông Đặng Tính vào làm Chính ủy đường Trường Sơn, ông được cử giữ chức Tư lệnh còn ông Hoàng Phương (Trung tướng) làm Chính ủy (1971).

Năm 1972, sau khi dùng đủ mọi phương tiện chiến tranh hiện đại nhất nhưng vẫn chuốc lấy thất bại, quân Mỹ đã dùng đến lực lượng máy bay chiến lược B52 ném bon trải thảm vùng giải phóng miền Nam rồi miền Bắc hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương đối với tiền tuyến. Trận Điện Biên Phủ là diễn biến tất yếu của tình hình đó. Lúc đó có rất nhiều ý kiến khác nhau về khả năng đánh trả và đánh thắng B52. Bộ Tư lệnh Quân chủng Không quân khi đó đã đề xuất kế hoạch kiên quyết đánh trả B52 trước Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, kế hoạch này đã được hoàn thành vào tháng 9 năm 1972 và được Quân ủy Trung ương chính thức phê chuẩn. Trên cương vị là Tư lệnh, ông là người trực tiếp chỉ huy thực thi bản kế hoạch công phu này, bản kế hoạch sáng tạo, biết kế thừa những kinh nghiệm đụng độ B52 trước đó cũng như áp dụng của khoa học kĩ thuật. Kết quả: Mỹ đã huy động 193 máy bay B52 chiếm 48% lực lượng B52 của Mỹ. Máy bay chiến thuật của không quân và hải quân được huy động đến gần ngàn chiếc từ các căn cứ Thái Lan và sáu tầu sân bay ngoài biển Đông. Sau 10 ngày đêm, có 81 máy bay các loại trong đó có 31 máy bay B52 và 5 chiếc F111 bị bắn rơi. Lực lượng phi công Mỹ bị khủng hoảng tinh thần trầm trọng. Nhân dân Mỹ, nhân dân tiến bộ trên thế giới xuống đường dòi chấm dứt chiến tranh.

Năm 1975, trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông trực tiếp nhận lệnh của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Ngyên Giáp vào Phan Rang trực tiếp chỉ huy trận không kích sân bay Tân Sơn Nhất bằng phi đôi máy bay A37 thu được của quân Ngụ, phát tín hiệu tổng tiến công giải phóng Sài Gòn.

Đất nước hoàn toàn thống nhất, ngày 10 tháng 3 năm 1977, ông được cử giữ chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật kiêm Bí thư Đảng ủy Tổng cục cho đến khi về hưu (1988).

Trước năm 1945, chàng trai trẻ Lê Văn Tri vào Sài Gòn để sinh sống rồi tham gia cách mạng. Mùa xuân 1975, Thiếu tướng Tư lệnh Lê Văn Tri là người chỉ huy phi đội Quyết thắng tấn công Tân Sơn Nhất phát tín hiệu cho cuộc tấn công vào Trung tâm Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Cuối đời, về hưu ông lại chọn thành phố Hồ Chí Minh là nơi nghỉ ngơi cuối cùng (chợ Hạnh Thông Tây, Tân Bình) Có thể nói, cuộc đời ông là một điển hình cho người lính Việt Nam thế kỉ 20: đi từ tầm vông vạt nhọn của những ngày Cách mạng tháng 8 đến máy bay tên lửa, từ người lính binh nhất binh nhì trở thành sĩ quan cao cấp và đồng thời vừa là bộ đội chủ lực vừa là dân quân.

Bài viết và nguồn ảnh: theo Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam-Phan Hoàng

huy thanh
29-06-2009, 09:48 PM
http://img174.imageshack.us/img174/9241/huynhvannghekz0.jpg

Huỳnh Văn Nghệ (2/1/1914-5/3/1977), nguyên: Cục phó Cục Quân huấn Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Thủ Biên (Thủ Dầu Một và Biên Hòa sát nhập), Khu trưởng Khu 7, Cố vấn quân sự của Ủy ban kháng chiến miền Đông Nam Bộ.

Ngoài ra, ông còn từng là: Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp, Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp miền Nam, Trưởng ban Lâm nghiệp Trung ương cục miền Nam, Phó Ban Kinh tài (Kinh tế Tài chính) TƯCMN, Phó Bí thư Đảng ủy căn cứ-Trưởng Ban căn cứ TƯCMN).

Ông không những là một nhà chỉ huy quân sự tài ba mà còn là một nhà báo, nhà thơ với nhiều tác phẩm khá nổi tiếng. Nhiều người dân Nam Bộ yêu kính và trìu mến gọi ông là "Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ".

Tên tuổi ông được ghi trong sách Trí thức Sài Gòn - Gia Định, được đưa vào Từ điển danh nhân Việt Nam, Từ điển thành phố Sài Gòn - Hồ Chí Minh, được đặt tên cho trường học ở Tân Uyên, nơi vùng đất chiến khu Đ năm xưa và một số đường phố ở Bình Dương, Biên Hòa, TP Hồ Chí Minh.

Quân hàm cao nhất của Huỳnh Văn Nghệ trong Quân đội tuy mới chỉ là Thượng tá, nhưng ông vẫn được đồng bào, đồng chí đặc biệt là những ai từng chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, Chiến khu Đ thời Kháng chiến chống Pháp, trìu mến và trân trọng gọi là tướng quân. Điều đó hoàn toàn xứng đáng với tài năng và công lao của ông, bởi như theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì tiêu chí phong quân hàm là ''Thắng được tá phong tá, thắng được tướng phong tướng'' trong khi ông đã làm thất điên bát đảo, khiến cho điêu đứng bao nhiêu tướng Pháp.

Huỳnh Văn Nghệ (bí danh Hoàng Hồ, Tám Nghệ) sinh ngày 2/1/1914 tại làng Tân Tịch, huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (nay là xã Thường Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).

Huỳnh Văn Nghệ sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo nhưng giàu truyền thống chống giặc ngoại xâm. Cha ông là thầy dạy võ can trường, tuy bị quan lại ngăn cấm nhưng vẫn bí mật dạy võ cho thanh niên, bảo vệ người nghèo, chống áp bức bất công.

Là người thông minh học giỏi nên Huỳnh Văn Nghệ được nhận học bổng tại Trường trung học Petrus Ký Sài Gòn (nay là Trường THPT Lê Hồng Phong) và sớm giác ngộ, tham gia các hoạt động cách mạng.

Từ năm 1932, ông luôn tìm cách giúp đỡ, bênh vực người nghèo, chống Pháp xâm lược và tay sai. Huỳnh Văn Nghệ tích cực tìm đến với cách mạng và đã được tuyên truyền về Đảng Cộng sản Đông Dương, rồi giác ngộ và tham gia vào các hoạt động do Đảng lãnh đạo.

Những năm 1936-1939, ông tham gia phong trào Đông Dương đại hội ở Sở Xe lửa Sài Gòn. Năm 1940, tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ. Cuộc khởi nghĩa thất bại, Pháp điên cuồng đàn áp những người cộng sản, một số phải rút về rừng Tân Uyên hoạt động, ông lo việc tiếp tế đạn dược, thuốc men cho số ông này.

Năm 1942, bị lộ, ông phải trốn sang Thái Lan và hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước. Tại đây, ông tổ chức xuất bản tờ báo Hồn cố hương, kêu gọi kiều bào hướng về Tổ quốc, ủng hộ cách mạng.

Năm 1944, Huỳnh Văn Nghệ về nước, bắt liên lạc với cách mạng và được ông Trần Văn Giàu, Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ phân công lập căn cứ Đất Cuốc tại Tân Uyên, Biên Hòa, được kết nạp Đảng, lập Đoàn Cựu binh sĩ và tham gia Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, trực tiếp tham gia chỉ huy giành chính quyền ở Biên Hòa. Tự tay ông đã bắt tên cò Phước, tỉnh trưởng Quý, tòa Nhan ở Biên Hòa rồi Dương Văn Giáo phá vợ âm mưu của thực dân Pháp muốn lập chính phủ bù nhìn Nam kỳ quốc, giải phóng tù chính trị bị chính quyền Nhật giam giữ.

Tại hội nghị Chợ Đệm, Ủy ban nhân dân Nam Bộ bổ nhiệm Huỳnh Văn Nghệ làm cố vấn Ủy ban kháng chiến miền Đông. Mặc dù Ủy ban này đã rút lui trước về Biên Hòa, Xuân Lộc cùng với nhiều đơn vị như Đệ nhị sư đoàn, Cộng hòa vệ binh, bộ đội Nam Long, nhưng khi giặc Pháp lấn chiếm ra các vùng ngoại vi Sài Gòn - Gia Định, ông đã ở lại tham gia chiến đấu tại các mặt trận Sài Gòn - Chợ Lớn, Thị Nghè, đường số 1 (từ Sài Gòn đi Biên Hòa), Băng Ky, Bình Lợi, Thủ Đức... chặn bước tiến của giặc về miền Đông Nam Bộ. Sau đó, ông tổ chức đốt Tòa bố, Sở cò, Bưu điện Biên Hòa, thu 23 khẩu súng trường, đem về Tân Uyên xây dựng lực lượng.

Tại đây, Huỳnh Văn Nghệ tổ chức xây dựng giải phóng quân Biên Hòa và trực tiếp làm chỉ huy trưởng. Căn cứ Tân Uyên được ông bố trí phòng ngự vững chắc, đã đảm nhiệm vai trò bảo đảm hậu cần cho lực lượng vũ trang của tỉnh và các tỉnh bạn theo lệnh của Khu trưởng Nguyễn Bình, đồng thời làm nhiệm vụ bảo vệ Khu bộ, tiếp liệu cho các công binh xưởng của Khu, tích cực tham gia xây dựng các cơ quan quân, dân, chính của tỉnh.

Dưới sự chỉ huy của Huỳnh Văn Nghệ, không bao lâu sau, Tân Uyên trở thành một trong những căn cứ kháng chiến vững mạnh nhất ở Nam Bộ.

Đầu năm 1946, quân Pháp liên tiếp mở các trận tiến công lớn vào chiến khu Tân Uyên - Lạc An (Chiến khu Đ). Ngày 2/1/1946, Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy lực lượng chủ công tham gia trận phản công lớn đầu tiên của Nam Bộ do Khu tổ chức đánh vào thị xã Biên Hòa.

Sau khi tham gia trận Tân Uyên và chỉ huy mặt trận Tân Tịch - Lạc An (2/1946) giành thắng lợi, Huỳnh Văn Nghệ được Khu trưởng Nguyễn Bình chỉ định làm Chi đội trưởng Chi đội 10. Trên cương vị mới trong thời gian 1946-1947, ông đã chỉ huy các đơn vị chiến đấu bảo vệ nhân dân, bảo vệ Khu bộ, các công binh xưởng, phát động chiến tranh du kích, địch vận... góp phần tiêu hao sinh lực địch, mở đầu cho phong trào giao thông chiến ở Nam Bộ, phổ biến kỹ thuật đánh địa lôi điện.

Tháng 3/1948, Huỳnh Văn Nghệ nhận nhiệm vụ Khu bộ phó Khu 7, kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 310.

Ngày 1/3/1948, với cương vị chỉ huy trưởng, ông tham gia trận La Ngà - trận giao thông chiến lớn nhất ở Nam Bộ kể từ ngày giặc Pháp tái chiếm nước ta. Sau trận này, Trung đoàn 310 được Bác Hồ khen thưởng Huân chương Chiến công hạng 2, Trung đoàn trưởng Huỳnh Văn Nghệ được Bác Hồ tặng thưởng một chiếc áo trấn thủ.

Tháng 7/1948, thi hành lệnh của Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ, trong hoàn cảnh hết sức nguy hiểm, Huỳnh Văn Nghệ một mình đến căn cứ Bình Xuyên, dùng lý lẽ và tình cảm thuyết phục được thủ lĩnh Bình Xuyên lúc bấy giờ là Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) về dự hội nghị, giúp Xứ ủy và Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ giải quyết được “vấn đề Bình Xuyên”, rất gay go lúc bấy giờ.

Cùng thời gian này, ông được bổ nhiệm làm Khu trưởng Khu 7. Trên cương vị mới, ông đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng căn cứ mới của Khu, thành lập bộ đội chủ lực Khu 7 (Bộ đội 303). Đặc biệt, ông nghiên cứu, tìm ra cách đánh tháp canh, giải quyết được sự bế tắc về chiến thuật ở Khu 7 lúc bấy giờ.

Năm 1950, sau khi sáp nhập Sài Gòn - Chợ Lớn vào Khu 7, ông giữ chức Phó tư lệnh Khu 7. Năm 1951, khi hai tỉnh Thủ Dầu Một - Biên Hòa sáp nhập, ông là Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, kiêm Tỉnh đội trưởng Thủ Biên, chỉ huy nhiều trận đánh lớn bảo vệ Bộ Tư lệnh Nam Bộ đóng ở Chiến khu Đ. Năm 1952, trong trận lụt “thế kỷ”, ông xông pha chỉ huy chống lụt ở Thủ Biên, bảo vệ được bộ đội và dân.

Sau thảm họa thiên tai đó, lợi dụng tình thế khó khăn của quân dân ta, địch huy động 11 tiểu đoàn tiến công vào Chiến khu Đ. Lực lượng của tỉnh chỉ có một tiểu đoàn nhưng dưới sự chỉ huy tài tình của Huỳnh Văn Nghệ đã anh dũng chiến đấu suốt 52 ngày đêm, tiêu diệt gần một tiểu đoàn địch, phá tan âm mưu của chúng gom dân và tiêu diệt lực lượng ta.

Tháng 5-1953, ông được cử ra miền Bắc học và ở lại công tác gần 12 năm, trải qua các chức vụ: Trưởng phòng Thể dục thể thao, Cục phó Cục Quân huấn, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục phó Tổng cục Lâm nghiệ

Năm 1965, ông được điều động trở về Nam Bộ, lần lượt giữ các chức vụ: Trưởng ban căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Phó bí thư Đảng ủy căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Phó ban Kinh tài Trung ương Cục miền Nam, Trưởng ban Lâm nghiệp Trung ương Cục miền Nam.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông là Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp miền Nam, Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp. Ngày 5/3/1977, ông mất tại Bệnh viện Thống Nhất sau thời gian lâm bệnh nặng, thọ 63 tuổi.

Huỳnh Văn Nghệ không chỉ là một nhà chỉ huy quân sự tài năng, kiên cường với cuộc đời hoạt động cách mạng oanh liệt, vẻ vang mà còn là một cây bút tràn đầy nhiệt huyết trong các hoạt động báo chí, văn hóa, văn nghệ, đặc biệt là ở lĩnh vực thơ ca. Qua các tác phẩm của ông, người đọc có thể hiểu thêm về quê hương, gia đình, cuộc đời binh nghiệp, văn nghiệp của ông, về cuộc chiến đấu gian khổ, trường kỳ, oanh liệt của nhân dân miền Đông Nam Bộ.

Có thể thấy từng bước đi, mỗi dấu ấn tâm hồn chân thực, xúc động của cuộc đời một nhà thơ - chiến sĩ qua những tác phẩm như: Quê hương rừng thẳm sông dài, Những ngày sóng gió, Anh chín Quỳ, Trận Mãng Xà, Sấu đỏ mũi, Tiếng hát trên sông Đồng Nai, Mất đồn Mỹ Lộc (văn), Mộng làm thơ, Đám ma nghèo, Trốn học, Tết quê người, Bốn mùa, Trả lời thư Lan, Bến cũ, Bà bán cau, Thú tội, Mộ bia, Lời chim, sông Đồng Nai, Bên bờ sông xanh, Mất Tân Uyên, Xuân chiến khu, Mẹ Nam con Bắc, Tiếng hát giữa rừng, Nhớ Bắc, Bà mẹ Việt Nam, Rừng nhớ người đi, Em bé liên lạc, Cái chết của anh Xiễng, Tình súng, Chiến khu Đ chống bão, Giữ bí mật, Hình ảnh Bác Hồ trong lòng Nam Bộ, Trở về, Rừng đẹp, Một trận chống càn... và những hồi ký đăng trên các báo Quân đội nhân dân, Tạp chí Văn nghệ quân đội, các bài viết cho Đài Tiếng nói Việt Nam,...

Các tác phẩm của ông, bên cạnh đề tài chiến đấu, là đề tài tình cảm Nam Bắc ruột thịt rất sâu nặng.

Từ năm 1937, anh thanh niên Huỳnh Văn Nghệ đã có những bài thơ sâu lắng tình cảm và nói lên chí hướng:

Đưa tay lên chỉ trời cao trong vắt

Hai ngôi sao trong chòm sao Nam, Bắc

... Muốn làm sao ta có sợi dây đàn

Đem giăng thẳng nối Nam Bắc

Chờ tiếng xôn xao trong ngày đã tắt

Ta trỗi lên khúc "hận ngàn thu”.

(Trăng lên)

Khi phác họa lại lịch sử quê hương mình, ông viết:

Có con sông cũng từ hướng bắc

Vượt núi rừng ghềnh thác

Tràn vào Nam cuộn cả bóng mây cao.

(Sông Đồng Nai)

Đó còn là bài thơ "Mẹ Nam con Bắc" (1953) kể về tình mẫu tử sâu nặng của một bà má miền Nam đã hành động dũng cảm, mưu trí để kẻ thù phải thả người con nuôi là anh lính miền Bắc.

Mẹ bắt được lá thăm

Cầm lo le, bối rối

Nhờ cán bộ đọc giùm

Tên đứa con bộ đội.

"Anh tên Nguyễn Văn Đối

Quê quán ở Hưng Yên

Sở cao su Thuận Lợi

Nhập ngũ cướp chính quyền".

Mẹ mừng rơi nước mắt,

Khoe khắp cả xóm làng:

Được đứa con người Bắc

Chiến sĩ của trung đoàn.



"Má có gì ăn nấy

Mới là tình mẹ con

Ăn xong tao vá áo

Mới cho về trung đoàn".

Một hôm đi công tác

Đối bị bắt vào đồn.

Mẹ thương con đứt ruột

Chạy sứt cả da chơn.

(Mẹ Nam con Bắc)

Bài thơ "Hình ảnh Bác Hồ trong lòng Nam Bộ" (1960) nhắc lại những ký ức của nhà thơ về Bác Hồ trong kháng chiến chống thực dân Pháp, kể về một anh chiến sĩ bị thương đã lấy máu mình viết lên tường 5 chữ: “Thành phố Hồ Chí Minh”. Hình ảnh Bác Hồ gần gũi, với mỗi con người, được ông thể hiện sâu đậm trong thơ:

...Trong ba lô chiến sĩ

Trong cặp vở học trò

Trong bức tranh họa sĩ

Trong vần điệu nhà thơ.

Trước sự quả cảm, kiên cường chịu khó khăn của chiến sĩ trong hoàn cảnh kháng chiến còn nhiều gian khổ, khi phải cưa bỏ cái chân bị thương bằng cưa thợ mộc, ông đã viết:

Trở lên mình ngựa đi từng bước

Cúi đầu nén nỗi đau thương

Nhưng lửa căm hờn

Bỗng dựng cao đầu ngựa dậy

Vang trời ngựa hí

Chí phục thù cháy bỏng tay cương.

(Tiếng hát giữa rừng)

Đặc biệt, bài thơ "Nhớ Bắc" ông viết năm 1940 tại sân ga Sài Gòn với những câu thơ hào sảng chí khí, thấm đậm tình cảm của đồng bào, chiến sĩ miền Nam hướng về thủ đô Hà Nội trong những năm dài kháng chiến gian nan, một bài thơ còn đọng lại mãi trong tâm hồn nhiều thế hệ người dân, chiến sĩ, thi sĩ Việt Nam với những câu:

Ai về Bắc ta đi với

Thăm lại non sông giống Lạc Hồng

Từ độ mang gươm đi mở cõi

Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.

(Nhớ Bắc)

Một Huỳnh Văn Nghệ mưu lược, văn võ song toàn, xông pha trận mạc làm quân thù nghe danh bạt vía kinh hồn nhưng ông, đồng bào, đồng đội luôn hướng về ông với sự ngưỡng mộ, cảm phục, và trìu mến gọi ông với cái tên thân thiết: anh Tám Nghệ.

Cuộc đời Huỳnh Văn Nghệ đã khắc họa trong lòng nhân dân Nam Bộ một hình ảnh tuyệt đẹp của - Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ.

Bài viết: Theo Báo An ninh Online

huy thanh
29-06-2009, 09:51 PM
http://img174.imageshack.us/img174/2382/daitalehuytoanof9.jpg

Đại tá Họa sĩ Lê Huy Toàn (10/10/1930-19h24' 22/9/2007), nguyên Bí thư Đảng ủy Xưởng Mỹ thuật Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông từng là họa sĩ của Tổng cục Chính trị rồi Viện Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huy chương Vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam...

Đại tá Lê Huy Toàn quê tại xã Kiêu Kị, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội nhưng ông sinh ra và lớn lên tại thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Được thừa hưởng tài hoa nghệ thuật từ người cha, vốn là một họa sĩ vẽ truyền thần, ông sớm bộc lộ tài năng hội họa và âm nhạc từ rất nhỏ. Nếu chiến tranh không xảy ra, ông đã được cha mẹ cho theo học ở trưởng Cao đảng nhạc họa Đông Dương.

Năm 1945, khi ông mới 15 tuổi, cách mạng tháng Tám thành công đánh giấu một bước ngoặt trong cuộc đời của ông. Với lòng yêu nước của người thanh niên mới lớn ông tham gia ngay vào cuộc kháng chiến vệ quốc bảo vệ nền độc lập còn non trẻ của nước nhà, cống hiến hết tài năng và sức lực của mình cho cách mạng. Với giọng nam cao trầm ấm và tay đàn ngọt đã được tôi luyện từ nhỏ, ông xung phong vào đội lưu động bình dân học vụ của tỉnh. Tham gia đủ các vai : ca, múa, nhạc, kịch. Lúc không diễn thì tham gia vẽ tranh cổ động, viết khẩu hiệu kháng chiến và địch vận.

Tháng 9 năm 1947, ông gia nhập Quân đội và được biên chế vào đội hình Trung đoàn 87 cùng đơn vị với Nhạc sĩ Văn Cao, ở tiểu đội vũ trang tuyên truyền độc lập. Sau những chiến công lẫy lững trên dòng sông Lô, đặc biệt là trong chiến dịch Việt Bắc Thu Đông (cuối 1947), đơn vị ông được vinh dự mang tên Trung đoàn Sông Lô (E209). Nếu nhạc sĩ Văn Cao cho ra đời Trường ca sông Lô thì ông cho ra đời một loạt tác phẩm bằng tranh ca ngợi những chiến thắng của Trung đoàn.

Năm 1951, Đại đoàn Chiến thắng (F312) được thành lập, ông trở thành họa sĩ của sư đoàn. Trên cương vị là họa sĩ tờ báo Chiến thăng, cơ quan tuyên truyền ngôn luận của Đại đoàn, ông đã cùng đồng đội ra báo nhanh chóng và kịp thời, góp phần cổ vũ, động viên bộ đội và dân công tại mặt trận. Bước chân của ông đã đi khắp miền Tây Bắc, Đông Bắc tham gia các chiến dịch Việt Bắc, Biên Giới, Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào rồi Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Tháng 8/1954, ông được điều về làm họa sĩ ở phòng Văn nghệ thuộc Cục tuyên huấn Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Khi tạp chí Văn nghệ Quân đội ra đời, ông là một trong những họa sĩ đầu tiên (6/1958).

Tháng 2/1973, ông là Bí thư đảng ủy Xưởng Mỹ thuật Quân đội cho đến tháng 12/1989 là họa sĩ Viện Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam) cho đến khi nghỉ hưu năm 1992.

Lần đầu tiên được thấy những bức vẽ của ông, người xem cảm nhận có điều gì đó thật cuốn hút. Đó không đơn thuần là hội hoạ, mà chứa đựng tất cả những rung cảm, suy tư và tài năng của một hoạ sĩ- người lính trong suốt trải nghiệm 45 năm tham gia quân ngũ. Đại tá-Họa sĩ Lê Huy Toàn là tấm gương tiêu biểu của một người lính Cụ Hồ, một họa sĩ bậc thầy của nền hội họa cách mạng Việt Nam. Mặc dù không qua bất kì một trường lớp đào tạo bài bản nào, nhưng với một tài năng bẩm sinh cộng với niềm say mê học tập, nghiên cứu và sáng tạo ông đã để lại cho nền mỹ thuật Việt Nam nhiều tác phẩm nổi tiềng và hiện đang được lưu giữ tại nhiều bảo tàng quốc gia và quốc tế như : tranh sơn dầu Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, tranh sơn dầu hoành tráng Chiến dịch Điện Biên Phủ, tranh sơn dầu Tọa độ lửa khắc họa chiến thắng 5/8/1964, tranh sơn dầu Bác Hồ thăm bộ đội cao xạ năm 1965, tranh sơn mài hoành tráng Việt Nam bản anh hùng ca…Đối với ông “45 năm trong quân ngũ cứ mải miết phục vụ quân đội đấy là một vinh dự”.

Đại tá Họa sĩ Lê Huy Toàn có mặt hầu hết ở những địa điểm, chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước nói chung và quân đội nói riêng từ Chiến dịch Biên giới (1950), Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc bằng chiến thắng mùa Xuân (1975)…Là một họa sĩ sâu sát với thực tế bàn chân ông đã đi qua khắp miền Tây Bắc, Đông Bắc tham gia các chiến dịch Việt Bắc, Biên Giới, Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào rồi Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử trong kháng chiến chống Pháp rồi trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc với cây súng, cuốn sổ và cây bút, ông miệït mài đi, miệt mài vẽ, đói cũng vẽ, xung quanh bom rơi đạn nổ cũng vẽ, có lần đạp xe từ Hà Nội vào Vĩnh Linh để vẽ. Những cuốn “nhật ký” bằng tranh ghi lại những gì mà ông đã trải qua hoặc chứng kiến đồng bào, đồng chí nếm trải qua những năm tháng chiến tranh thực sự là có một không hai.Kết quả của những tháng ngày này là hàng chục nghìn bức kí họa về những khoảnh khắc, những hình ảnh sống, chiến đấu của quân và dân ta trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc. Từ những bức kí họa đó, ông đã dựng nên những tác phẩm hội họa hoành tráng.Như “Lịch sử Điện Biên Phủ”, “Hà Nội tháng 12 năm 1972”, bức “Đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam”, đặc biệt là bộ tác phẩm nổi tiếng “Việt Nam anh hùng ca” gồm 4 chương: Tổ quốc; Cách mạng; Thắng hai đế quốc to (bức này dài tới 8 m) và Xây dựng - bảo vệ Tổ quốc.Nhân dịp kỉ niệm 31 năm miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, ông hoàn thành bức vẽ hoành tránh về chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Bản ‘’trường ca’’ bằng hình này dài tới 40m, chia làm 3 phần : Chuẩn bị chiến dịch, Chiến đầu thần tốc và Chiến thắng. Bức vẽ tái hiện lại những hình ảnh ông ghi lại trong những ngày lăn lội khắp các chiến trường máu lửa, từ vĩ tuyến 17 qua mảnh đất Vĩnh Linh nóng bỏng bom đạn, vào Huế, Đà Nẵng anh hùng đến Tây Nguyên bất khuất qua cửa ngõ Xuân Lộc, vào đô thị Sài Gòn giải phóng.



Dù rất thành công với các bức vẽ về đề tài chiến tranh, nhưng ông vẫn hồn hậu một tình yêu cuộc sống thanh bình. Ngay trong những tháng ngày bom đạn cùng đồng đội đi khắp các chiến trường, cây bút của ông vẫn không quên ghi lại những hình ảnh bình dị của cuộc sống, đó là các em bé Nha Trang ra bờ biển học bài sau khi bom đạn vừa dứt, là phiên chợ Đầm (Nha Trang) họp vội...’’Tranh của tôi tôn vinh cái đẹp vĩnh hằng, tôn vinh ước mơ của loài người là được sống trong hoà bình, tôn vinh đất nước và con người Việt Nam. Thiên nhiên và lịch sử đã dạy cho tôi biết yêu cái đẹp ! Cuộc đời tôi vẽ đất nước, con người Việt Nam, trước hết cho các cháu thiếu nhi, thanh niên, các cụ già, cho đồng bào mình xem, hiểu được là tôi thấy hạnh phúc. Đó là cái mơ ước cao nhất tôi đã thực hiện được’’ (ông tâm sự)

huy thanh
29-06-2009, 09:54 PM
http://img390.imageshack.us/img390/3751/trungtuongnguyennangrh6.jpg

Trung tướng Phó Giáo sư Nguyễn Năng (1927-19h16’ 30/6/2007), nguyên Phó Viện trưởng - Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng), nguyên Tư lệnh Phó mặt trận Tây Nguyên.

Huân chương Ðộc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Ba, Huân chương Chiến công (hạng Nhì, hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba), Huân chương của Nhà nước Lào, Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Ông được phong quân hàm Thiếu tướng (4/1980), Trung tướng (4/1989).

Trung tướng, Phó Giáo sư Nguyễn Năng sinh tại xã Hà lâm, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Ông tham gia hoạt động cách mạng trước tháng 8-1945. Tháng 4-1948, ông được đứng trong hàng ngũ của Ðảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 10-1960 đến tháng 9-1963 ông là Tham mưu phó Ðoàn 959 chiến đấu ở Thượng Lào; tháng 10-1963 đến 6-1964 học văn hóa ở Lạng Sơn và Liên Xô (trước đây); tháng 6-1965 đến tháng 11-1967 là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2, Quân khu 5; tháng 12-1967 đến tháng 2-1972 ông là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 312, Cục trưởng Cục Quân sự Học viện Quân sự; tháng 3-1972 đến tháng 6-1974 là Tham mưu phó Quân khu 5; tháng 7-1974 đến tháng 2-1975 là Tư lệnh phó Mặt trận B3 Pháp Nguyên; tháng 3-1975 là Tư lệnh phó Quân đoàn 3.

Tháng 6-1976 là Trưởng khoa Chiến dịch Học viện Quân sự cấp cao; tháng 8-1978 là Phó Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao; tháng 2-1979 đến tháng 9-1980 là Phó Tư lệnh Quân khu 2 kiêm Tư lệnh Quân đoàn 6; tháng 10-1980 đến tháng 8-1996 ông là Phó viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao, nay là Học viện Quốc phòng; tháng 9-1996 ông được về hưu.

huy thanh
29-06-2009, 09:59 PM
http://nhandan.viet4phuong.com/nhandan/Vietnamese/chinhtri/cttinchung/260208/Image/i63_093825.jpg

Trung tướng Giáo sư Đỗ Trình (1922-21/2/2008), nguyên Phó Viện trưởng Viện chiến lược Quân sự, Viện trưởng Học viện quốc phòng, quyền Tư lệnh Quân khu 2, Cục trưởng Cục quân huấn, Chánh văn phòng Bộ quốc phòng.

Huân chương Quân công hạng nhất, ba; Huân chương Chiến thắng hạng nhất; Huân chương Chiến công hạng nhì; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng nhất; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huy chương Quân kỳ quyết thắng; Huy chương Vì sự nghiệp khoa học; Huy chương Vì sự nghiệp giáo dục; Huy hiệu 60 năm tuổi Ðảng.

Thượng tá (1958); Ðại tá (1966); Thiếu tướng (1974) và Trung tướng (1982).
Trung tướng, Giáo sư, Tiến sĩ Ðỗ Trình (tức Phạm Văn Trị), sinh năm 1922 tại xã Ðô Lương, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An (nay là xã Hương Sơn, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An). Nguyên quán xã Quảng Thái, huyện Quảng Ðiền, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Từ tháng 3-1945, ông tham gia Thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu (Hà Nội) cho đến tháng 9-1945 thì nhập ngũ.

Từ tháng 9-1945 đến tháng 9-1947 làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Hà Nội, trưởng thành từ chiến sĩ, tham gia Ban chỉ huy Tự vệ chiến đấu Hà Nội rồi Phó Chủ tịch, Chủ tịch Ban bảo vệ Liên khu 3 Hà Nội; Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính khu ba Hà Nội.

Tháng 10-1947 đến tháng 12-1949 ông lần lượt giữ các chức vụ: Phó phòng Tuyên truyền Cục Chính trị, rồi Chính trị viên Trung đoàn 132, Trung đoàn 59, Trung đoàn 95; quyền Chính trị viên Mặt trận duyên hải Ðông Bắc, Chính ủy Chi đội 6 Viễn chinh Thập vạn Ðại Sơn (Trung Quốc). Từ năm 1950 đến năm 1954, ông giữ các cương vị Chủ nhiệm Chính trị; Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Phòng Huấn luyện Trường Lục quân. Từ năm 1955 đến 1957 là Cục phó Cục Quân huấn.

Từ năm 1958 đến 1964 ông được cử đi học tại Liên Xô, về nước được bổ nhiệm Cục trưởng Cục Nghiên cứu khoa học quân sự. Năm 1965 đến năm 1967 đồng chí là Phó Giám đốc Học viện Quân sự; năm 1968, ông là Cục trưởng Cục Quân huấn.

Từ năm 1969 đến năm 1978, ông lần lượt giữ các chức vụ: Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng, Văn phòng Quân ủy Trung ương, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Quân sự. Từ năm 1979 đến năm 1984, ông là Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng; quyền Tư lệnh Quân khu 2. Từ năm 1985 đến tháng 11-1991 là Phó Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao rồi Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng). Tháng 12-1991 đến tháng 9-1994 ông được bổ nhiệm Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự Bộ Quốc phòng; tháng 10 năm 1994, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu.

huy thanh
29-06-2009, 10:01 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Le-Chuong.jpg


Thiếu tướng Lê Chưởng (1914-1973), nguyên Chính ủy Quân khu Trị Thiên, Chính ủy Học viên Quân chính, Cục trưởng Cục tuyên huấn, Chính ủy Liên khu 4.

Ngoài ra ông là Đại biểu Quốc hội khóa 3, Thứ trưởng Bộ giáo dục.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Chiến công hạng nhất, Huân chương Chiến thắng hạng nhất...

Thiếu tướng (1959)

Thiếu tướng Lê Chưởng quê xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm, năm 1931 ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương nay là Đảng cộng sản Việt Nam. Năm 1940-1945, ông bị thực dân Pháp bắt giam 5 lần, có lần bị kết án 20 năm tù và đày đi Buôn Mê Thuột. Tháng 5 năm 1945, ông được trả tự do, về xây dựng cơ sở cách mạng và lãnh đạo giành chính quyền ở tỉnh Bình Thuận, chủ bút báo “Quyết thắng” của Việt Minh Trung Bộ.

Tháng 3 năm 1946, ông làm Chủ nhiệm Việt Minh Thuận Hóa, Bí thư Thị ủy. Năm 1947-1948, ông nhập ngũ, làm Chính ủy: Mặt trận Đường 9, Trung đoàn 95; tham gia Khu ủy Khu 4 trực tiếp làm Bí thư tỉnh ủy Quảng Trị. Năm 1949, ông làm Chính ủy, Thường vụ Liên khu ủy Liên khu 4. Năm 1951, ông làm Chính ủy Đại đoàn 304.

Năm 1955, ông làm Cục trưởng Cục Tuyên huấn trực thuộc Tổng cục Chính trị. Năm 1959-1961, ông làm Chính ủy: Đoàn 959, Học viện Quân chính. Năm 1966-1971, ông làm Chính ủy, Phó Bí thư Quân khu ủy Quân khu Trị - Thiên. Năm 1971, ông chuyển ngành làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục. Ông mất vì tai nạn giao thông.

huy thanh
29-06-2009, 10:05 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/danhnhan/picture.aspx?%5E?=141

Thượng tướng Vũ Lập (1924-1987), nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 2, Tư lệnh Quân khu Tây Bắc. Ông là một trong 34 chiến sĩ thuộc Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.

Ngoài ra ông còn là Trưởng Ban dân tộc Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban dân tộc Chính phủ.Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ khóa IV đến khóa VI, đại biểu Quốc hội Việt Nam từ khóa VI đến khóa VIII.


Thiếu tướng (1974), Thượng tướng (1984)

Huân chương Hồ Chí Minh, 2 Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng nhất...

Ông tên thật là Nông Văn Phách; dân tộc Tày; quê xã Vĩnh Quang, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, tham gia cách mạng năm 1941. Tháng 12 năm 1944, ông là chiến sĩ Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Năm 1945, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Tháng 8 năm 1945, ông là Ủy viên Quân sự tỉnh Thái Nguyên.

Từ năm 1946 đến năm 1954, ông làm Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Đại đoàn 316.

Từ năm 1955 đến năm 1964, ông làm Khu phó Khu Tây Bắc, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng rồi Tư lệnh Quân khu Tây Bắc. Tháng 4 năm 1970, ông làm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam ở Lào. Từ năm 1970 đến năm 1974, ông làm Tư lệnh các mặt trận: 316 và 31 (Thượng Lào).

Từ tháng 6 năm 1974 đến năm 1976, ông làm Tư lệnh Quân khu Tây Bắc. Năm 1977, ông làm Trưởng ban Ban Dân tộc Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Chính phủ. Từ năm 1978 đến năm 1981, ông làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 2.

huy thanh
29-06-2009, 10:07 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Doan-Tue.jpg

Trung tướng Doãn Tuế (1917-13/1/1995), nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng, Tư lệnh Pháo binh Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Độc lập hạng nhất, 02 Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Quân công hạng ba, Huân chương Chiến thắng hạng nhất, huân chương Chiến công hạng nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng nhì, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang nhất nhì, ba, Huân chương Chiến sỹ giải phóng nhất, nhì, ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.Huân chương It-xa-la hạng nhất của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Thiếu tướng năm 1974; Trung tướng năm 1984.

Trung tướng Doãn Tuế tên thật là Nguyễn Trung, ngoài ra ông còn có biệt danh là Voi Gầm gắn liền với chiến thắng đầu tiên của bộ đội pháo binh Việt Nam trên sông Lô do ông chỉ huy. Quê ở xã Văn Tư, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, sớm thoát li gia đình (khi mới 14 tuổi). Trước cách mạng tháng 8/1945, có thời gian ông đi lính khố xanh phục vụ trong pháo binh Pháp. Cách mạng tháng Tám thành công, được vận động ông tham gia Quân đội.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12/1946), ông tham gia chiến đấu ở mặt trận Hà Nội rồi sông Lô với các chức vụ: Chỉ huy đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn. Tháng 4 năm 1949, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ năm 1952 đến năm 1954, ông là Trung đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Sư đoàn pháo binh 351, Đảng uỷ viên Sư đoàn, tham gia nhiều chiến dịch lớn như chiến dịch sông Lô năm 1947, Điện Biên Phủ năm 1954.

Tháng 3 năm 1955, ông là Phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 675 Pháo binh. Từ tháng 4 năm 1955 đến năm 1957, ông là Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Pháo binh. Năm 1958, ông được cử đi học ở Học viện Pháo binh Trung Quốc. Từ năm 1963 đến năm 1964, ông là Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Pháo binh, Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Bộ tư lệnh Pháo binh. Tháng 9 năm 1964, đồng chí là Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Pháo binh. Năm 1967, ông vào chiến trường B5 làm Tư lệnh Pháo binh Miền. Từ tháng 9 năm 1968 đến năm 1977, ông là Tư lệnh Binh chủng Pháo binh. Năm 1971, ông là Phó Tư lệnh Mặt trận đường 9 Nam Lào.

Qua nhiều cương vị, trọng trách ông đã tham gia chỉ đạo, chỉ huy bộ đội pháo binh, tham gia nhiều chiến dịch lớn, đặc biệt là chiến dịch Hồ Chí Minh trong đoàn cán bộ A75 của Bộ Tổng Tư lệnh tăng cường cho Bộ Tư lệnh Chiến dịch.

Từ năm 1978 đến năm 1988, ông được bổ nhiệm và giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 1988 ông được Nhà nước cho nghỉ chữa bệnh đến 1995 thì mất.

Bài viết: dựa theo Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam
Nguồn ảnh: như trên

huy thanh
29-06-2009, 10:10 PM
http://www.sggp.org.vn/dataimages/original/images183052_V1b.jpg

Thiếu tướng Lưu Vũ Súy (1924-24/5/2007), nguyên Bí thư Đảng ủy, Cục trưởng Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Quê xã Yên Bái, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, cán bộ Tiền khởi nghĩa.

Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng 1; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng 1; Huân chương Chiến thắng hạng 2; Huân chương Hữu nghị của Nhà nước Xô-viết; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng 1, 2, 3; Huân chương Chiến công hạng 1; Huân chương Quân công hạng 2; Huân chương Quân kỳ quyết thắng; Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

huy thanh
29-06-2009, 10:13 PM
http://www.sggp.org.vn/dataimages/original/images173246_e1a.jpg

Thiếu tướng Lê Mai Chương (1930-5/4/2007), nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân khu 7. Quê xã Hưng Dũng, TP Vinh, Nghệ An.

Huân chương Độc lập hạng 3, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng 2, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng 1, Huân chương Quân công hạng 2, Huân chương Chiến công hạng 1, 2, 3; Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng 1, 2, 3; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng 1, 2, 3; Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu Thành đồng Tổ quốc, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

huy thanh
29-06-2009, 10:15 PM
http://img135.imageshack.us/img135/3615/trungtuongbanggiangmr5.jpg

Trung tướng Bằng Giang (tên thật Nguyễn Văn Cơ; 1915 - 1990), nguyên Phó Tổng Thanh tra Quân đội (1976 - 78).

Huân chương Hồ Chí Minh; huân chương Quân công hạng nhất, hạng nhì, hạng ba; huân chương Chiến thắng hạng nhất; huân chương Kháng chiến chống Mĩ hạng nhất...

Trung tướng (1974)

Trung tướng Bằng Giang là người dân tộc Tày, quê tỉnh Cao Bằng. Tham gia cách mạng từ 1932, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (1935), nhiều lần bị Pháp bắt giam. Tỉnh uỷ viên Cao Bằng, tổ chức đội trừ gian, phụ trách binh vận, uỷ viên thường vụ Liên Tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng (1941 - 43), tỉnh uỷ viên Cao Bằng phụ trách quân sự, chỉ huy diệt phỉ và tước khí giới tàn quân Pháp (1944 - 45.

Khu phó, khu trưởng Khu I, Khu X (1946 - 47), tư lệnh Liên khu X, Khu Tây Bắc (1948 - 54), tham gia các Chiến dịch Biên giới, Tây Bắc, Điện Biên Phủ... (1950 - 54).

Tư lệnh Quân khu Tây Bắc (1958 - 64), hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân (1965 - 66), tư lệnh Quân khu Việt Bắc, kiêm chủ tịch Uỷ ban Hành chính Khu Tự trị Việt Bắc (1967 - 75). Đại biểu Quốc hội khoá III, IV, V, VI.

Theo Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 10:18 PM
http://antgct.cand.com.vn/Uploaded_ANTGCT/hoabt/18_thieutuong198.jpg

Thiếu tướng Trần Kinh Chi (20/5/1927), nguyên Cục trưởng Cục bảo vệ An ninh Quân đội, Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ Tư lệnh Lăng Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Bộ Lao động và Thương binh Xã hội.

Thiếu tướng 1974.

Thiếu tướng Trần Kinh Chi đã gắn bó một đời với sự nghiệp bảo vệ an ninh đất nước. Ông vinh dự được nhiều lần bảo vệ tiếp cận Hồ Chủ tịch, ngay từ thời Cách mạng còn trứng nước, cho đến khi Chủ tịch về cõi vĩnh hằng...

Thiếu tướng Trần Kinh Chi quê ở xã Tam Hiệp, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây. Ông tham gia Cách mạng từ rất sớm, Năm 1943, ở tuổi 16, trong khi các bạn đồng trang lứa còn bay nhảy thì ông đã là một cán bộ lãnh đạo Việt Minh. Tiếng súng khởi nghĩa nổ ra, ông có mặt trong Ban chỉ huy khởi nghĩa Quốc Oai – huyện đầu tiên của Sơn Tây giành chính quyền.

Dẫu rất trẻ, nhưng uy tín của những năm hoạt động đã đưa ông trở thành Bí thư huyện uỷ Tùng Thiện, Bí thư kiêm Chủ tịch huyện Quảng Oai rồi Cảnh sát trưởng thị xã Sơn Tây. 21 tuổi, ông đã là Thường vụ Tỉnh uỷ Sơn Tây, Hưng Yên và Hải Dương. Năm 1949, tại chiến khu Việt Bắc, do yêu cầu cách mạng, ông được Trung ương Đảng cử sang làm công tác Đảng ở Nha Công an Trung ương (NCATƯ). Sau chiến dịch biên giới, ông tham gia đoàn công tác của NCATƯ sang quân đội làm nhiệm vụ bảo vệ chiến dịch (BVCD), do ông Lê Giản làm trưởng ban. Từ đó, suốt hơn 30 năm, ông gắn bó với công việc bảo vệ an ninh đất nước cho đến khi về hưu với chức vụ Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: trưởng phòng của Cục từ năm 1950-1960, quyền Cục trưởng rồi Cục trưởng từ tháng 6 năm 1960 đến năm 1976.

Từ năm 1967 ông được tham gia công tác chuẩn bị, và sau đó từ ngày 2 tháng 9 năm 1969 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, ông được tham gia giữ gìn lâu dài và bảo vệ thi hài. Ông cũng đã chỉ huy thành công 5 cuộc hành quân di chuyển thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Hà Nội lên Đá Chông (Sơn Tây), qua sông Đà sang Phú Thọ, rồi lại trở về Hà Nội trong những điều kiện chiến tranh và thiên tai cực kỳ khắc nghiệt, với các yêu cầu khắt khe cả về khoa học lẫn bảo mật. Khi Lăng Bác hoàn chỉnh và đi vào hoạt động, ông được cử làm Trưởng ban quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng đồng thời là Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trực thuộc Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng (1976-1979).

Năm 1980, ông chuyển ngành sang làm Thứ trưởng Bộ lao động và thương binh xã hội cho đến khi về hưu.

huy thanh
29-06-2009, 10:20 PM
http://img89.imageshack.us/img89/2817/thieutuonghuynhcongthanjg8.jpg

Thiếu tướng Huỳnh Công Thân (1923), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (1998), nguyên Chỉ huy trưởng Tỉnh đội Long An.

3 Huân chương Chiến công, Huân chương bảo vệ Tổ quốc của Nhà nước Campuchia.

Thiếu tướng 1980.

Thiếu tướng Huỳnh Công Thân (tên thật Huỳnh Công Mến) sinh năm 1923, quê ở xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An. Tham gia hoạt động cách mạng từ sớm.

Năm 1946 là Uỷ viên Thường vụ Huyện uỷ Cần Giuộc. Năm 1948 là Bí thư, Chính trị viên đại đội căn cứ Vườn Thơm. Năm 1954 là cán bộ quân sự cốt cán, Thường vụ Huyện uỷ Đức Hoà.

Những năm 1955 – 1957, ông tham gia tổ chức và chỉ huy lực lượng vũ trang tỉnh Long An trong phong trào Đồng Khởi (1960). Huỳnh Công Thân là người chỉ huy trận đánh vào căn cứ biệt kích Mỹ ở Hiệp Hoà (23/11/1963), diệt và làm bị thương 500 tên địch, thu trên 500 súng các loại. Trận đánh giành thắng lợi có ý nghĩa quan trọng trong nhiệm vụ phá quốc sách “ấp chiến lược” của Mỹ - nguỵ.

Trong cuôc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, ông là Tư lệnh Phân khu 3, chỉ huy 9 tiểu đoàn đánh vào các căn cứ địch ở Quận 6, 7 và 8, mở đường đánh vào Tổng nha cảnh sát chính quyền Sài Gòn. Tháng 5 năm 1968, chỉ huy các Lực lượng vũ trang Long An tham gia chiến dịch Mậu Thân đợt 2, diệt 10 đồn ở Quận 8 và 1 tiểu đoàn Mỹ.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử Xuân 1975, cánh quân phía Tây Nam do Huỳnh Công Thân chỉ huy đã chiến đấu dũng cảm, đập tan các ổ đề kháng cuối cùng của địch.

Sau khi đất nước thống nhất, Huỳnh Công Thân được phong quân hàm Thiếu tướng, đảm nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Long An, tiếp tục chỉ huy lực lượng vũ trang tỉnh chiến đấu bảo vệ tuyến biên giới trong chiến tranh biên giới Tây Nam (1978 – 1979).

Theo từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 10:23 PM
http://img90.imageshack.us/img90/2594/thieutuonghoangminhthiio8.jpg

Thiếu tướng Hoàng Minh Thi (Huỳnh Nhất Long, 1922-1981), nguyên Tư lệnh Quân khu 4, Chính ủy Quân đoàn 1 tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, Chính ủy Trường sĩ quan lực quân, Cục trưởng Cục tuyên huấn Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.

2 Huân chương Quân công hạng Nhất...

Thiếu tướng 1974.

Ông quê xã Đức Thạnh, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1945, nhập ngũ tháng 2 năm 1945. Tháng 5 năm 1945, ông tham gia du kích Ba Tơ.

1945-1955, ông là Chính ủy trung đoàn, Chủ nhiệm Chính trị Đại đoàn 304. 1956, ông là Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 335 thuộc Quân khu Tây Bắc. 1958-1965, ông là Cục phó rồi Cục trưởng Cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục Chính trị. 1966, ông là Phó Chính ủy Quân khu 3. Tháng 9 năm 1968, ông là Chính ủy Trường Sĩ quan Lục quân. Tháng 11 năm 1971, ông là Phó Chính ủy Mặt trận B5. Từ tháng 4 năm 1973 đến năm 1975, ông là Phó Giám đốc Học viện Chính trị, Phó Chính ủy rồi Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân đoàn 1 tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh.

1978-1981, ông là Tư lệnh Quân khu 4. Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV. Ông mất năm 1981 vì tai nạn máy bay.

Theo Từ điển Quân sự Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 10:25 PM
http://img213.imageshack.us/img213/2771/daitadangtinhbk9.jpg

Đại tá Đặng Tính (tên thật Đặng Văn Ti; 1920 - 1973), Liệt sĩ, nguyên Chính uỷ Quân chủng Phòng không - Không quân (1963 - 69) Kiêm tư lệnh (1967 - 69).

2 Huân chương Quân công...

Đại tá (1958).

Ông quê ở xã Cự Khê, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Tham gia cách mạng từ 1944 trong tổ chức thanh niên cứu quốc. Ông là một trong những người sáng lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (1945). Tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh Bắc Giang.

Trong Kháng chiến chống Pháp, đã kinh qua nhiều chức vụ lãnh đạo và chỉ huy: bí thư Tỉnh uỷ Hải Dương (1946); chính uỷ Mặt trận đường số 5 (Hà Nội - Hải Phòng, 1950 - 51); chính uỷ Liên khu III rồi tư lệnh khu Tả Ngạn Sông Hồng (1951 - 53.

Ông là cục trưởng Cục Dân quân và sau đó là cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu. Năm 1955 - 62, cục trưởng Cục Không quân (tiền thân Bộ Tư lệnh Không quân); năm 1971 - 73, chính uỷ binh đoàn Trường Sơn, hi sinh tháng 4.1973 trong lần kiểm tra cuối cùng trước khi ra Bắc nhận chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Nếu không hy sinh, năm 1974 ông sẽ là một trong 3 người được phong vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng. Ông là Đại biểu Quốc hội các khoá III, IV.

huy thanh
29-06-2009, 10:27 PM
http://img161.imageshack.us/img161/4319/daitatrandinhxubw4.jpg

Đại tá Trần Đình Xu (bí danh: Ba Đình, tên thật: Trần Sinh, 1921-1969), Liệt sĩ, nguyên Tư lệnh Quân khu Sài Gòn-Gia Định.

Đại tá (1961)

Ông quê tại tỉnh Quảng Bình, nhập ngũ tháng 8 năm 1945, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1947. Trong Kháng chiến chống Pháp giữ các chức vụ từ đại đội trưởng đến trung đoàn trưởng, chỉ huy liên trung đoàn 306-312 rồi Tỉnh đội trưởng Gia Ninh.

Trong Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là Cục trưởng Cục công binh (1956-1961). Vào nam chiến đấu ông chỉ huy nhiều chiến dịch trong đó nổi tiếng nhất là chiến dịch Bình Giã (11.1964). Năm 1967, được cử giữ chức Tư lệnh Quân khu Sài Gòn-Gia Định, chỉ huy trưởng Phân khu 1 (Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, một phần các huyện Trảng Bàng, Bến Cát, Dầu Tiếng) mà ông Mai Chí Thọ (Đại tướng Công an) làm chính ủy. Ông hy sinh năm 1969 trong khi chỉ huy chiến đấu.

Đại tá Trần Đình Xu được đánh giá là một người "chỉ huy bình tĩnh, kiên cường trong mọi tình huống" (Thượng tướng Trần Văn Trà). Tên ông được đặt cho một đường phố ở thành phố Hồ Chí Minh, đường Trần Đình Xu, Q1.

huy thanh
29-06-2009, 10:32 PM
http://img187.imageshack.us/img187/3361/trungtuonglethuybq1.jpg

Trung tướng Lê Thùy (tên thật: Lê Văn Lộc, 1922-1999), nguyên Tư lệnh Quân khu Tây Bắc (1970-1974).

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1986)

Huân chương Độc Lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (1 hạng Nhất, 1 hạng Ba)...

Ông là người dân tộc Tày, quê ở xã dân chủ, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Ông tham gia Cách mạng từ rất sớm (1940), được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam (1941). Từ năm 1940 đến năm 1944, ông hoạt động tổ chức xây dựng cơ sở Cách mạng ở các tỉnh Bắc Kạn, Tuyên Quang, Yên Bái. Năm 1945, là Chính trị viên Giải phóng quân ở huyện Chiêm Hóa.

Từ năm 1946 đến năm 1954, giữ chức vụ trung đoàn trưởng và chính trị vị trung đoàn ở nhiều đơn vị.

Từ năm 1955 đến năm 1966, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 335 rồi 316, Tham mưu trưởng Quân khu Tây Bắc. 1967-1974, Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Quân khu Tây Bắc. Từ 6/1974 đến 1978, Phó Tư lệnh Quân khu Việt Bắc. 1976, Phó Tư lệnh Quân khu 1. Năm 1978, Phó Tư lệnh Quân khu 2.

huy thanh
29-06-2009, 10:34 PM
http://img211.imageshack.us/img211/7108/trungtuongnguyendonew7.jpg

Trung tướng Nguyễn Đôn (1918), nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông là một trong những người tham gia lãnh đạo khởi nghĩa Ba Tơ (1945).

Huân chương Hồ Chí Minh; huân chương Quân công hạng nhất, hạng ba; huân chương Chiến thắng hạng nhất...

Trung tướng (1974)

Quê tại tỉnh Quảng Ngãi, ông tham gia Cách mạng từ rất sớm, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1938. Năm 1939, bị Pháp bắt giam rồi đưa đi an trí ở Ba Tơ; tham gia tổ chức Ủy ban Cứu quốc Quảng Ngãi và thành lập Tỉnh uỷ lâm thời; tháng 3.1945, lãnh đạo Khởi nghĩa Ba Tơ, thành lập chính quyền cách mạng và tổ chức chỉ huy, lãnh đạo Đội Du kích Ba Tơ.

Tháng 8.1945, lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở Quảng Ngãi, sau đó là uỷ viên thường vụ Ban Quân chính Nam phần Trung Bộ; chính uỷ Mặt trận Quảng Nam, chính uỷ kiêm chỉ huy trưởng Mặt trận Nam Tây Nguyên, tham mưu trưởng Liên khu V (1949 - 54).

Trong Kháng chiến chống Mĩ, giữ các chức: phó tư lệnh Liên khu V, sư đoàn trưởng kiêm chính uỷ Sư đoàn 324 (2.1954 - 56); tư lệnh Quân khu IV (1956 - 60); tư lệnh Quân khu V (1961 - 65); Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, phó tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, uỷ viên thường trực Quân uỷ Trung ương (1966 - 71), chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Quân đội (1971 - 75).

Từ 1978, phó Ban Thanh tra Chính phủ. Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khoá III, đại biểu Quốc hội khoá IV.

Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 10:37 PM
http://img152.imageshack.us/img152/4348/thieutuonglequangbahr6.jpg

Thiếu tướng Lê Quảng Ba (tên thật: Đàm Văn Mông; 1914 - 1988) nguyên Tư lệnh đầu tiên Quân khu Việt Bắc.

Thiếu tướng (1958)

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Chiến cộng hạng nhất, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng

Ông là người dân tộc Tày, quê ở xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Tham gia cách mạng từ 1935. Đảng viên Đảng Cộng sản (1936), phụ trách đội du kích đầu tiên ở Cao Bằng (1941). Từ 1944 đến 1945, uỷ viên quân sự liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng, phái viên Kỳ bộ Việt Minh ở Cao - Bắc - Lạng.

Trong Kháng chiến chống Pháp: từ tháng 11/1945 đến 1947, Khu phó Khu 1, Khu trưởng Khu Hà Nội rồi Khu trưởng Khu 12. Năm 1948-1949, chỉ huy phó mặt trận 2 (Đông Bắc) rồi chỉ huy trưởng mặt trận Duyên hải Đông Bắc và thập vạn đại sơn. Từ tháng 12.1949, Tư lệnh Liên khu Việt Bắc. Tháng 5.1951, Đại đoàn trưởng đầu tiên Đại đoàn 316 tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Từ năm 1957-1959, Tư lệnh Quân khu Việt Bắc. Năm 1960 chuyển ngành, làm trưởng Ban Dân tộc Trung ương và đảm nhiệm nhiều trọng trách khác như Phó Ban Nông nghiệm Trung ương. Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khoá III. Đại biểu Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI.

Theo từ điển bách khoa quân sự Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 10:39 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/danhnhan/picture.aspx?%5E?=143

Thượng tướng Nguyễn Chơn (1927), Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (1970), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Quân công hạng nhất, ba; Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, nhì; Huân chương Chiến thắng hạng nhì; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huân chương Chiến sỹ giải phóng hạng nhất, nhì, ba; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1979), Trung tướng (1984), Thượng tướng (1988)

Ông nhập ngũ năm 1946, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1949. Trong kháng chiến chống pháp và chống Mỹ, ông chiến đấu ở chiến trường Khu 5, Trị Thiên. Trưởng thành từ chiến sỹ đến Sư đoàn trưởng.

Năm 1968, ông chỉ huy Trung đoàn trong tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân (1968). Năm 1971, ông chỉ huy Sư đoàn 2 trong chiến dịch Đường 9 Nam Lào. Năm 1975, ông chỉ huy Sư đoàn 2 đánh chiếm Tam Kỳ và tham gia giải phóng Đà Nẵng.

Từ năm 1979 đến năm 1985, ông là Tư lệnh Quân đoàn 2. Từ năm 1985 đến năm 1987, ông là Tư lệnh Quân khu 5. Từ năm 1987 đến năm 1994, ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tổng Tham mưu truởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ông là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VI, VII, đại biểu Quốc hội khoá VIII, khoá IX.

Thượng tướng Nguyễn Chơn được đánh giá là một trong ba Sư đoàn trưởng giỏi nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông là vị tướng mở đầu cho phương châm Bám thắt lưng địch mà đánh, một vị tướng mà trong cuộc đời chỉ huy của mình không bị thua lấy một trận. Một vị tướng bậc thầy về nối đánh "bóc trọc", nghĩa là xóa sổ hoàn toàn đơn vị đối phương.

Dựa theo Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam.

huy thanh
29-06-2009, 10:42 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/danhnhan/picture.aspx?%5E?=144

Thiếu tướng Trần Văn Phác (Tám Trần, Trần Hương Nam, sinh 29/12/1926), nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Huân chương Độc lập hạng nhất; Huân chương Quân công hạng nhất; Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì; Huân chương Kháng chiến hạng nhất; Huân chương Chiến thắng hạng nhất; Huân chương Chiến công hạng nhì; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huân chương Chiến sỹ Giải phóng hạng nhất, nhì, ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu Chiến dịch Điện Biên Phủ; Huy chương vì Sự nghiệp Văn hoá; Huy chương vì Sự nghiệp thanh niên; Huy chương vì Sự nghiệp Xây dựng Thủ Đô;Huy chương vì Sự nghiệp Hội Cựu chiến binh.

Thiếu tướng 12/1978

Ông tham gia cách mạng từ tháng 1 năm 1945, là Đội trưởng đội tự vệ chiến đấu của Việt minh tại xã Lý Thường Kiệt. Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông tham gia giành chính quyền ở huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên ngày 15 tháng 8 năm 1945. Tháng 10 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sau ngày 19 tháng 8 năm 1945, ông tham gia Giải phóng quân Hà Nội. Tháng 1 năm 1946, ông là Chính trị viên Đại đội thuộc chiến Khu 2. Năm 1947, ông là Trưởng phòng Chính trị Mặt trận Tây Tiến, chiến khu 2. Năm 1949, ông là Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn Sông Lô (E209). Năm 1951, ông là Trưởng ban Tuyên huấn Đại đoàn 312 (Đại đoàn Chiến thắng), tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.

Từ năm 1954 đến năm 1964, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ: Trưởng phòng Văn nghệ Quân đội, Chủ nhiệm Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân. Năm 1964, ông được cử vào B2 giữ chức Phó chủ nhiệm, Chủ nhiệm chính trị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Năm 1975, ông là Phó Chính uỷ Đoàn 232, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Năm 1976, ông là Hiệu trưởng Trường Sỹ quan Chính trị, Cục trưởng Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị. Năm 1977, ông được bổ nhiêm giữ chức Phó chủ nhệm Tổng cục Chính trị. Từ năm 1979 đến năm 1980, ông học tại Học viện Quân sự cấp cao.

Năm 1982, ông chuyển ngành giữ chức Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Văn hoá, được bầu Uỷ viên Trung ương Đảng khoá V, khoá VI. Ông là đại biểu Quốc hội khoá VIII, khoá IX, là Phó chủ nhiệm thường trực Uỷ ban Đối ngoại Quốc hội khoá IX. Năm 1990, ông là Phó bí thư Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Uỷ viên Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Năm 1997, ông được bầu vào Quốc hội khoá 9, Uỷ viên Uỷ ban đối ngoại Quốc hội, Uỷ viên Thường vụ Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố Hà Nội khoá 1997 - 2002.

Theo Bảo tàng lịch sử Quân sự Việt Nam.

huy thanh
29-06-2009, 10:44 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Pham-Ngoc-Mau.jpg

Thượng tướng Phạm Ngọc Mậu (tên thật: Phạm Ngọc Quyết, 1919-23/11/1993), nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Tổng cục trưởng Tổng cục cán bộ Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh; Hai Huân chương Quân công hạng nhất; Huân chương Quân công hạng ba; Huân chương Chiến thắng hạng nhất; Huân chương Kháng chiến hạng nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huân chương Chiến công hạng nhất; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng năm 1961; Trung tướng năm 1974; Thượng tướng năm 1986.

Ông quê ở xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Đầu năm 1938, ông tham gia tổ "Tương tế" nông dân và Đoàn thanh niên Dân chủ. Tháng 11 năm 1939, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được chỉ định vào Ban Chấp hành Thanh niên Phản đế huyện Kiến Xương, phụ trách Trung đội trưởng tự vệ huyện Kiến Xương, Thái Bình. Năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt kết án 10 năm tù khổ sai và 10 năm quản thúc, giam tại các nhà lao: Thái Bình, Hoả Lò, Sơn La, Hoà Bình, Chợ Chu. Sau đó, thực dân Pháp lại đưa ông về nhà tù Sơn La. Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, lợi dụng thời cơ ông và một số nhà cách mạng khác đã trốn thoát về Sơn Tây thì bắt liên lạc với tỉnh uỷ Sơn Tây và được Xứ uỷ Bắc kỳ quyết định bổ sung vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn Tây, phụ trách công tác ở thị xã Sơn Tây, huyện Tùng Thiện, Bất Bạt, Quảng Oai.

Tháng 8 năm 1945, sau khi ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Sơn Tây, được tỉnh uỷ phân công phụ trách quân sự tỉnh. Tháng 12 năm 1945, ông là Khu phó Khu 2, Chính uỷ Khu 1, Khu uỷ viên kiêm Bí thư Quân khu uỷ, Trưởng ban Kiểm tra Khu uỷ, sau đó là Phó Bí thư Khu uỷ. Tháng 8 năm 1948, ông là cán bộ kiểm tra khu Việt Bắc, Thường vụ Quân khu uỷ, sau đó là Chính uỷ Trung đoàn 121. Tháng 6 năm 1948, ông được bầu làm Khu uỷ viên Liên khu Việt Bắc. Năm 1949, ông là chính uỷ Trung đoàn 246 bảo vệ khu căn cứ địa Trung ương, Uỷ viên Ban Căn cứ địa Trung ương. Tháng 5 năm 1951, ông là Phó Chính uỷ, rồi Chính uỷ Đại đoàn 351, 305, Bí thư Đảng uỷ Đại đoàn.

Năm 1955, ông là Chủ nhiệm Chính trị rồi Phó Chính uỷ Bộ Tư lệnh Pháo binh, Bí thư Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Pháo binh. Năm 1956, ông là Cục trưởng Cục Cán bộ Bộ Tổng Tham mưu, Bí thư Ban Chấp hành Đảng bộ cơ quan Bộ Tổng tham mưu. Năm 1957, ông là Cục trưởng Cục Điều động, sau được đề bạt Tổng cục trưởng Tổng cục Cán bộ, Bí thư Đảng uỷ cơ quan Tổng cục Cán bộ.

Năm 1959, ông là Cục trưởng Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị. Năm 1961, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bí thư Đảng uỷ cơ quan Tổng cục Chính trị, Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Quân sự Trung ương, Phó Chủ tịch Uỷ ban bảo vệ thanh thiếu niên nhi đồng. Từ năm 1961 đến năm 1988, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Ông là đại biểu Quốc hội khoá III và khoá V.

Theo Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 10:46 PM
http://vnmedia.vn/images_upload/small_141902.jpg

Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp (bí danh: Đặng Hùng; 9/2/1928-11/4/2008), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Chủ nhiệm Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Thiếu tướng (1977), Trung tướng (1981), Thượng tướng (1988).

Huân chương Độc lập hạng nhất; Hai Huân chương Quân công hạng nhất; Huân chương Chiến thắng hạng nhì; Huân chương Chiến công hạng nhì; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huân chương Chiến sỹ giải phóng hạng nhất, nhì, ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Ông được Nhà nước Liên Xô tặng thưởng Huân chương Sao đỏ.

Ông que ở xã Việt Hưng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Tham gia cách mạng từ tháng 8-1945, là cán bộ Phòng Thông tin tuyên truyền tỉnh Phú Thọ. Tháng 1-1946, ông tham gia quân đội, tháng 4-1946 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 4-1947 đến tháng 9-1954: ông giữ các chức vụ: Chính trị viên đại đội thuộc Trung đoàn 23, Khu 1; Bí thư chi bộ; Chính trị viên phó rồi Chính trị viên Tiểu đoàn 54, Chính trị viên Tiểu đoàn 18; Chính trị hiệp lý viên Ban Tham mưu thuộc Trung đoàn 102, Đại đoàn 308; Bí thư liên chi ủy. Tháng 4-1954 là Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 88, Đại đoàn 308; Thường vụ Trung đoàn ủy.

Tháng 9-1954 là Phó Chính ủy, phụ trách Chính ủy Trung đoàn 86, Sư đoàn 675 Pháo cao xạ, Bí thư Trung đoàn ủy. Tháng 11-1955: ông đi học tại Trường Văn hóa của Bộ Quốc phòng, tháng 8-1956 đi học tại Học viện Quân chính Lênin (Liên Xô cũ). Tháng 9-1958 ông được phong hàm Trung tá. Tháng 11-1961 là Chủ nhiệm Khoa Phong trào công nhân thuộc Học viện Chính trị. Tháng 9-1964 ông được điều về Tổng cục Chính trị và đi chiến trường B trực tiếp chiến đấu ở chiến trường miền Nam, giữ chức Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 5. Tháng 9-1965 là Phó Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận B3 (Tây Nguyên), Thường vụ Đảng ủy B3; năm 1968 là Chủ nhiệm Chính trị mặt trận B3. Tháng 2-1966 ông được phong hàm Thượng tá. Tháng 3-1970 đến năm 1976: ông được phong hàm Đại tá, là Phó Chính ủy mặt trận B3. Tháng 9-1972 kiêm Chính ủy Sư đoàn 10, Bí thư Sư đoàn ủy, Thường vụ Đảng ủy B3. Tháng 6-1974 là Chính ủy Mặt trận B3, Bí thư Đảng ủy mặt trận B3, Khu ủy viên Khu 5. Tháng 3-1975 là Chính ủy Quân đoàn 3, Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên và Quân đoàn 3, tham gia chỉ huy Chiến dịch Tây Nguyên và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Cuối năm 1976 ông được cử đi học tại Học viện Quân sự cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng). Tại Đại hội toàn quốc lần thứ IV của Đảng, ông được bầu là Ủy viên dự khuyết BCH TƯ Đảng khóa IV. Tháng 11-1977 ông được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, được thăng hàm cấp Thiếu tướng. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (tháng 3-1982), ông được bầu là Ủy viên BCH TƯ Đảng. Tháng 6-1981 được thăng hàm cấp Trung tướng. Năm 1985 được chỉ định làm ủy viên Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương. Tháng 6-1988 ông được phong hàm Thượng tướng.

Ông được bầu làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội khóa VII; Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯMTTQ Việt Nam, đại biểu Quốc hội khóa VII. Ngày 17-12-2003, ông được phân công là Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam.

huy thanh
29-06-2009, 10:50 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Tran-Van-Quang.jpg

Thượng tướng Trần Văn Quang (tên thật: Trần Thúc Kỉnh, 1917), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Cục trưởng Cục tác chiến Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông là Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam từ năm 1992 đến năm 2002.

Thiếu tướng (1961), Trung tướng (1974), Thượng tướng (1984)

Huân chương Hồ Chí Minh...

Ông quê tại xã Nghi Hoa, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Là em trai của nhà cách mạng Trần Cung (1906-1977), bí thư đầu tiên của chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam (Nhà 5D Hàm Long).

Ông tham gia cách mạng từ 1935, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1936. Từ 1938 đến 1939, ông là Thành ủy viên Sài Gòn - Chợ Lớn. Năm 1939, bị thực dân Pháp bắt giam. Tháng 10 năm 1940, ông vượt ngục về hoạt động ở Nghệ An. Tháng 4 năm 1941, ông bị bắt lần thứ hai và bị kết án tù chung thân. Tháng 6 năm 1945, ông ra tù, tham gia Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nghệ An.

Năm 1946, ông được phân công giữ chức Chính ủy Bộ Chỉ huy tiếp phòng quân. Tháng 11 năm 1946, ông là Chính ủy Khu IV. Từ năm 1948 đến 1949, ông giữ chức Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy Phân khu Bình - Trị - Thiên. Tháng 5 năm 1950, Đại đoàn 304 được thành lập, ông được chỉ định giữ chức Chính ủy Đại đoàn. Năm 1951, ông được điều giữ chức Cục trưởng Cục Địch vận. Năm 1953, ông được cử giữ chức Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu, đặc biệt chuyên trách chiến dịch Điện Biên Phủ.

Năm 1959, ông giữ chức Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Thiếu tướng. Năm 1961, ông được điều vào Nam, giữ chức Ủy viên Trung ương Cục miền Nam. Năm 1965, tư lệnh Quân khu IV; trong những năm 1966 - 1973, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Bình - Trị - Thiên. Năm 1974, ông được thăng quân hàm Trung tướng và được điều động trở lại chức Phó tổng tham mưu trưởng. T

ừ năm 1978 đến 1981, ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam ở Lào. Năm 1981, ông được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, và được thăng Thượng tướng năm 1984. Từ năm 1992 đến 2002, ông là Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh Việt Nam.

Ông là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1960 - 1976).

huy thanh
29-06-2009, 10:52 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Bui-Phung.jpg

Thượng tướng Bùi Phùng (Bùi Văn Thận; 10/9/1920-22/11/1999), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Chủ nhiệm Hậu cần Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Thiếu tướng 1974, Trung tướng 1980, Thượng tướng 1986.

Huân chương Hồ Chí Minh; 02 Huân chương Quân công hạng nhất; Huân chương Chiến thắng hạng nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất; Huân chương Chiến công hạng nhì; Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, hạng nhì, hạng ba; Huân chương Chiến sỹ Giải phóng hạng nhất, hạng nhì, ba; Huy chương Quân kỳ quyết thắng; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Ông quê ở xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, tham gia cách mạng từ năm 1943. Từ tháng 8 năm 1944, ông bị thực dân Pháp bắt giam ở Bắc Ninh, Hoả Lò Hà Nội. Tháng 3 năm 1945, ra tù ông tiếp tục hoạt động gây cơ sở cách mạng ở huyện Gia Lâm.

Từ tháng 8 năm 1945, ông là Chủ tịch Uỷ ban Lâm thời huyện Gia Lâm. Tháng 2 năm 1948, ông là Chủ tịch Uỷ ban hành chính kháng chiến huyện Quế Dương tỉnh Bắc Ninh, Tỉnh uỷ viên phụ trách Ban Tổ chức tỉnh uỷ Bắc Ninh, rồi Tỉnh uỷ viên kiêm Bí thư huyện uỷ Võ Giàng, sau phụ trách Ban Dân vận tỉnh Bắc Ninh. Tháng 8 năm 1949, ông giữ chức Phó ban Đảng uỷ Liên vụ Liên khu I, sau đó được Trung ương cử đi học Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc khoá 2 tại Việt Bắc. Tháng 5 năm 1950, ông chuyển vào quân đội. Từ tháng 5 năm 1950 đến tháng 6 năm 1955, ông lần lượt giữ các chức vụ: Trưởng phòng Chính trị Cục Vận tải Tổng cục Cung cấp (nay là Tổng cục Hậu cần), Trung trạm trưởng Việt Bắc Cục Vận tải, Trưởng phòng Kế hoạch Cục Vận tải, Phó hiệu trưởng Trường Cán bộ Hậu cần.

Tháng 11 năm 1955, ông được cử đi học Khoa Chỉ huy Hậu cần ở Học viện Hậu cần Trung Quốc. Tháng 2 năm 1960, ông được cử làm Hiệu phó Trường Sỹ quan Hậu cần. Tháng 11 năm1960, ông giữ chức Phó Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu Tổng cục Hậu cần. Từ tháng 9 năm 1964 đến năm 1975, ông vào chiến trường miền Nam, lần lượt giữ các chức vụ: Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Hậu cần Bộ chỉ huy Miền, Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Cục Hậu cần Quân giải phóng miền Nam.

Tháng 1 năm 1976, ông được cử làm đại diện Tổng cục Hậu cần tại miền Nam. Tháng 5 năm 1976, ông giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Tháng 3 năm 1977, ông được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần và được bầu làm Bí thư Đảng uỷ Tổng cục Hậu cần. Tháng 11 năm 1977, ông được Hội đồng Chính phủ bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Phó chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.

Tại Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ IV (Tháng 12/1976) và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (3/1982), ông được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. ông là đại biểu Quốc hội khoá VII,VIII. Tháng 1 năm 1989, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu. Tháng 2 năm 1990, ông được Ban Bí thư Trung ương Đảng chỉ định tham gia Ban Chấp hành lâm thời Trung ương Hội cựu chiến binh Việt Nam và được cử làm Uỷ viên Thường vụ.

Theo Bảo tàng Quân sự Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 10:54 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Tran-Quy-Hai.jpg

Trung tướng Trần Quý Hai (Bùi Chấn, 1913-1985), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Tổng Thanh tra Quân đội. Phó Chủ nhiệm Uỷ Ban Kế hoạch Nhà nước, Trưởng Ban Cơ yếu Trung ương.

Thiếu tướng (1958), Trung tướng (1974)

Huân chương Hồ Chí Minh; Hai Huân chương Quân công hạng nhất; Huân chương Quân công hạng ba; Huân chương Chiến thắng hạng nhất; Huân chương Kháng chiến hạng nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

Ông quê ở xã Châu Sa, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1930, ông tham gia cách mạng và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Nhiều lần ông bị thực dân Pháp bắt giam. Năm 1944, trong thời kỳ bị thực dân Pháp đưa đi an trí tại Ba Tơ, ông đã tham gia thành lập Ban Vận động Cứu quốc tỉnh Quảng Ngãi và lãnh đạo khởi nghĩa Ba Tơ tháng 3 năm 1945. Năm 1945, ông tham gia lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Quảng Ngãi, là Bí thư tỉnh uỷ, Uỷ viên Thường trực Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Năm 1946, ông là Uỷ viên dự khuyết Xứ uỷ Trung Bộ, phụ trách 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà. Từ năm 1947 đến năm 1949, ông là Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ Thừa Thiên – Huế, Chính trị uỷ viên Trung đoàn 101, Chính uỷ kiêm Tư lệnh Mặt trận Bình Trị Thiên, Phó Bí thư Liên khu uỷ Liên khu 49 1949). Từ năm 1951 đến năm 1955, ông là Chính uỷ kiêm Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn 325, Chính uỷ Mặt trận Trung Lào, Chỉ huy chiến dịch Hạ Lào.

Năm 1955, ông giữ chức Trưởng Ban Nghiên cứu Sân bay (tiền thân của Quân chủng Không quân ), đến tháng 5 năm 1955 ông được bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam cho đến năm 1978, Bí thư Đảng uỷ Bộ Tổng Tham mưu. Từ năm 1961 đến năm 1984, ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ nhiệm kiêm Bí thư Đảng uỷ Tổng cục Hậu cần. Từ năm 1961 đến năm 1976, ông được bổ nhiệm chức Phó Chủ nhiệm Uỷ Ban Kế hoạch Nhà nước. Từ năm 1967 đến năm 1968, ông là Tư lệnh Mặt trận Đường 9 Khe Sanh. Năm 1972, ông là tư lệnh Mặt trận B5 Quảng Trị. Từ năm 1976 đến năm 1985, ông được bổ nhiệm chức Trưởng Ban Cơ yếuTrung ương.

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, ông được bầu là Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (sau đó là Uỷ viên chính thức), Uỷ viên Thường trực Quân uỷ Trung ương đến năm 1976.

Theo Bảo tàng Quân sự Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 10:56 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Vu-Xuan-Chiem.jpg

Trung tướng Vũ Xuân Chiêm (1923), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1982)

Huân chương Độc lập hạng nhất; Huân chương Quân công hạng nhất; Huân chương Chiến thắng hạng nhất; Huân chương Kháng chiến hạng nhất; Huân chương Chiến công hạng nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng

Ông quê ở xã Trung Đông, huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Định. Năm 14 tuổi ông làm thợ thuỷ tinh. Năm 1936, ông tham gia cách mạng làm nhiệm vụ chuyển tài liệu. Từ năm 1937 đến tháng 8 năm 1945, ông bị thực dân Pháp bắt giam vì trong người có tài liệu, do chưa đủ tuổi nên bị kết án 15 năm tù khổ sai, 15 năm đày đi biệt xứ đưa đi giam tại các nhà tù Hoà Bình, Sơn La rồi đày đi Côn Đảo. Năm 1940, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Tháng 9 năm 1945, ông ra tù được ông Hồ Tùng Mậu, đón về Huế tiếp tục hoạt động, tham gia Ban Chấp hành Công đoàn Trung Bộ. Năm 1947, ông là Tỉnh uỷ viên tỉnh Thừa Thiên. Từ năm 1950 đến năm 1954, ông là Cán bộ chính trị, Phó cục trưởng Cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, tham gia các chiến dịch Biên Giới, Hoà Bình, Tây Bắc và chiến dịch Điện Biên Phủ.

Từ năm 1955 đến năm 1960, ông Phó cục trưởng rồi Cục trưởng Cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần. Năm 1961, ông học tại Học viện Quân sự Liên Xô. Từ năm 1962 đến năm 1965, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Từ năm 1965 đến năm 1970, ông là Phó chính uỷ rồi Chính uỷ Bộ Tư lệnh Đoàn 559. Từ năm 1970 đến tháng 5 năm 1976, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Từ tháng 6 năm 1976 đến tháng 2 năm 1977, ông là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Từ tháng 9 năm 1976 đến năm 1987, ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Ông là đại biểu Quốc hội khoá IV, khoá V, khoá VI.

Theo Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 10:58 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Le-Hai.jpg

Trung tướng Lê Hai (Lê Văn Hải, 1927), nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Thiếu tướng (1979), Trung tướng (1984)

Huân chương Độc lập hạng nhất; Hai Huân chương Quân công hạng nhất; Một Huân chương Quân công hạng ba; Huân chương Chiến công hạng nhất; Huân chương Chiến thắng hạng nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng; Huân chương Bảo vệ Tổ Quốc hạng nhất của Nhà nước Cam-pu-chia.

Ông quê ở xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Tháng 6 năm1945, ông là du kích tham gia đánh chiếm đồn huyện Chí Linh, Hải Dương. Trong Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia khởi nghĩa ở Hải Phòng. Trong kháng chiến chống Pháp, ông trưởng thành từ tiểu đội phó đến Trưởng ban Tuyên huấn Đại đoàn 320.

Từ năm 1956 đến năm 1960, ông là giáo viên, sau đó là Chủ nhiệm khoa rồi Phó Chủ nhiệm Hệ Giáo dục chính trị Học viện Quân chính. Tháng 9 năm 1964, ông là Phó Tổng biên tập rồi Tổng biên tập Tạp chí Quân đội Nhân dân (tháng 3 năm 1970).

Tháng 7 năm 1977, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Tháng 7 năm 1978, ông phụ trách cơ quan Tiền phương Tổng cục Chính trị trong chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến trường Căm pu chia. Tháng 2 năm 1979, ông kiêm thành viên cơ quan Tiền phương Bộ Quốc phòng. Tháng 3 năm 1981, ông là Phó Tư lệnh về Chính trị Quân tình nguyện Việt Nam tại Căm-pu-chia, Phó Bí thư rồi Bí thư Ban cán sự, Uỷ viên Ban lãnh đạo Chuyên gia Việt Nam tại Căm-pu-chia. Năm 1988, ông là Phó đại diện Bộ Quốc phòng Việt Nam giúp Căm-pu-chia.

Theo Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 11:08 PM
http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Dao-Dinh-Luyen.jpg

Thượng tướng Đào Đình Luyện (5/11/1929-3/8/1999), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Thiếu tướng (1977); Trung tướng (1983); Thượng tướng (1988).

Huân chương Độc lập hạng nhất; Huân chương Quân công hạng nhất, hạng nhì; Huân chương Chiến thắng chống Pháp hạng nhì; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huân chương Chiến công hạng nhì; Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, hạng nhì, hạng ba; Huy chương quân kỳ quyết thắng; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Ông quê ở xã Quỳnh Hội, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, tham gia hoạt động cách mạng tháng 3 năm 1945 tại địa phương. Tháng 8 năm 1945, ông vào bộ đội. Tháng 10 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Từ năm 1945 đến năm 1946, ông giữ các chức vụ: Phân đội phó, Chính trị viên trung đội Bộ đội địa phương tỉnh Thái Bình. Từ năm 1947 đến năm 1952, ông là Chính trị viên Đại đội 247, Chính trị viên Tiểu đoàn 11 Đại đoàn 308, Bí thư Đảng uỷ Tiểu đoàn. Tháng 3 năm 1953, ông là Phó chính uỷ rồi Chính uỷ Trung đoàn 141, Đại đoàn 312 sau đó là Phó chủ nhiệm chính trị rồi Tham mưu trưởng Đại đoàn 312.


Từ tháng 2 năm 1956 đến tháng 1 năm 1964, ông được cử đi đào tạo phi công lái máy bay ném bom, sau học lái máy bay tiêm kích tại Trung Quốc. Tháng 2 năm 1964, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn không quân tiêm kích 921. Tháng 4 năm 1966, ông là Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Không quân, Quân chủng Phòng không - Không quân. Tháng 5 năm 1967, ông là Phó tư lệnh, tháng 10 năm 1969, ông là Tư lệnh kiêm Chính uỷ Binh chủng Không quân, QCPKKQ. Tháng 3 năm 1974, ông là Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không- Không quân kiêm Tư lệnh và Chính uỷ Bộ tư lệnh Không quân, Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng Phòng không không quân. Tháng 8 năm 1974, ông học tại Học viên Không quân Liên Xô.

Tháng 5 năm 1977, ông là Tư lệnh kiêm Chính uỷ Quân chủng Không quân, Bí thư Đảng uỷ Quân chủng. Tháng 8 năm 1979, ông học bổ túc tại Trường Nguyễn ái Quốc. Tháng 1 năm 1981, ông làTư lệnh QCKQ. Tháng 8 năm 1982, ông học tại Học viện Vôlôisilốp Liên Xô. Tháng 12 năm 1983, ông là Tư lệnh QCKQ.

Tháng 3 năm 1986, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 4 năm 1989, ông được bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Uỷ viên thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương. Tháng 9 năm 1991, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 12 năm 1995, ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, thôi giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ông là đại biểu Quốc hội khoá VII, khoá VIII, khoá IX. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986), và lần thứ VII (6/1991), ông được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Tháng 9 năm 1996, nghỉ hưu. Tháng 12 năm 1997, ông được bầu làm Phó Chủ tịch Trung ương Hội cựu chiến binh Việt Nam.

Theo Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 11:10 PM
http://img521.imageshack.us/img521/5388/thieutuonghuynhhuuanhxd3.jpg

Thiếu tướng Huỳnh Hữu Anh (1921-1993), nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 5.

Thiếu tướng (1983)

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì...

Ông quê ở xã Cát Nhơn, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Nhập ngũ năm 1945, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1946.

Trong Kháng chiến chống Pháp ông trưởng thành từ cán bộ trung đội đến tiểu đoàn trưởng thuộc Bộ Tư lệnh Liên khu 5.

Trong Kháng chiến chống Mỹ: 1961 Tham mưu phó Quân khu 5, Từ tháng 9 năm 1965 đến năm 1974 là Sư đoàn phó rồi Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3.

Từ năm 1975 đến năm 1987 là Phó Tư lệnh Quân khu 5 kiêm Tư lệnh mặt trận 579 (7.1981).

huy thanh
29-06-2009, 11:12 PM
http://img100.imageshack.us/img100/1281/trungtuongnguyenanhdewm1.jpg

Trung tướng Nguyễn Anh Đệ (tên thật: Nguyễn Văn Tí; 1925-1985), nguyên Tư lệnh Binh chủng Đặc công, Đặc khu Quảng Ninh.

Huân chương Độc lập hạng Nhất; Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Nhì...

Trung tướng (1984)

Ông quê ở xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Tham gia Việt Minh từ năm 1942 ở Sơn Tây, Hà Nội, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1945.

Trong Kháng chiến chống Pháp (1946-1954): trưởng thành từ chiến sĩ đến trung đoàn trưởng.

Trong Kháng chiến chống Mỹ: Trưởng ban tác chiến Khu 3 sau là Quân khu Hữu ngạn (1955). 1963-1968, Tham mưu phó Quân khu Hữu ngạn, Tham mưu phó rồi Tham mưu trưởng Quân khu 3. Tháng 4.1969, Phó Tư lệnh Mặt trận B5 Quảng Trị. Từ tháng 4.1970 đến 1971, Tham mưu trưởng Quân khu 4; Tư lệnh Mặt trận B5; Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận B5 (sau khi mở rộng). 12.1972, Phó Tư lệnh Quân khu Hữu ngạn. 3.1974, Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng Tham mưu.

1.1977, Phó Tư lệnh Quân khu 3; Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 1. Tháng 4.1979, Tư lệnh Đặc khu Quảng Ninh. Tháng 5.1983, Tư lệnh Binh chủng Đặc công đến khi mất.

Theo Từ điển Quân sự Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 11:14 PM
http://img377.imageshack.us/img377/4172/tuongnguyenhoagn6.jpg

Trung tướng Nguyễn Hòa (1923-2000), nguyên 5 lần Trưởng đoàn Chuyên gia Quân sự Việt Nam tại Lào.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất...

Trung tướng (1989)

Ông quê ở xã Quảng Hòa, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, nhập ngũ năm 1945, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1947.

Trong Kháng chiến chống Pháp trưởng thành từ chiến sĩ đến trung đoàn trưởng, Chỉ huy trưởng Mặt trận Tây Lào.

Từ năm 1955 lần lượt giữ các chức vụ: Chính ủy Trung đoàn 83, Tham mưu trưởng Sư đoàn 335. Năm 1959, Tham mưu trưởng Đoàn 959. Từ năm 1963, 5 lần làm Trưởng đoàn Chuyên gia Quân sự Việt Nam tại Lào. Năm 1970, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh 959.

Tháng 6.1978, Phó Tư lệnh Binh đoàn 678. Ông là Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa 5 và 6.

Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam

Chú ý: Quân đội Nhân dân Việt Nam còn có 1 Trung tướng nữa tên là Nguyễn Hòa, tên thật là Trần Doanh, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 1, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục dầu khí.

huy thanh
29-06-2009, 11:16 PM
http://img369.imageshack.us/img369/1246/trungtuongdamvannguyqo1.jpg

Trung tướng Đàm Văn Ngụy (1928), Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân (1956) nguyên Tư lệnh Quân khu 1, Quân đoàn 26 Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Ba; Huân chương Chiến công hạng Nhì, hạng Ba...

Trung tướng (1984)

Tướng Đàm Văn Ngụy người dân tộc Tày, quê ở xã Minh Khai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Ông tham gia Cách mạng từ năm 1944, nhập ngũ năm 1945, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1947.

Trong Kháng chiến chống Pháp, ông chiến đấu ở Bắc Bộ, là cán bộ chỉ huy dũng cảm, mưu trí, lập công xuất sắc trong các trận Pò Mã (Thất Khê, 5.1945), Đồng Đăng (Lạng Sơn, 1946), Bố Củng (1947), Lũng Vài (1949), Nà Sản (1953). Năm 1953-1954, Chỉ huy Đại đội diệt nhiều toán phỉ ở biên giới Lào Việt.

Ông được tuyên dương danh hiệu anh hùng LLVT khi là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 196, Sư đoàn 316 vào năm 1956.

Trong Kháng chiến chống Mỹ ông trưởng thành từ Trung đoàn trưởng đến Sư đoàn trưởng, tham gia các chiến dịch ở Lào, Tây Nguyên góp phần giải phóng Cánh đồng Chum, Buôn Ma Thuột.

Năm 1979, ông là Tư lệnh Quân đoàn 26 rồi Tư lệnh Quân khu 1 (1987). Ông là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa 6 và 7. Đại biểu Quốc hội khóa 8 và 9.

Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 11:19 PM
http://img182.imageshack.us/img182/3340/trungtuonglelinhvz0.jpg

Trung tướng Lê Linh(tên thật: Nguyễn Trung Hoài, 1925-1998), nguyên Viện phó Học viện Quân sự cấp cao Bộ Quốc phòng, Chính ủy đầu tiên Quân đoàn 2 - tham gia chỉ huy Quân đoàn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất...

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1984)

Tướng Lê Linh quê ở xã Hải Bắc, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Ông tham gia Cách mạng năm 1944, hoạt động trong Đoàn thanh niên cứu quốc (4.1944). Năm 1945 nhập ngũ là tiểu đội trưởng tự vệ thành phố Hà Nội.

Trong Kháng chiến chống Pháp, ông trưởng thành từ chính trị viên trung đội đến chính ủy trung đoàn. Tháng 11.1955, ông là Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 4. Tháng 9.1959, Chính ủy Sư đoàn 308. Tháng 11.1964, ông là Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 3.

Trong Kháng chiến chống Mỹ: từ năm 1966-1970, chủ nhiệm chính trị mặt trận B3; Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Tây Bắc. Từ tháng 4.1970 đến 1973, ông giữ chức vụ Phó Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh 959, Phó Chính ủy rồi Chính ủy Mặt trận 31 Thượng Lào. Tháng 4.1974, ông là Chính ủy đầu tiên kiêm Bí thư đảng ủy Quân đoàn 2 mới thành lập, cùng quân đoàn tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Tháng 1.1981, ông là Viện phó Chính trị Học viện Quân sự cấp cao thực thuộc Bộ Quốc phòng.

Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam.

huy thanh
29-06-2009, 11:21 PM
http://img174.imageshack.us/img174/7594/thuongtuonglequanghoapb4.jpg


Thượng tướng Lê Quang Hòa (tên thật Lê Thành Kim, 1914-1993), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng thanh tra Quân đội, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Chính ủy đầu tiên Quân đoàn 1, Chính ủy Cánh quân Duyên hải rồi cánh quân Đông trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Trung tướng (1974), Thượng tướng (1986).

Huân chương Hồ Chí Minh, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất...

Ông quê ở xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Tham gia cách mạng từ năm 1938, hoạt động trong Đoàn thanh niên dân chủ Hà Nội, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) năm 1939. Tháng 12.1939, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 5 năm tù và đi đày ở nhà tù Sơn La. Tháng 3.1945, vượt ngục trở về hoạt động tại Sơn Tây, là thành viên Ban cán sự tỉnh. Trong cách mạng tháng 8, ông tham gia lãnh đạo, tổ chức giành chính quyền ở Sơn Tây.

Từ tháng 11.1945 đến 1949, ông là Chính trị ủy viên Chiến khu 3, Bí thư Quân khu ủy, Ủy viên thường vụ Liên khu ủy. 1949, ông là Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Mặt trận Trung Du. 1950-1955, Cục phó rồi Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng tham mưu.

1955-1956, Hiệu trưởng kiêm Chính ủy Trường văn hóa Quân đội kiêm Cục trưởng Cục văn hóa. 1957-1960, Chính ủy kiêm Bí thư đảng ủy Trường sĩ quan Lục quân. 1960-1963, Chính ủy Bộ Tư lệnh Pháo Binh.

Từ 1963-1967, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. 1967-1973, Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu 4. Năm 1973, Trưởng đoàn Quân sự miền Bắc trong Ban liên hiệp Quân sự 4 bên. 1973, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị kiêm Bí thư Đảng ủy, Chính ủy đầu tiên Quân đoàn 1.

Năm 1975, Phái viên của Ban thường vụ Quân ủy Trung ương ở Huế; Phó Chính ủy Ủy viên thường trực Quân ủy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Phó Chính ủy Chiến dịch Hồ Chí Minh, trực tiếp tham gia lãnh đạo cánh quân Duyên Hải rồi cánh quân phía Đông.

Năm 1976, ông tiếp tục giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng Cục Hậu cần. 1977 Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 4. Năm 1980, Thứ trưởng Bộ quốc phòng kiêm Tổng thanh tra Quân đội. Ngoài ra ông là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 4.

Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam.

huy thanh
29-06-2009, 11:25 PM
http://img509.imageshack.us/img509/246/thieutuongdangngocgiaosf2.jpg

Thiếu tướng Đặng Ngọc Giao (tên thật: Đặng Văn Giáo; 1929-1999), nguyên Giám đốc kiêm Bí thư Đảng ủy Học viện Hậu cần.

Thiếu tướng (1989), Nhà giáo Nhân dân (1997), Giáo sư (1991), Tiến sĩ (1981)

Huân chương: Quân công hạng Nhì, 2 Chiến công hạng Ba, Kháng chiến (hạng Nhất, hạng Ba)...

Ông quê ở xã Lý Thường Kiệt, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, nhập ngũ năm 1946, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1947.

Từ năm 1946 đến 1950 ông lần lượt giữ các chức vụ: quản lí đại đội, chính trị viên trung đội, cán bộ địch vận tỉnh Thái Bình. 1950-1958, chính trị viên đại đội quân y, chính trị viên phó tiểu đoàn, phụ trách chính trị viên Ban hậu cần Trung đoàn 64, Trưởng Ban Giao tế Đoàn Pháo binh 305, quản trị trưởng Trường sĩ quan Pháo binh.

Từ năm 1958 đến 1967, giảng viên Hậu cần Trường trung cao Quân sự. 1967-1981, Trưởng phòng nghiên cứu biên soạn Trường sĩ quan Hậu cần, Trưởng đoàn đi thực tế ở Chiến trường Trị Thiên Huế (1968) và Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975).

Tháng 10.1981, Phó Giám đốc Học viện Hậu cần. 1.1985, Phó Cục trưởng Cục hậu cần Quân khu 1. Tháng 4.1986, Phó Giám đốc, 7.1988-1996, Giám đốc kiêm Bí Thư Đảng ủy Học viện Hậu cần.

Ông là chủ biên của 10 công trình khoa học cấp Học viện và Bộ Quốc phòng như: "Lí luận Hậu cần cấp chiến thuật", "Lí luận hậu cần cấp chiến dịch"...

Theo Bách khoa Quân sự Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 11:27 PM
http://img150.imageshack.us/img150/7706/tuonglethetrungac1.jpg

Thiếu tướng Lê Thế Trung (5.4.1928), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (1978), nguyên Giám đốc Học viện Quân y.

Thiếu tướng (1988), Phó Giáo sư (1981), Giáo sư (1984), Tiến sĩ (1975 tại Liên Xô), Tiến sĩ Khoa học (1986 tại Liên Xô), Tiến sĩ Khoa học các nền Y học cổ truyền (Côlômbô) năm 1995. Ông được phong Thầy thuốc Nhân dân.

Huân chương Quân công hạng nhì; Huân chương Chiến thắng hạng hai; Hai Huân chương Chiến công hạng nhất, hạng nhì; Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng; Giải thưởng Nhà nước Vì khoa học công nghệ; Được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Huy hiệu của năm 1969.

Ông quê ở xã Lĩnh Nam, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, tham gia cách mạng ngày 15 tháng 8 năm 1945, tham gia khởi nghĩa cướp Chính quyền tại Hà Nội. Tháng 4 năm 1946, ông nhập ngũ học lớp Y tá của Cục Quân y. Từ tháng 7 năm 1946 đến tháng 2 năm 1949, ông là Y tá Đại đội thuộc Trung đoàn 148 Sơn La. Từ tháng 3 năm 1949 đến tháng 2 năm 1951, ông học Trường Quân Y sỹ Việt Bắc. Từ tháng 3 năm 1951 đến tháng 10 năm 1954, ông là Trưởng Ban Quân y Trung đoàn 209, Sư đoàn 312.

Từ tháng 10 năm 1955 đến tháng 2 năm 1956, ông là Chủ nhiệm Quân y Trung đoàn 254, 53, Sư đoàn 350. Từ tháng 3 năm 1956 đến tháng 4 năm 1957, ông học lớp Y sỹ cao cấp Trường Sỹ quan Quân y. Từ tháng 5 năm 1957 đến tháng 11 năm 1958, ông là Phó Chủ nhiệm Quân y Quân khu Tây Bắc, Viện trưởng Viện Quân y 6. Từ tháng 12 năm 1958 đến tháng 7 năm 1961, ông là bác sỹ khoa ngoại giã chiến Viện Quân y 103.

Từ tháng 8 năm 1961 đến tháng 8 năm 1964, ông thực tập sinh tại Liên Xô. Từ tháng 9 năm 1964 đến tháng 7 năm 1965, ông là Chủ nhiệm Khoa ngoại Viện Quân y 103. Từ tháng 8 năm 1965 đến tháng 2 năm 1966, ông công tác tại chiến trường Quân khu 5. Từ tháng 3 năm 1966 đến tháng 12 năm 1967, ông là Viện phó Viện Quân y 103. Từ tháng 1 năm 1968 đến tháng 5 năm 1968, ông là Trưởng đoàn Quân y đi phục vụ chiến dịch Khe Sanh. Từ tháng 6 năm 1968 đến tháng 6 năm 1972, ông là Phó Viện trưởng Viện Quân y 103. Từ tháng 7 năm 1972 đến tháng 6 năm 1975, ông làm nghiên cứu sinh tại Liên Xô.

Từ tháng 7 năm 1975 đến tháng 6 năm 1978, ông là Phó Viện trưởng Viện Quân y 103. Từ tháng 7 năm 1978 đến tháng 5 năm 1979, ông học tại Trường Nguyễn Ái Quốc. Từ tháng 6 năm 1979 đến tháng 11 năm 1982, ông là Phó Viện trưởng Học viện Quân y, kiêm Viện trưởng Viện Quân y 103. Từ tháng 11 năm 1984 đến tháng 2 năm 1986, ông thực tập sinh, làm tiến sỹ ở Liên Xô.

Từ tháng 3 năm 1986 đến tháng 7 năm 1986, ông là Phó Viện trưởng Học viện Quân y. Từ tháng 8 năm 1986 đến tháng 5 năm 1988, ông là Viện trưởng Học viện Quân y. Từ tháng 8 năm 1991 đến năm 1995, ông là Giám đốc Học viện Quân y, kiêm Biện trưởng Viện Bỏng lê Hữu Trác, là người sáng lập Viện Bỏng Quốc gia. Từ tháng 10 năm 1995 đến tháng 5 năm 2003, ông là Chuyên viên Học Viện Quân y, Viện Bỏng Lương Hữu Trác.

Ông là chuyên viên, Chủ tịch Hội đồng ghép tạng, Hội đồng Y học thảm họa bỏng. Tháng 6 năm 2003, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu.

Hiện nay, ông là Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam, Phó chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, Chủ tịch Hội Ung thư Hà Nội, Ủy viên Thường vụ Tổng hội Y dược học Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Cựu Chiến binh Việt Nam, Ủy viên Thường vụ Hội Ngoại khoa Việt Nam, Tổng biên tập Tạp chí Y học thảm họa bỏng.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhiều lần ông đi chiến trường mổ cứu sống hàng trăm trường hợp vết thương hiểm nghèo, hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị cứu chữa thành công cho 80 thương binh bị suy mòn do bỏng gây ra. Ông là tác giả hơn 50 đề tài nghiên cứu y học có giá trị, phổ biến kịp thời phục vụ chiến đấu, giảm tỷ lệ tử vong.

Ông đào tạo và bồi dưỡng 32 bác sỹ có trình độ chuyên sâu về bỏng và xây dựng chuyên khoa bỏng ở tuyến điều trị cao nhất của quân đội. Ông đã nghiên cứu 50 loại cây thuốc chữa bỏng có giá trị, đặc biệt là thuốc chữa bỏng B76, được tặng thưởng huy chương trong nước và quốc tế. Ông đã hướng dẫn trên 20 luận án tiến sỹ, là Chủ tịch Hội đồng chấm luận án tiến sỹ, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu các công trình khoa học và là tác giả của 40 đầu sách chuyên khoa và giáo khoa (có 2 đầu sách xuất bản bằng tiếng Anh, tiếng Pháp); là đồng tác giả của 110 đầu sách khoa học, là tác giả của 75 báo cáo khoa học đã được đăng trong các tạp chí trong nước và nước ngoài, là Chủ nhiệm 6 đề tài khoa học cấp bộ, 3 đề tài khoa học cấp nhà nước, được bằng sáng chế độc quyền 15 năm về công trình thuốc Phêlamin, đã báo cáo khoa học 12 lần ở nước ngoài và 6 lần ở Hội nghị quốc tế và trong nước. Đã 7 lần là Chủ trì Tổ chức Hội nghị quốc tế trong nước. Được Hội đồng quốc tế công nhận là chuyên viên quốc tế; được tổ chức Y tế thế giới và khu vực mời 3 lần làm tư vấn khoa học trong các hội thảo quốc tế; Tổ chức và chỉ đạo thực hiện những ca ghép thận đầu tiên và trong 10 năm từ năm 1992 đến năm 2003, đã tham gia hàng trăm ca ghép thận và mới đay tham gia ghép gan thành công.

Theo Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

huy thanh
29-06-2009, 11:29 PM
http://img353.imageshack.us/img353/2995/thieutuongvodonggiangft5.jpg

Thiếu tướng Võ Đông Giang (tên thật: Phan Bá; 1923-1/2/1988), nguyên Phó trưởng đoàn quân Giải phóng miền Nam tại Ban liên hiệp quân sự 4 bên và 2 bên ở Tân Sơn Nhất (05/1965 - 05/1975); Trưởng đoàn Đại diện Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Ban liên hiệp Tây Nguyên, cán bộ nghiên cứu Ban thi hành Hiệp định đình chiến Trung ương.

Huân chương Độc lập hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất; Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất và hạng Nhì; Huy chương "Vì Sự nghiệp Ngoại giao Việt Nam"; Huân chương Hữu nghị của các nước Liên Xô (cũ), Lào, Cuba, Tiệp Khắc; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Ông quê ở xã An Hiệp, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Từ 3.1945 đến 6.1947, hoạt động Việt Minh ở Gia Lai, Uỷ viên BCH Việt Minh tỉnh Gia Lai, Phó Chủ tịch UBHC tỉnh Gia Lai. Từ 07/1947 đến 1949, Tỉnh uỷ viên lâm thời, Bí thư Tỉnh uỷ lâm thời tỉnh Gia Lai. Ông là Uỷ viên Ban tuyên huấn, Phó Văn phòng Liên khu uỷ Liên khu 5, Phó Bí thư Ban cán sự Đảng tỉnh Gia Lai-Kon Tum, Trưởng ban chính trị Trung đoàn 120 (1950-1954).

Từ 7.1954 đến 1957, ông là Trưởng đoàn Đại diện Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Ban liên hiệp Tây Nguyên, cán bộ nghiên cứu Ban thi hành Hiệp định đình chiến Trung ương. 1958-1963, Trưởng phòng rồi Phó vụ trưởng Ban Thống nhất Trung ương. Từ 07/1963 - 04/1965, ông là Trưởng đoàn Đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Cu-ba. Từ 05/1965 đến 05/1975 là Vụ trưởng Ban thống nhất Trung ương, Uỷ viên Ban cán sự CP 72, Phó trưởng đoàn quân Giải phóng miền Nam tại Ban liên hiệp quân sự 4 bên và 2 bên ở Tân Sơn Nhất.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông là Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (08/1976 - 12/1977); Thứ trưởng Bộ Ngoại giao (12/1977- 04/1983); Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước CHXHCN Việt Nam tại Cộng hoà Nhân dân Căm-pu-chia (03/1979 - 11/1979); Bộ trưởng tại Bộ Ngoại giao (04/1983)với vai trò Ủy viên Ban cán sự Đảng Bộ Ngoại giao, Ủy viên Ban cán sự Đảng ở nước ngoài; Chủ tịch Uỷ ban quốc gia UNESCO của Việt Nam (07/1981 -05/1987)

Sau khi thôi giữ chức Bộ trưởng ở Bộ Ngoại giao, ông là Bộ trưởng - Chủ nhiệm Uỷ ban Quan hệ Kinh tế với nước ngoài (03/1987 - 03/1989) rồi Bộ trưởng - Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư (1989 - 1993).

huy thanh
29-06-2009, 11:31 PM
Ông quê nội thuộc huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc tỉnh Bình Dương), nhưng ông được sinh ra ở quê ngoại, ấp Xóm Trầu, xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa (nay là Đồng Nai).

Từ một học sinh đậu Thành Chung - Trường Tây, làm kế toán, thư ký kho bạc ở Chợ Lớn và Biên Hòa, ông giác ngộ cách mạng, tham gia giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945 ở Bà Rịa; sau đó ông là Ủy viên quân sự huyện Long Thành.

Trong Kháng chiến chống Pháp, ông lần lượt giữ các chức vụ: đại đội trưởng Chi đội 10, Trung đoàn phó Tham mưu trưởng Trung đoàn 397, Tiểu đoàn 300 tỉnh Bà Chợ, những đơn vị đã làm nên những trận đánh nổi tiếng trong kháng chiến chống Pháp như Trảng Tảo, Bảo Chánh, Bàu Cá, La Ngà, diệt Chi khu Cần Giờ…

Thời kỳ 1955-1960, Thiếu tướng Lương Văn Nho là Chủ nhiệm pháo binh Quân khu Hữu Ngạn, sau đó về miền Nam là phó tư lệnh Đoàn pháo binh U80 rồi Chủ nhiệm Pháo binh miền Ngày 31-10-1964, ông trực tiếp tổ chức và chỉ huy các phân đội pháo kích vào sân bay Biên Hòa của quân Mỹ. Kết quả ta diệt và làm bị thương hàng trăm tên Mỹ hầu hết là giặc lái và nhân viên kỹ thuật, phá hủy 59 máy bay trong đó có 21 chiếc máy bay B57 Mỹ mới đưa vào miền Nam, làm nổ 2 kho đạn lớn, làm sập 1 đài quan sát và 18 căn trại.

Là Tư lệnh Đặc khu Rừng Sác với uy danh Đoàn 10 đặc công lập nên những kỳ tích: Chặn sông Lòng Tàu, đánh tàu địch, tập kích kho xăng Nhà Bè, kiểm soát con đường thủy huyết mạch nối Sài Gòn với Biển Đông…

Sau khi tham gia Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, với cương vị Tư lệnh Phân khu 4, tiến công vào Sài Gòn từ hướng đông, ông giữ chức Tư lệnh Quân khu 7 vừa thành lập lại, sau đó ông về Tây Ninh làm Phó tham mưu trưởng Miền, trực tiếp chỉ huy Đoàn 370, Khu C20, Khu C50, góp phần tích cực xây dựng căn cứ địa bắc Tây Ninh; phụ trách Đoàn 315 thi hành Hiệp định Pa-ri tại B2 và cùng Cục Tham mưu Miền làm tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ cho đến ngày toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975.

Chiến tranh kết thúc, Bộ Chỉ huy Miền giải thể, ông về làm Phó tư lệnh Quân khu 7, chỉ đạo, tổ chức ngành lịch sử quân sự B2 và Quân khu 7… một “mặt trận” mới với không ít thử thách, khó khăn. Nhưng với kinh nghiệm của một cán bộ dạn dày trận mạc, với tình cảm thủy chung sâu nặng với quê hương, ý thức tôn trọng lịch sử, đồng cảm, chia sẻ với những hy sinh, mất mát của đồng bào, đồng chí trong chiến tranh, dưới sự chỉ đạo của ông, nhiều công trình, nhiều chuyên đề tổng kết chiến tranh có giá trị thuộc B2, như “Chiến khu Rừng Sác”, “Chiến khu Đ”, “Miền Đông Nam Bộ kháng chiến”… đã được tổ chức sưu tầm tư liệu, sơ thảo, được các thế hệ cán bộ tiếp nối của ngành lịch sử Quân khu 7 hoàn chỉnh, xuất bản.

Ps: ai có ảnh tướng Lương Văn Nho thì chia sẻ cùng mọi người nhé!

huy thanh
29-06-2009, 11:33 PM
Thiếu tướng Cao Pha (?-2006), nguyên Viện phó Viện lịch sử Quân sự Việt Nam trực thuộc Bộ Quốc phòng; Cục phó Cục Quân báo kiêm Phó Tư lệnh Binh chủng Đặc công (khi mới thành lập).

Thiếu tướng Cao Pha tên thật là Nguyễn Thế Lương quê ở xã Điện Hòa, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Bố của ông, ông Nguyễn Hoàng, vốn làm nghề thầu khóan các công trình xây dựng khắp ba nước Đông Dương, cho nên ông từng theo cha ông sinh sống ở nhiều nơi.

Thuở nhỏ ông theo học ở Phnôm Pênh nơi bố ông cai thầu xây dựng đường (nghề lục lộ). Khi bố ông chuyển về Nha Trang nhận cai thầu xây dựng tuyến đường sắt thì ông theo học ở trường Quốc học Huế. Học xong tú tài, ông ra Hà Nội và được học bổng của trường Nông Lâm.

Là một thanh niên yêu nước, tại Hà Nội, ông tích cực tham gia các phong trào của Tổng hội sinh viên, Hội truyền bá quốc ngữ.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp, tháng 3 năm 1945, ông cùng một đoàn sinh viên vào Huế rồi vào học trong Trường thanh niên tiền tuyến và hoạt động trong tổ chức Việt Minh của trường.

Ngày 19/8, khởi nghĩa giành chính quyền thành công tại Hà Nội, ngày 21/8 ông cùng các ông Đặng Văn Việt và Nguyễn Kèn được cử đi hạ cờ quẻ ly của Bảo Đại và treo cờ đỏ sao vàng lên cột cờ trước cồng Ngọ Môn Huế rồi đi cùng đoàn đưa Vĩnh Thụy (tên thật của Bảo Đại) ra Hà Nội do Bộ trưởng Lê Văn Hiến làm trưởng đoàn.

Quay trở về Huế, ông nhận nhiệm vụ Trưởng ban tình báo Thừa Thiên Huế, Trưởng ban tình báo Phân khu Trị Thiên Huế rồi Trưởng ban tình báo Khu 4. Sau đó, ông được điều ra Hà Nội lên Sơn Pháp làm cán bộ huấn luyện cho trường Võ bị Trần Quốc Tuấn khóa 1.

Sau ngày toàn quốc kháng chiến (12/1946), ông được điều làm Tiểu đoàn trưởng tham gia chiến đấu tại Sơn La. Theo yêu cầu của công việc, trong thời gian chiến đấu ở Sơn La ông đổi tên thành Cao Pha (tên một ngọn núi ca giáp ranh giữa Sơn La và Lai Châu) và được cử làm Trưởng ban Quân báo trong Chiến dịch Biên giới 1950. Cũng trong chiến dịch Biên giới, ông nhận nhiệm vụ từ Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp chọn địa điểm và tháp tùng Bác trực tiếp đi thị sát trận địa ở gần sở chỉ huy Nà Lạng.

Sau Chiến dịch Biên giới, ông tiếp tục phụ trách quân báo trong các chiến dịch quan trọng khác như : Trung du, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Hòa Bình, Pháp Bắc, Thượng Lào và đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ (mật danh Trần Đình).
Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông được cử đi học tập tại Liên Xô. Về nước, giữa năm 1966 chủ tịch Hồ Chí Minh và quân uỷ trung ương đề cập tới vấn đề thành lập binh chủng đặc công. Cuối năm 1966 Cao Pha và ông Nguyễn Cụ (cán bộ đặc công miền Nam cử ra) được chỉ thị đến gặp chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo tình hình xây dựng lực lượng và hoạt động chiến đấu của bộ đội đặc công trên các chiến trường miền Nam.

Sau đó tháng 2-1967 Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập binh chủng Đặc công. Ngày 19-3-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Đảng và Chính phủ đến thăm bộ đội đặc công, công nhận bộ đội Đặc công chính thức là một binh chủng của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Thượng tá Cao Pha được quyết định là Phó tư lệnh binh chủng đặc công đồng thời vẫn ở cương vị Cục phó Cục Tình báo nên có thuận lợi nắm chắc tình hình địch trên